Tôi là nữ, độc thân, năm nay 27 tuổi. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi làm việc ở Việt Nam 3 năm với mức lương 10-14 triệu đồng một tháng (mới tốt nghiệp 10 triệu đồng và tăng dần lên 14 triệu đồng).
Vì yêu thích văn hóa Nhật, tôi quyết định sang Nhật vào năm 25 tuổi. Hiện tôi đang làm việc ở Nhật diện visa kỹ sư, trình độ tiếng Nhật N2. Mức lương hiện tại ở Nhật sau khi trừ các chi phí sinh hoạt, quần áo, mỹ phẩm, thỉnh thoảng du lịch trải nghiệm… thì tôi để dành được khoảng 25-30 triệu đồng một tháng.
Gần đây, mỗi lần gọi điện về nhà, ba mẹ tôi không thúc ép nhưng thường xuyên bày tỏ mong muốn tôi về Việt Nam. Gia đình tôi đang sinh sống tại TP HCM, tôi có đứa em gái đang học đại học, ba mẹ đều đang có việc làm.
Khi còn ở Việt Nam, tôi chỉ phụ một khoản tiền chợ và đảm nhiệm việc nấu nướng cho cả nhà. Từ khi sang Nhật tôi cũng không gửi tiền về nhà hàng tháng, chỉ thỉnh thoảng gửi về đồ dùng, thực phẩm chức năng cho cả nhà dùng, đôi khi lì xì ba mẹ dịp sinh nhật.
Ba mẹ tôi có bốn căn nhà là tài sản ba mẹ gây dựng được, một căn đang ở và ba căn nhà cho thuê, tổng thu nhập từ tiền thuê nhà khoảng 20 triệu đồng một tháng.
Năm ngoái, sau khi bà ngoại tôi mất, mẹ tôi có chia sẻ là mẹ nhận được 3 tỷ đồng thừa kế. Mẹ bày tỏ mong muốn tôi trở về Việt Nam vì lo tôi ở bên này vất vả, áp lực. Mẹ nói nếu tôi thích Nhật thì đi trải nghiệm tầm 3 năm thôi rồi về tìm công việc gần nhà, làm việc gì nhẹ nhàng thôi cũng được.
Tôi vốn thích nấu ăn, mẹ động viên tôi về rồi sau này nếu thích thì mẹ cho tiền mở tiệm. Ba mẹ tôi không hối thúc tôi lập gia đình, vì ba mẹ hiểu tôi từng chia tay một mối tình sâu đậm, mất nhiều thời gian để vượt qua và hiện tại chưa có duyên đến với ai.
Trước đây tôi nói với gia đình là tôi đi Nhật trải nghiệm, học hỏi một thời gian. Bây giờ ở Nhật được hai năm, hiện tôi đang khá thích cuộc sống ở đây. Công việc áp lực nhưng tôi học hỏi được rất nhiều điều, có thêm nhiều trải nghiệm, còn để dành được nhiều hơn hẳn.
Tính cách tôi hướng nội, làm việc tỉ mỉ, hay chú ý tiểu tiết nên lại cảm thấy thích hợp với văn hóa làm việc cũng như cuộc sống ở Nhật hơn là ở Việt Nam. Tôi cảm thấy chuyên môn của tôi làm việc ở Nhật tốt hơn và có cơ hội phát triển bản thân hơn, không như trước đây tôi làm ở Việt Nam tuy cũng từng làm qua công ty lớn nhưng cách làm việc toàn là kiểu đối phó, đồng nghiệp thì toàn tìm cách dìm hàng lẫn nhau.
Với visa kỹ sư, tôi có thể lựa chọn ở Nhật lâu dài nếu muốn. Tôi cũng có vài dự định ở Nhật, ví dụ như học thêm các chứng chỉ chuyên môn trong công việc, học tiếng Nhật lên N1, lấy bằng lái xe hơi. Tôi muốn phấn đấu vì sau này tôi cũng sẽ tự gây dựng được tài sản, nhà cửa giống ba mẹ tôi, và nếu còn được may mắn, cuộc sống dư dả không có biến động gì thì tôi sẽ mở bếp ăn từ thiện.
Tôi đang nghĩ mỗi năm về nhà ăn Tết một lần chứ nếu nói về Việt Nam hẳn thì tôi đang rất băn khoăn. Tôi cũng có lúc nhớ nhà, cũng muốn ở gần ba mẹ và em gái, lúc rảnh thì đi cà phê với bạn bè.
Tuy nhìn chung tôi vẫn thích Nhật nhưng ở đâu cũng có mặt trái của nó. Đôi lúc stress, áp lực chỉ dám khóc một mình vì dù sao chính tôi đã nhất quyết lựa chọn con đường này. Gần đây do phải liên tục tăng ca, tôi toàn ăn uống qua loa cho qua bữa, dẫn đến mắc chứng thiếu máu, tôi cũng không dám chia sẻ với ai. Về sự nghiệp lâu dài, ở Nhật ổn về thu nhập nhưng khá khó để thăng tiến lên cấp quản lý.
Nếu về Việt Nam thì tôi ước tính mức lương tôi ở tầm 15-20 đồng một tháng, dựa vào các mối quan hệ cũ, cộng thêm tiếng Nhật, tôi nghĩ sẽ không quá khó để tìm việc khi quay về và cũng có hy vọng thăng tiến hơn. Tôi chỉ mới có dự định phát triển ở môi trường doanh nghiệp, chưa có ý định kinh doanh lúc này vì cảm thấy bản thân còn nhiều thứ phải học hỏi.
Tôi nghe ba mẹ nói muốn tôi về thì tôi thương ba mẹ, và cũng hiểu rằng bản thân tôi nên đưa ra quyết định sớm để xác định hướng đi và lên kế hoạch cho tương lai. Mong các cô chú, anh chị, bạn độc giả cho tôi lời khuyên. Tôi xin cảm ơn.
Đọc bài viết "Tôi hối hận vì tuổi 60 sức cùng lực kiệt mới dám nghỉ hưu" tôi hiểu đó là tâm trạng của rất nhiều người, trong đó có cả những người thân quen quanh mình. Họ làm việc gần như cả đời, đến khi có thời gian nghỉ ngơi thì sức khỏe đã đi xuống, con cái trưởng thành, nhiều khoảnh khắc đẹp của cuộc sống cũng đã lặng lẽ trôi qua.
Nhưng tôi cho rằng điều đáng tiếc không hẳn nằm ở việc làm việc quá lâu, mà ở cách chúng ta sống trong suốt quãng thời gian ấy. Tôi chưa bao giờ tin có một độ tuổi cố định gọi là "tuổi để sống", cũng không nghĩ nghỉ hưu đồng nghĩa với việc dừng lại mọi giá trị của bản thân. Một người có thể rời công sở, nhưng không nhất thiết phải rời bỏ niềm vui cống hiến hay cảm giác mình vẫn hữu ích.
Tôi từng rất ấn tượng với những người lớn tuổi vẫn làm việc đầy năng lượng. Nguyễn Hiến Lê gần như viết và dịch sách đến cuối đời. Giáo sư Võ Tòng Xuân ngoài 80 tuổi vẫn đau đáu với giáo dục và nông nghiệp. Trên thế giới, Warren Buffett hay Haruki Murakami vẫn lao động trí tuệ bền bỉ ở độ tuổi mà nhiều người chỉ nghĩ đến nghỉ ngơi...
Điểm chung ở họ là không xem công việc như một cực hình để chờ ngày giải thoát. Làm việc với họ là một phần tự nhiên của đời sống, không phải gánh nặng phải chịu đựng. Vì vậy, tôi nghĩ sẽ rất nguy hiểm nếu xã hội đi đến kết luận rằng làm việc chăm chỉ là nguyên nhân dẫn đến bất hạnh tuổi già. Một đất nước khó phát triển nếu ai cũng chỉ mong nghỉ sớm. Những thế hệ đi trước đã xây dựng xã hội bằng tinh thần trách nhiệm, tận tụy và rất nhiều hy sinh.
>> Tôi làm ngân hàng lương 20 triệu nhưng 8 giờ tối mới được về nhà
Theo tôi, điều cần nhìn lại là lối sống cực đoan mà nhiều người đang mặc nhiên chấp nhận: xem kiệt sức là thành tích, xem thức khuya triền miên là nỗ lực, xem bỏ bê gia đình là biểu hiện của trách nhiệm.
Có giai đoạn tôi cũng từng nghĩ cố thêm vài năm nữa, đạt thêm một mục tiêu nữa, rồi sẽ dành thời gian cho bản thân. Nhưng càng trưởng thành, tôi càng nhận ra một người phải học được cách cân bằng ngay trong hiện tại. Không ai cấm chúng ta làm việc nghiêm túc mà vẫn chăm sóc sức khỏe. Không ai ngăn một người cha hoàn thành công việc nhưng vẫn ăn cơm cùng con cái. Cũng không ai bắt con người phải đợi đến khi đổ bệnh mới biết quý trọng giấc ngủ hay một buổi đi bộ.
Sai lầm của nhiều người là đánh mất khả năng cảm nhận cuộc sống trong lúc đang sống. Có những người thu nhập không quá cao nhưng tối nào cũng tập thể dục, cuối tuần dành thời gian cho gia đình, vẫn giữ được bạn bè và sự bình an trong tâm trí. Đến tuổi già, họ có thể không quá giàu nhưng đời sống tinh thần đầy đặn. Ngược lại, cũng có người sở hữu nhà cửa, tiền tiết kiệm nhưng tâm hồn trống rỗng vì cả đời chỉ biết chạy theo mục tiêu vật chất. Đó là tâm lý trì hoãn hạnh phúc.
Rất nhiều người, kể cả người trẻ, luôn tự nhủ: "Ráng thêm vài năm nữa thôi". Ráng kiếm đủ tiền rồi mới tận hưởng cuộc sống. Ráng lên chức rồi mới nghỉ ngơi. Ráng mua được nhà rồi mới thấy mình hạnh phúc. Nhưng nếu hôm nay chúng ta còn không biết tận hưởng một bữa cơm gia đình, một buổi sáng khỏe mạnh hay một cuộc trò chuyện tử tế với người thân, thì chưa chắc đến tuổi nghỉ hưu đã biết sống hạnh phúc.
Hạnh phúc không phải phần thưởng đặt ở cuối con đường. Nó phải là cảm giác hiện diện trong từng ngày sống. Một người có thể rất bận nhưng vẫn hạnh phúc. Một người có thể làm việc cường độ cao nhưng vẫn khỏe mạnh nếu biết giữ cân bằng thể chất và tinh thần. Và một người chưa nghỉ hưu vẫn có thể an nhiên nếu mỗi ngày đều sống có ý nghĩa.
Điều xã hội cần, theo tôi, không phải là cổ vũ nghỉ ngơi càng sớm càng tốt, mà là xây dựng một lối sống lành mạnh hơn: làm việc hiệu quả thay vì làm đến kiệt sức; tôn trọng thời gian dành cho gia đình; chăm sóc sức khỏe như một trách nhiệm; không thần thánh hóa sự bận rộn và cũng không lấy hy sinh bản thân làm thước đo thành công.
Một người biết nghỉ đúng lúc trong mỗi ngày sẽ không cần chờ đến tuổi 60 mới bắt đầu sống. Vì cuối cùng, điều chúng ta cần không phải là một ngày nào đó mới được hạnh phúc, mà là sống trọn vẹn ngay từ hôm nay - khỏe mạnh hơn, cân bằng hơn, có ích hơn và bình an hơn trong từng khoảnh khắc của cuộc đời.
Một người bạn của tôi đã quyết định dọn về quê, gom góp số tiền vài tỷ đồng tích góp trong hơn chục năm làm việc ở thành phố để làm một homestay nhỏ. Lý do rất đơn giản: Không chịu nổi giá nhà và nhịp sống ngột ngạt nơi đô thị.
Lý do khác quan trọng và có vẻ lo xa hơn: Về quê đầu tư để có đồng ra đồng vào, chứ gom hết tiền và đi vay thêm để mua nhà thành phố, sau này về già vẫn phải kiếm gì đó làm thêm để có thu nhập.
Sau mấy chục năm sống ở thành phố, hành lý của anh vẫn gọn gàng đến lạ vì cái gì cho được đã cho, cái gì bán được đã bán, nhà thuê thì trả chủ. Nhưng sâu xa hơn, đó là cảm giác không thuộc về nơi này, dù đã ở hơn chục năm, có nhiều kỷ niệm vui buồn.
Từ câu chuyện đó, tôi cho rằng việc ở thuê, ít nhất trong bối cảnh Việt Nam hiện nay không phải là một lựa chọn bền vững. Không chỉ là vấn đề tâm lý an cư lạc nghiệp vốn ăn sâu trong văn hóa, mà còn bởi thị trường cho thuê của chúng ta chưa thực sự phát triển đúng nghĩa, thiếu ổn định, thiếu bảo vệ người thuê, và thiếu cả những sản phẩm phù hợp với đại đa số người lao động.
Trong khi đó, giá nhà thì vẫn tiếp tục leo thang. Dữ liệu gần đây cho thấy giá căn hộ tại TP.HCM đã lên đến trung bình hơn 97 triệu đồng một m2, riêng khu trung tâm vượt 100 triệu đồng m2. Ở thị trường thứ cấp, con số trung bình cũng đã chạm ngưỡng khoảng 69 triệu đồng một m2, trong khi nhu cầu tìm mua lại tăng mạnh.
Tôi thấy có một lập luận thường được đưa ra: Nếu không mua được nhà thì thuê cũng không sao. Lập luận này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng thực chất chỉ đúng với một nhóm nhỏ. Người có thu nhập cao, tài chính dư dả, có thể thuê để linh hoạt cho công việc. Sinh viên hay người lao động ngắn hạn cũng vậy, thuê nhà là lựa chọn phù hợp.
Nhưng còn đại đa số người lao động làm việc lâu dài tại thành phố thì sao?
Họ không thể sống mãi trong trạng thái tạm bợ. Một gia đình không thể xây dựng cuộc sống ổn định nếu cứ vài năm lại chuyển nhà, đối mặt với nguy cơ tăng giá thuê hoặc bị chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào. Nói cách khác, thuê nhà không phải là một giải pháp thay thế, mà chỉ là một giải pháp tình thế.
Vấn đề nằm ở chỗ phân khúc nhà ở phù hợp với họ gần như biến mất. Những căn hộ thương mại giá 2-3 tỷ đồng từng là mục tiêu có thể với tới của tầng lớp trung lưu giờ gần như tuyệt chủng. Thị trường bị lấp đầy bởi các dự án cao cấp, giá 4-5 tỷ đồng trở lên. Với mức thu nhập phổ biến hiện nay, đó là khoảng cách gần như không thể vượt qua.
Vậy chúng ta đang kỳ vọng gì? Rằng một bộ phận lớn người lao động sẽ chấp nhận đi thuê suốt đời? Và khi về già, với thu nhập giảm sút, họ sẽ tiếp tục xoay xở thế nào với chi phí nhà ở ngày càng cao?
Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là một vấn đề an sinh xã hội.
Nếu không thể kiểm soát giá nhà trong ngắn hạn, thì một hướng đi rõ ràng hơn là phát triển mạnh nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội không nên bị xem là một giải pháp mang tính "cứu trợ", mà phải được nhìn nhận như một phần thiết yếu của cấu trúc thị trường.
Một đô thị bền vững cần có chỗ cho những người lao động bình thường. Câu chuyện của người bạn tôi rời thành phố không phải là cá biệt. Nếu không có những thay đổi rất có thể sẽ còn nhiều người khác đưa ra lựa chọn rời đi.
Huỳnh Thắng
Mấy hôm nay nhiệt độ cả nước tăng cao, tôi vào ứng dụng thời tiết thì nhìn thấy một màu đỏ rực.
Rồi tôi vô tình lướt phải phát hiện của một bản trẻ, đó là nhìn từ trên cao, hai đô thị lớn là Hà Nội và TP HCM cho thấy một sự khác biệt khá rõ: mái nhà miền Bắc thường mang sắc đỏ, trong khi miền Nam lại phổ biến màu trắng, xanh.
Đây chỉ là ngẫu nhiên hay có lý do nào đó? Tôi thấy có một giả thuyết cho rằng sự khác biệt này đến từ yếu tố khí hậu. Miền Bắc có mùa hè nóng và mùa đông lạnh, nên mái ngói hoặc tôn màu đỏ vốn quen thuộc trong kiến trúc truyền thống được cho là giúp giữ nhiệt và cách nhiệt tốt hơn.
Trong khi đó, miền Nam nóng quanh năm, nên mái tôn màu xanh hoặc xanh nhạt có thể giúp giảm hấp thụ nhiệt, làm không gian bên trong mát hơn.
Nếu vậy thì chúng ta có thể nghiên cứu tổng thể vật liệu, màu sắc khi xây nhà, công trình để hấp thu - cách nhiệt làm mát mẻ ngôi nhà, tránh phải dùng điều hòa nhiều liệu có khả thi không?