Mới đây, Bộ Xây dựng đã có những giải đáp liên quan đến kiến nghị của Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải về việc đề xuất tăng mức bảo hành công trình tối thiểu 10 năm, đồng thời không giữ lại tiền bảo hành tự nguyện của nhà thầu.
Theo Bộ Xây dựng, đề xuất quy định bắt buộc thời gian bảo hành công trình tối thiểu 10 năm của Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải là chưa đủ cơ sở thực tế và kỹ thuật.
Cần hiểu đúng bản chất bảo hành, bảo trì công trình
Trao đổi với phóng viên Dân trí về vấn đề này, PGS.TS Trần Chủng, Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, Bộ Xây dựng, nhấn mạnh cần hiểu rõ bản chất của việc bảo hành, bảo trì đối với các công trình xây dựng, đặc biệt là công trình giao thông.
Theo PGS.TS Trần Chủng, trong xây dựng, chất lượng công trình là yếu tố rất quan trọng. Do đó, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào tham gia vào quá trình hình thành nên công trình xây dựng, công trình giao thông đều phải gắn trách nhiệm với vòng đời và chất lượng của công trình.
“Tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên công trình xây dựng, từ chủ đầu tư đến người khảo sát, thiết kế, thi công rồi đến quản lý khai thác, vận hành đều gắn với vòng đời của công trình. Nếu công trình có suy giảm về chất lượng hoặc xảy ra sự cố mà có lỗi của con người thì đều phải chịu trách nhiệm”, PGS.TS Trần Chủng nói.
Ông nêu ví dụ, nếu công trình được đưa vào sử dụng sau 10-20 năm mà xảy ra sự cố do lỗi của con người thì nhà thầu hoặc bất kỳ đơn vị nào có liên quan đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Theo PGS.TS Trần Chủng, để đảm bảo chất lượng công trình, pháp luật đã quy định các giai đoạn khác nhau như bảo hành, bảo trì. Trong đó, bảo trì là công tác thường xuyên theo dõi, sửa chữa, thay thế hỏng hóc nhằm duy trì chất lượng của công trình trong quá trình khai thác, sử dụng.
“Một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với công trình xây dựng trong suốt quá trình khai thác, sử dụng là công tác bảo trì. Việc bảo trì có đầy đủ nội dung, kỹ thuật, đề cương và có kinh phí”, PGS.TS Trần Chủng nêu.
Ông cho biết, để ràng buộc trách nhiệm của nhà thầu thi công với công trình, pháp luật đã có quy định về nội dung bảo hành.
Bảo hành được hiểu là trong thời hạn quy định 1-2 năm, nếu công trình hoặc sản phẩm phát sinh lỗi, chất lượng không đạt yêu cầu do nguyên nhân từ chủ đầu tư hoặc đơn vị sản xuất thì các chủ thể liên quan phải có trách nhiệm khắc phục, PGS.TS Trần Chủng lý giải.
“Bảo hành không có tiền bảo lãnh thì không có ý nghĩa”
Vị Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam cho biết thêm, trong xây dựng công trình giao thông, thời gian bảo hành tối thiểu đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công là 24 tháng.
Đây là khoảng thời gian trong quá trình khai thác, vận hành mà các khiếm khuyết của công trình do lỗi thi công của nhà thầu sẽ bộc lộ, từ đó buộc nhà thầu phải sửa chữa, khắc phục.
“Kèm theo điều kiện về thời gian bảo hành, pháp luật cũng quy định việc giữ lại phần kinh phí nhất định là 2% hoặc 3% gói thầu để nếu có xảy ra hư hỏng thì nhà thầu phải lập tức đến sửa chữa; nếu nhà thầu không đến sẽ có kinh phí để thuê đơn vị khác”, PGS.TS Trần Chủng nói và khẳng định, các quy định của pháp luật đều ghi thời gian bảo hành là tối thiểu, chứ không ghi thời gian tối đa.
Do đó, doanh nghiệp có thể tự gia hạn thời gian bảo hành công trình lên 10-20 năm. Tuy nhiên, việc này bắt buộc phải có điều kiện đi kèm là tiền bảo lãnh được giữ lại tại ngân hàng để nếu xảy ra hư hỏng trong quá trình bảo hành sẽ có kinh phí sửa chữa.
“Nếu bảo hành mà không có tiền bảo lãnh thì không có ý nghĩa trong thực tiễn và pháp luật”, PGS.TS Trần Chủng nhấn mạnh.
Ông cho rằng, việc Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải đề xuất bảo hành công trình tối thiểu 10 năm nhưng chỉ giữ lại tiền bảo lãnh trong 2 năm, còn các năm sau trả lại, sẽ không đảm bảo các nghĩa vụ, điều kiện của việc bảo hành.
Cùng trao đổi về vấn đề này, ông Tống Văn Nga, Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, đánh giá các công trình giao thông sử dụng bê tông, xi măng thường có thời gian sử dụng cao, chi phí bảo trì thấp, ít chịu tác động của môi trường.
Tuy nhiên, đối với các công trình bằng nhựa đường, đá, cát và bột khoáng, mức độ chịu tác động của môi trường lớn hơn, đặc biệt là các công trình được xây dựng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Do đó, ông Tống Văn Nga cho rằng cần có những nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng về công tác bảo hành, bảo trì đối với từng loại công trình.
Theo Bộ Xây dựng bảo hành là trách nhiệm của nhà thầu đối với các hư hỏng do lỗi thi công trong thời gian nhất định theo hợp đồng. Còn bảo trì là trách nhiệm của đơn vị quản lý khai thác nhằm duy trì khả năng vận hành, an toàn và tuổi thọ công trình trong suốt quá trình sử dụng.
Bộ Xây dựng cho rằng, nếu kéo dài thời gian bảo hành vượt quá chu kỳ sửa chữa định kỳ sẽ khó phân định trách nhiệm giữa lỗi thi công và hao mòn trong khai thác, có thể phát sinh tranh chấp và ảnh hưởng công tác bảo trì.
Bộ Xây dựng đánh giá, nhận định của Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải về việc “nếu tăng thời gian bảo hành thêm 1 năm thì riêng Cục Đường bộ tiết kiệm hơn 12.500 tỷ đồng mỗi năm, nếu tăng thêm 8 năm sẽ tiết kiệm hơn 100.000 tỷ đồng” là “không đúng bản chất công tác bảo hành, bảo trì và không có cơ sở.
Theo Bộ Xây dựng, năm 2025 kinh phí quản lý, vận hành và bảo trì hệ thống quốc lộ là 12.503 tỷ đồng. Đối với hơn 900km đường cao tốc mới đưa vào khai thác, Cục Đường bộ đã chi hơn 180 tỷ đồng cho công tác bảo dưỡng thường xuyên.
Bộ Xây dựng cho biết, hiện nay, các tuyến cao tốc do Sơn Hải thi công được doanh nghiệp cam kết bảo hành 10 năm đối với một số hạng mục thuộc gói thầu (không bao gồm hạng mục sơn kẻ đường, lưới chống chói, tấm phản quang, hàng rào bảo vệ, bóng đèn, hầm Tam Điệp), không phải bảo hành toàn bộ công trình.
Nơi con nước hòa mình với cửa đại, dòng sông Trà không chỉ là cảnh quan thiên nhiên mà còn là mạch sống nuôi dưỡng những phận người lam lũ, giúp họ dựng xây cuộc sống ấm no.
Gần 40 năm qua, vợ chồng ông Huỳnh Thống (60 tuổi) và bà Phạm Thị Lượm (57 tuổi, ở xã Tịnh Khê) vẫn đều đặn mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá ở đoạn cuối sông Trà. Với họ, con sông không chỉ là nơi kiếm sống mà còn là một phần ký ức, gắn bó từ những ngày đầu lập gia đình.
Ông Thống nhớ lại, thuở mới cưới, hai vợ chồng bắt đầu bằng chiếc lưới đơn sơ, ngày ngày thả lưới trên dòng nước đục phù sa. "Nghề này nuôi sống cả gia đình tôi, lo cho con cái ăn học nên người", ông Thống nói, giọng trầm ấm.
Theo lời những bậc cao niên, trước đây vùng cửa đại là nơi hội tụ của nhiều loài cá. Mỗi buổi chiều, cá đối từ biển theo dòng nước ngược lên, gặp dòng sông Trà chảy ra, từng đàn cá dày đặc nhảy lên mặt nước trắng xóa cả khúc sông. Khung cảnh ấy giờ chỉ còn trong ký ức.
"Khi trước cá nhiều lắm, chỉ cần thả lưới chưa tới 2 tiếng là đủ cá mang ra chợ bán", bà Lượm kể. Cá ngạnh, cá úc, cá đối… từng là những loài quen thuộc, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Nay nguồn lợi thủy sản giảm dần nhưng ông bà vẫn gắn bó với nghề, bởi đó là kế sinh nhai duy nhất.
Mỗi ngày từ 5 giờ, ông bà đã ra sông, đến khoảng 8 giờ thì quay về mang cá ra chợ. Những mẻ cá hôm nay không còn dày như trước nhưng vẫn đủ để duy trì cuộc sống. "Cá hanh, cá dối, cá móm, cá hồng… còn gì bán nấy, miễn có đồng ra đồng vào", bà Lượm nói.
Không chỉ có nghề đánh bắt, những bãi bồi giữa dòng sông Trà còn mở ra hướng sinh kế khác cho người dân. Ông Nguyễn Bé (59 tuổi, ở xã Tịnh Khê) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề nuôi vịt và trồng trọt trên bãi bồi.
Hiện ông nuôi hơn 2.500 con vịt cỏ lấy trứng, đồng thời canh tác hơn 1 ha bí đỏ. Mỗi sáng, ông chèo ghe ra trại vịt thu trứng, cho vịt ăn xong quay về nhà; đến chiều lại tiếp tục chèo ghe từ đất liền ra bãi bồi chăm sóc đàn vịt và cây trồng.
Theo ông Bé, điều kiện tự nhiên ở bãi bồi rất thuận lợi: nguồn thức ăn dồi dào, không gian yên tĩnh, giúp đàn vịt phát triển tốt và đẻ trứng đều. "Trứng vịt bán cho thương lái khoảng 40.000 đồng/chục, cũng đủ trang trải cuộc sống", ông Bé chia sẻ.
Sinh ra trong gia đình có truyền thống chăn nuôi, ông Bé theo cha ra đồng từ nhỏ. Học hết lớp 9, ông nghỉ học, gắn bó với nghề nuôi vịt suốt hơn 40 năm qua. Những kinh nghiệm tích lũy từ thực tế giúp ông duy trì đàn vịt ổn định, dù phải đối mặt với nhiều biến động thời tiết, dịch bệnh.
"Mùa mưa lũ, tôi phải đưa vịt lên đồng cao để tránh nước dâng. Còn cây trồng thì chỉ làm từ tháng 1 - 9, tới mùa lũ thì để đất trống", ông Bé nói.
Cách đó không xa, ông Nguyễn Thanh (66 tuổi, cũng ở xã Tịnh Khê) đang tận dụng gần 3 ha đất bãi bồi để phát triển mô hình nông nghiệp tổng hợp. Trên mảnh đất giữa sông, gia đình ông trồng bí đỏ, cà tím, hành, đậu đen, chuối, cỏ voi và nuôi bò, trong đó bí đỏ là cây trồng chủ lực.
Cuối tháng 11.2025, ông Thanh bắt đầu xuống giống vụ bí mới. Đến nay, cây đã cho trái, hứa hẹn một mùa thu hoạch thuận lợi. Mỗi ngày, hai vợ chồng ông Thanh và bà Huỳnh Thị Mến (63 tuổi) chèo ghe ra bãi bồi từ sáng sớm, chăm sóc cây trồng, chăn nuôi, đến chiều tối lại quay về đất liền.
Gắn bó với bãi bồi gần 30 năm, ông Thanh hiểu rõ từng đặc tính của đất và con nước. "Đất phù sa nên cây trồng phát triển tốt, năng suất cao. Mỗi năm gia đình thu khoảng 5 tấn bí, thu nhập ổn định", ông Thanh cho biết.
Không chỉ mang lại kinh tế, bãi bồi còn giúp gia đình ông xây dựng cuộc sống ổn định, nuôi con ăn học đến nơi đến chốn. "Nhờ đất này mà con cái có điều kiện học hành, giờ đều có việc làm", ông Thanh nói với niềm tự hào.
Trước đây ông Thanh từng nuôi vịt trên bãi bồi. Hai vợ chồng ông từng có thời gian dài sống hẳn ngoài bãi để trông coi đàn vịt và chăn bò. Cuộc sống tuy vất vả nhưng thanh bình. Sau này, do dịch bệnh khiến đàn vịt thiệt hại, gia đình ông chuyển sang tập trung làm nông nghiệp và chăn nuôi bò.
Dòng sông Trà, đoạn cuối trước khi đổ ra biển, không chỉ mang phù sa mà còn mang theo hy vọng của người dân. Từ nghề đánh bắt cá, nuôi vịt đến trồng trọt trên bãi bồi, tất cả đều dựa vào sự ưu đãi của thiên nhiên.
Những bãi bồi giữa sông giống như "cánh đồng vàng" nổi giữa dòng nước, mỗi năm lại được bồi đắp thêm lớp phù sa mới. Nhờ đó, cây trồng phát triển xanh tốt, cho năng suất cao mà không cần quá nhiều phân bón.
Tuy nhiên, cuộc sống nơi đây cũng đối mặt không ít thách thức. Nguồn lợi thủy sản suy giảm, thời tiết thất thường, dịch bệnh trong chăn nuôi… tất cả đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân. Dù vậy, họ vẫn kiên trì bám sông, bám đất.
Với những người như ông Thống, bà Lượm, ông Bé hay ông Thanh, bà Mến, dòng sông Trà không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là một phần cuộc đời. Ở nơi cuối dòng sông ấy, cuộc sống vẫn tiếp diễn, lặng lẽ mà kiên cường, như chính dòng sông Trà bao đời nay vẫn âm thầm chảy, mang theo phù sa và nuôi dưỡng những ước mơ giản dị của bao người.
Đại úy quân nhân chuyên nghiệp Nguyễn Thị Thùy Dung vào bộ đội năm 25 tuổi ở vị trí tân binh đặc công Quân khu 7 - độ tuổi nhiều người chọn ổn định công việc, gia đình. Thùy Dung khi ấy đã tốt nghiệp đại học hệ dân sự, đi làm hai năm nhưng vẫn viết đơn tòng quân với nguyện vọng trở thành lính đặc công.
"Tôi chọn đặc công vì mê võ, thích đánh quyền từ năm 10 tuổi", nữ chiến đấu viên chống khủng bố của Lữ đoàn 113, Binh chủng Đặc công - top 10 gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân năm 2025, nhớ lại.
Cho đến trước ngày thi đại học, Dung vẫn quả quyết sẽ chọn trường quân đội để trở thành quân nhân như bố và anh trai. Nữ sinh cao gần 1,6 m nặng 40 kg vẫn hay mặc thử quân phục của anh trai, "chìm nghỉm" trong bộ đồ và tưởng tượng về ngày mình nhập ngũ.
Nhưng bố cô, một quân nhân nhiều năm xa nhà, thấu hiểu những vất vả người lính phải trải qua, đã thuyết phục con gái nên chọn ngành nghề khác. Cũng như bao người cha, ông chỉ mong con gái có cuộc sống nhẹ nhàng, công việc hành chính 8 tiếng, đủ thời gian chăm sóc bản thân và gia đình. Ông từng công tác trong Quân khu 7, đến những năm 1990 mới phục viên về gần nhà.
Thương bố mẹ, Dung chọn thi đại học hệ dân sự. Nhưng hai năm làm nhân viên văn phòng với guồng quay công việc lặp lại mỗi ngày thôi thúc cô nghĩ nhiều về việc nhập ngũ. Dung cuối cùng tình nguyện vào bộ đội đầu năm 2020. "Gian khổ thế nào con cũng chịu, chỉ cần bố mẹ tin tưởng là con làm được", cô thuyết phục gia đình. Nhìn thấy quyết tâm khó lay chuyển của con gái, người cha chỉ dặn dò giữ sức khỏe, luôn tuân thủ kỷ luật để làm tốt nhiệm vụ.
Ba tháng tân binh, Dung được rèn luyện ở đơn vị đặc công thuộc Quân khu 7. Lính mới những ngày đầu bị "lag" vì dậy trước 5h rèn luyện thể dục trong khi trước đây ở ngoài 8h mới đi làm. Thời gian ngủ nghỉ cắt ngắn, chế độ luyện tập dần tăng lên nhưng mọi thứ bắt đầu vào nề nếp. Nữ tân binh từ 53 kg sụt xuống 45 kg, da rám nắng nhưng thấy thể lực, tinh thần tốt hơn trước. Làm nhiệm vụ tại Lữ đoàn 429 trong Nam một thời gian, Dung sau đó chuyển về Lữ đoàn Đặc công 113 ngoài Bắc.
Sáu năm quân ngũ dần bồi đắp cho cô gái những kỹ năng đặc biệt của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, nhất là võ thuật và bắn súng. Với các chiến đấu viên, rèn luyện thể lực khắc nghiệt mới là khởi đầu, bước vào huấn luyện nâng cao mới là thử thách thể chất, tâm lý và cả sức chịu đựng.
Nhiều năm rèn võ cổ truyền Bình Định, đạt cấp độ đai vàng cho cô gái thể lực tốt lẫn sự dẻo dai, song mỗi lần cầm côn nhị khúc vẫn phải tập trung cao độ, thực hiện đúng động tác. Bởi chỉ cần một phần giây mất kiểm soát có thể gây thương tích cho mình lẫn đồng đội.
Cũng như đồng đội nam, các chiến đấu viên nữ phải trải qua bài tập công phá chịu sức ép của gạch ngói vỡ vụn trên người, chân trần đi trên mảnh thủy tinh sắc nhọn và đối diện với cơn đau thấu xương khi tam thương cắm tử huyệt. Mỗi bài học lĩnh ngộ được đổi bằng mồ hôi, nhẹ thì bầm tím, nặng thì để lại sẹo.
"Tôi chưa bao giờ hối hận vì đã chọn con đường này, màu áo lực lượng này và vẫn luôn tự hào về điều đó", cô nói, tự nhận mình "lì lợm nên càng khó lại càng phải làm bằng được". May mắn khi đơn vị có những nữ chiến đấu viên trạc tuổi, hơn tuổi nên chị em luôn bao bọc, hỗ trợ nhau trong những lần làm nhiệm vụ.
Năm thứ hai trở thành chiến đấu viên chống khủng bố, Dung đã thành thạo các loại vũ khí đặc chủng của bộ đội đặc công. Trong một lần thực hành huấn luyện, cô cùng với 7 nữ chiến đấu viên lữ đoàn được chọn để đổ treo từ trực thăng và tụt dây chiến thuật từ nhà cao tầng. Với một sợi dây, các nữ quân nhân phải tụt xuôi, ngược, nhảy cóc ngang, nghiêng, chạy vuông góc với tường thật nhanh để chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Bài huấn luyện đặc biệt nguy hiểm chỉ dành cho các quân nhân có sức bền, tâm lý vững và kỹ thuật tốt.
Những ngày đầu tập đổ treo từ độ cao hơn 20 m trên trực thăng xuống nóc nhà cao tầng, cô gái từng khụy gối, rơi nước mắt tưởng không vượt qua. Nhưng sau một tháng tập luyện, nữ đặc công dần làm chủ kỹ năng. Chiến đấu viên, thuộc số hiếm nữ của lực lượng đặc công chống khủng bố, dùng thành thạo dao găm, côn nhị khúc, nhảy dù từ trực thăng, thả treo trên nóc nhà.
Những mùa huấn luyện xen kẽ với các nhiệm vụ liên tục của Quân đội, từ cô gái sợ bắn súng, Dung đã đứng trong hàng ngũ đi thi Army Games năm 2021 và cùng đồng đội giành vị trí thứ tư toàn đoàn. Cô giành thêm 2 huy chương bạc, 5 huy chương đồng trong các hội thao võ thuật chiến đấu tay không và bắn súng quân dụng toàn quân. Dung cũng luôn có mặt trong các cuộc trình diễn khi phái đoàn trong và ngoài nước đến thăm Binh chủng Đặc công.
Ngay sau lễ vinh danh Gương mặt trẻ tiêu biểu toàn quân hôm 2/4, nữ đặc công lại cùng đồng đội chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Danh hiệu cô dành tặng người cha vừa qua đời vì bạo bệnh chỉ ít ngày trước lễ tuyên dương. "Bố gật đầu chờ con về nhưng không kịp. Con cố gắng trong thời gian qua và con đã làm được. Bố yên lòng về con gái bố ạ", trên trang cá nhân, cô viết.
Ngày 19.6, tại kỳ họp giữa năm, UBND TP.HCM vừa trình HĐND thành phố các dự thảo nghị quyết liên quan đến chế độ, chính sách đối với lực lượng hoạt động không chuyên trách ở cơ sở sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức lại khu phố, ấp, thôn, khu dân cư và kết thúc một số mô hình hoạt động.
Theo chỉ đạo của Trung ương, tại 168 đơn vị hành chính cấp xã của TP.HCM, việc sử dụng người hoạt động không chuyên trách cấp xã kết thúc từ ngày 31.5.2026; đề án sắp xếp, tổ chức lại khu phố, ấp, thôn, khu dân cư hoàn thành trước ngày 30.6.2026.
UBND TP.HCM cho rằng quá trình sắp xếp sẽ tác động trực tiếp đến đội ngũ đã tham gia công tác ở cơ sở trong thời gian dài. Vì vậy, việc ban hành chính sách tri ân là cần thiết, nhằm ghi nhận những đóng góp của lực lượng không chuyên trách ở cấp xã, khu phố, ấp, thôn, khu dân cư; người trực tiếp tham gia hoạt động ở cơ sở; tổ trưởng, tổ phó tổ dân cư, tổ nhân dân tự quản khi kết thúc mô hình.
Theo dự thảo, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã khi kết thúc hoạt động từ ngày 30.5.2026 được đề xuất nhận quà tặng tri ân một lần theo thời gian công tác. Người có thời gian công tác dưới 5 năm được nhận 15 triệu đồng/người; từ đủ 5 năm đến dưới 10 năm được nhận 25 triệu đồng/người; từ đủ 10 năm trở lên được nhận 35 triệu đồng/người.
Đối với người hoạt động không chuyên trách ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư thôi tham gia công tác do sắp xếp, tổ chức lại khu phố, ấp, thôn, khu dân cư, mức quà tặng tri ân là 3 triệu đồng/người. Người trực tiếp tham gia hoạt động ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư thôi tham gia công tác được đề xuất nhận 2 triệu đồng/người.
Riêng tổ trưởng, tổ phó tổ dân cư, tổ nhân dân tự quản thôi tham gia công tác khi cấp có thẩm quyền có văn bản kết thúc mô hình được đề xuất nhận mức quà tặng tri ân 1 triệu đồng/người.
Theo tính toán của UBND TP.HCM, kinh phí dự trù cho nhóm người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã là hơn 101,8 tỉ đồng, với 4.073 người. Đối với người hoạt động không chuyên trách ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư giảm do sắp xếp, số lượng dự kiến là 5.846 người, kinh phí hơn 17,5 tỉ đồng.
Nhóm người trực tiếp tham gia hoạt động ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư dự kiến giảm 12.399 người, kinh phí hơn 24,7 tỉ đồng. Đối với tổ trưởng, tổ phó tổ dân cư, tổ nhân dân tự quản, số lượng dự kiến là 21.590 người, kinh phí hơn 21,5 tỉ đồng.
Cùng với chính sách tri ân một lần, UBND TP.HCM cũng trình dự thảo nghị quyết quy định mức phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư; số lượng, mức hỗ trợ đối với người tham gia hoạt động ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư; việc kiêm nhiệm và hỗ trợ kinh phí hoạt động của khu phố, ấp, thôn, khu dân cư.
Theo tờ trình, từ ngày 1.7.2025, TP.HCM có 168 đơn vị hành chính cấp xã, với 5.947 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư; khoảng 17.678 người hoạt động không chuyên trách và khoảng 27.822 người trực tiếp tham gia hoạt động ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư.
Sau khi sắp xếp theo quy định mới, TP.HCM dự kiến tổ chức lại 5.947 khu phố, ấp, thôn, khu dân cư còn 3.944 đơn vị. Số người hoạt động không chuyên trách cần bố trí là 11.832 người, tương ứng mỗi khu phố, ấp, thôn, khu dân cư có 3 người. Số người dôi dư sau sắp xếp dự kiến 5.846 người, chiếm 33,06%.
Về mức phụ cấp hằng tháng, dự thảo chia thành 2 nhóm. Đối với khu phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; ấp, thôn, khu dân cư có từ 700 hộ trở lên; hoặc thuộc địa bàn trọng điểm về quốc phòng, biên giới, hải đảo, thôn đặc biệt khó khăn, quỹ phụ cấp là 8 lần mức lương cơ sở.
Trong nhóm này, bí thư chi bộ khu phố, ấp, thôn, khu dân cư được hưởng phụ cấp hằng tháng bằng 2,70 lần mức lương cơ sở; trưởng khu phố, ấp, thôn, khu dân cư hưởng 2,65 lần; trưởng ban công tác mặt trận hưởng 2,65 lần mức lương cơ sở.
Đối với khu phố, ấp, thôn, khu dân cư không thuộc nhóm trên, quỹ phụ cấp là 6,5 lần mức lương cơ sở. Bí thư chi bộ được hưởng 2,20 lần mức lương cơ sở; trưởng khu phố, ấp, thôn, khu dân cư hưởng 2,15 lần; trưởng ban công tác mặt trận hưởng 2,15 lần mức lương cơ sở.
Dự thảo cũng quy định mức hỗ trợ hằng tháng đối với người tham gia hoạt động ở khu phố, ấp, thôn, khu dân cư là 1,5 lần mức lương cơ sở/người/tháng. Với khu phố, ấp, thôn, khu dân cư đạt quy mô theo quy định, trước hết bố trí 2 người tham gia hoạt động; sau đó căn cứ quy mô dân cư để bố trí thêm, nhưng tối đa không quá 8 người.
Về kinh phí hoạt động, khu phố có dưới 1.000 hộ; ấp, thôn, khu dân cư có dưới 700 hộ được hỗ trợ 3,5 triệu đồng/tháng. Khu phố có từ 1.000 hộ trở lên; ấp, thôn, khu dân cư có từ 700 hộ trở lên được hỗ trợ 4,5 triệu đồng/tháng.