6 tiếng nữa, chàng trai phải có mặt ở văn phòng, nhưng lúc này, anh không nghĩ đến điều đó. Suốt 13 tiếng trước, chuyên viên truyền thông tại một công ty ở TP HCM bị cuốn vào các cuộc họp, tin nhắn khách hàng, KPI và những tình huống cần xử lý khủng hoảng liên tục.
Bữa trưa, anh vừa ăn vừa nhìn màn hình. Về đến nhà lúc 9h tối, tắm rửa và ăn uống qua loa xong đã hơn 10 giờ rưỡi. Cơ thể rệu rã, mắt díu lại vì mệt, nhưng anh không đi ngủ. “Chẳng lẽ cả ngày mệt mỏi thế này, chút thời gian cho riêng mình cũng không có sao?” anh tự nhủ, rồi bật máy tính lên.
Minh Anh không đơn độc trong cái vòng lặp đó. Mai, 32 tuổi, ở Tây Ninh, bắt đầu “sống cho bản thân” lúc 9h30 tối, khi hai đứa con nhỏ và chồng đã ngủ. Người phụ nữ ở nhà nội trợ quay cuồng từ 6h sáng đến 19h tối với bỉm sữa, dọn dẹp, nấu nướng và dỗ con.
Đến tối, Mai ngồi co ro ở góc sofa, tự thưởng cho mình một cốc trà sữa, lướt sàn thương mại điện tử hoặc xem phim truyền hình dài tập đến tận 1h30 sáng. “Lúc này thế giới chỉ thuộc về mình, không ai làm phiền, không ai đòi hỏi”, chị nói.
Thạc sĩ tâm lý lâm sàng Vương Nguyễn Toàn Thiện, Giám đốc chuyên môn Trung tâm Tham vấn và Trị liệu Tâm lý Lumos, gọi tên tình huống của Mai và Minh Anh là “Revenge Bedtime Procrastination” hay RBP, trì hoãn giấc ngủ để “trả thù” hoặc “sống bù”.
Thuật ngữ này mô tả việc cố tình hy sinh giấc ngủ để giành lại thời gian cá nhân sau một ngày bị ngoại cảnh chi phối hoàn toàn. Điểm cốt lõi khiến RBP khác biệt với thói quen thức khuya thông thường là người mắc nhận thức rõ tác hại của việc thiếu ngủ nhưng vẫn tiếp tục, bởi nhu cầu tâm lý được kiểm soát cuộc sống của chính mình lấn át cả nhu cầu sinh học cơ bản.
Dù chưa được WHO hay DSM-5-TR xếp vào nhóm rối loạn tâm thần chính thức, RBP đang lan rộng theo quy mô đáng lo ngại. Một khảo sát trên nhóm trẻ tuổi và sinh viên cho thấy khoảng 40 đến 50% người tham gia có chỉ số RBP cao, với mối liên hệ rõ ràng đến mức độ căng thẳng ban ngày và thói quen sử dụng công nghệ.
Nghiên cứu đăng trên tạp chí International Journal of Environmental Research and Public Health chỉ ra rằng những người có khả năng tự kiểm soát thấp vào cuối ngày, đặc biệt khi cảm thấy ban ngày “không thuộc về mình”, dễ rơi vào bẫy trì hoãn giấc ngủ hơn hẳn. Hiện tượng này tập trung ở nhóm từ 16 đến 40 tuổi, tức thế hệ Gen Z và Millennials, những người chịu áp lực kép về hiệu suất công việc và kết nối xã hội liên tục.
Ông Thiện cho rằng gốc rễ của RBP nằm ở sự thiếu hụt khả năng tự điều chỉnh, không phải ý chí yếu kém. Ở người trẻ và sinh viên, cảm giác thiếu kiểm soát xuất phát từ áp lực học tập và lịch trình dày đặc. Ở người trưởng thành như Minh Anh hay chị Mai, nguyên nhân là gánh nặng công việc và trách nhiệm gia đình tích lũy suốt cả ngày khiến buổi tối trở thành mảnh đất duy nhất họ có thể khai hoang cho bản thân.
Cái bẫy nguy hiểm ở chỗ hành động “giành lại tự do” đó lại chính xác là thứ đang tước đoạt tự do của họ vào ngày hôm sau. Mỗi đêm chỉ ngủ 4 tiếng, Minh Anh dậy trễ, làm việc kém hiệu quả và phải tăng ca để bù đắp, rồi tối về lại thức khuya để “bù đắp” cho cái mà anh đã mất. Chị Mai thiếu ngủ kinh niên đến mức trở nên dễ cáu gắt, thường xuyên quên trước quên sau và nhận ra làn da mình sạm đi trông thấy. Chị biết rõ những điều đó. Nhưng đêm hôm sau người phụ nữ vẫn không cưỡng lại được.
Một nghiên cứu năm 2023 trên tạp chí Sleep Medicine Reviews cho thấy thiếu ngủ kinh niên dưới 6 tiếng mỗi đêm làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên 48%, tăng nguy cơ trầm cảm lên 35% so với người ngủ đủ giấc. Não bộ mất đi sự linh hoạt nhận thức, phản xạ chậm lại và ngưỡng kiểm soát cảm xúc bị hạ thấp, khiến người thiếu ngủ dễ cáu kỉnh hơn vào chính ngày hôm sau, đúng vào lúc họ cần tỉnh táo nhất.
Thạc sĩ Thiện cho rằng lối thoát không nằm ở việc ép bản thân đi ngủ sớm hơn theo ý chí thuần túy, mà ở chỗ phải giải quyết trực tiếp nguyên nhân gốc rễ: sự thiếu hụt thời gian tự chủ trong ban ngày.
Điều này đòi hỏi phải thiết lập ranh giới cứng giữa công việc và cuộc sống cá nhân, học cách nói không để bảo vệ quỹ thời gian ban ngày, đồng thời lên kế hoạch cụ thể cho các hoạt động thư giãn trong khung giờ hợp lý trước khi đêm muộn, thay vì để chúng “chảy” vào giờ ngủ.
Về vệ sinh giấc ngủ, ông khuyên tránh xa thiết bị điện tử ít nhất 30 phút trước khi ngủ, duy trì giờ ngủ và thức dậy cố định kể cả cuối tuần để củng cố nhịp sinh học của cơ thể.
Minh Anh nói anh biết mình cần thay đổi. Anh chỉ chưa biết bắt đầu từ đâu khi ngày làm việc vẫn kéo dài đến 8 giờ tối và khoảng duy nhất còn lại cho chàng trai vẫn là màn hình máy tính lúc nửa đêm. Đó chính xác là mâu thuẫn mà thạc sĩ Thiện mô tả: “Người mắc RBP không thức khuya vì họ không muốn ngủ. Họ thức khuya vì họ chưa thực sự được sống trong ngày hôm đó”.
Kết hôn từ năm 2016 nhưng nhiều năm không có con, vợ chồng anh Tú đã thăm khám tại nhiều cơ sở y tế. Kết quả xét nghiệm cho thấy anh Tú mắc hội chứng Klinefelter - một bất thường di truyền khiến nam giới thừa một nhiễm sắc thể X, dẫn đến suy giảm chức năng tinh hoàn và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh tinh.
Đây là nguyên nhân gây vô tinh không tắc nghẽn, một trong những dạng vô sinh nam có tiên lượng điều trị khó. Nhiều trường hợp không tìm thấy tinh trùng trong tinh dịch và cơ hội có con đẻ rất thấp.
Năm 2023, vợ chồng anh Tú đến thăm khám tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội. Sau khi đánh giá lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, ThS.BS Đinh Hữu Việt, Trưởng khoa nam học, nhận định bệnh nhân vẫn còn khả năng tìm thấy tinh trùng trong mô tinh hoàn và chỉ định thực hiện kỹ thuật MicroTESE.
Đây là phương pháp vi phẫu sử dụng kính hiển vi có độ phóng đại lớn để tìm kiếm các ống sinh tinh còn hoạt động, từ đó thu nhận những tinh trùng còn sót lại phục vụ cho thụ tinh trong ống nghiệm.
May mắn hơn, gia đình anh Tú là một trong 12 gia đình nhận được gói hỗ trợ miễn phí mổ MicroTESE. "Tôi cảm thấy đó không chỉ đơn thuần là giảm chi phí mà nó còn mang lại động lực, niềm tin rằng nhất định vợ chồng mình sẽ có con", chị Hạnh chia sẻ.
Theo bác sĩ Việt, với bệnh nhân mắc hội chứng Klinefelter, điều đáng lo ngại nhất là các ống sinh tinh đã thoái hóa hoàn toàn. Tuy nhiên qua thăm khám, anh Tú vẫn còn những dấu hiệu cho thấy có thể tồn tại các vùng sinh tinh, vì vậy ê kíp quyết định tiến hành phẫu thuật với hy vọng tìm được tinh trùng.
Sau ca vi phẫu, các bác sĩ đã tìm thấy tinh trùng trong mô tinh hoàn của bệnh nhân. Đây là điều kiện quan trọng để thực hiện quy trình tạo phôi bằng kỹ thuật IVF.
Từ số tinh trùng thu được, vợ chồng anh Tú tiếp tục bước vào hành trình điều trị hỗ trợ sinh sản. Phôi được tạo thành công và chuyển vào tử cung người vợ và chị Hạnh sinh con gái khỏe mạnh, khép lại hành trình 7 năm tìm kiếm tiếng cười trẻ thơ.
Theo bác sĩ Việt, vô tinh không đồng nghĩa với việc nam giới mất hoàn toàn cơ hội có con. Nhờ sự phát triển của các kỹ thuật vi phẫu tinh hoàn và hỗ trợ sinh sản, nhiều trường hợp vô tinh không tắc nghẽn vẫn có thể tìm thấy tinh trùng để thực hiện IVF.
Đặc biệt, với bệnh nhân mắc hội chứng Klinefelter, việc phát hiện và điều trị sớm có ý nghĩa quan trọng. Khi tuổi còn trẻ, mô tinh hoàn chưa thoái hóa nhiều nên khả năng tìm được tinh trùng sẽ cao hơn.
Các chuyên gia cũng khuyến cáo, khi kết hôn từ một năm trở lên, quan hệ đều đặn không sử dụng biện pháp tránh thai nhưng chưa có con, các cặp vợ chồng nên đi khám hiếm muộn sớm tại các cơ sở chuyên khoa. Việc chẩn đoán đúng nguyên nhân và áp dụng các kỹ thuật điều trị phù hợp sẽ giúp tăng cơ hội có con bằng chính tinh trùng và trứng của vợ chồng.
ThS.BS Trần Minh Tuấn, Chủ nhiệm Khoa Nội soi, Bệnh viện Quân y 175, cho biết xu hướng lựa chọn nội soi gây mê, thường gọi là "nội soi không đau", đang tăng lên trong thời gian gần đây, chủ yếu do giúp người bệnh dễ chịu hơn so với nội soi thông thường.
Trong quá trình này, người bệnh được dùng thuốc an thần qua đường tĩnh mạch để ngủ ngắn, nhờ đó giảm cảm giác buồn nôn, khó chịu và lo lắng khi đưa ống soi vào cơ thể. Khi cơ thể thư giãn, dạ dày không bị co thắt do phản xạ nôn ói, giúp bác sĩ quan sát niêm mạc thuận lợi, có thể phát hiện các tổn thương dù là rất nhỏ và đánh giá các tổn thương nghi ung thư sớm.
Việc thực hiện các thủ thuật như cắt polyp trong lúc nội soi cũng thuận lợi hơn. Sau khi tỉnh, đa số người bệnh cảm thấy tương đối thoải mái, xóa bỏ được nỗi ám ảnh về việc đi khám tiêu hóa.
Theo bác sĩ Tuấn, phần lớn trường hợp cắt polyp qua nội soi có thể về trong ngày, không cần nằm viện, nhưng vẫn cần theo dõi theo hướng dẫn. Nhiều người cũng lo lắng việc đưa ống soi vào cơ thể sẽ làm "hỏng" đường ruột. Thực tế, nội soi là phương pháp an toàn, sử dụng ống soi mềm có gắn camera siêu nhỏ, giúp bác sĩ quan sát trực tiếp và xử trí can thiệp kịp thời mà không gây tổn thương hệ tiêu hóa.
Về nguy cơ lây nhiễm chéo, bác sĩ Tuấn cho biết điều này sẽ không xảy ra tại các cơ sở y tế tuân thủ quy trình chuẩn. Chẳng hạn tại Bệnh viện Quân y 175, quy trình khử khuẩn được thực hiện nghiêm ngặt với hệ thống 8 máy rửa ống soi tự động, đảm bảo an toàn tuyệt đối. Các dụng cụ can thiệp trong thủ thuật đều chỉ được sử dụng một lần cho một người bệnh.
Gây mê nội soi không phải "mê sâu" như khi phẫu thuật. Thời gian nội soi dạ dày thường khoảng 5-7 phút, nội soi đại tràng khoảng 10-15 phút nếu không cần can thiệp thêm. Sau thủ thuật, người bệnh được theo dõi thêm một thời gian ngắn cho đến khi tỉnh táo hoàn toàn.
Trước khi thực hiện, bệnh nhân sẽ được bác sĩ đánh giá tình trạng sức khỏe để hạn chế rủi ro. Nội soi gây mê thường được cân nhắc với người dễ nôn ói, lo lắng nhiều hoặc cần can thiệp như cắt polyp. Ngược lại, phương pháp này có thể không phù hợp với người mắc bệnh tim mạch nặng, suy hô hấp, hen chưa kiểm soát, tiền sử dị ứng thuốc mê, phụ nữ mang thai hoặc không tuân thủ hướng dẫn trước thủ thuật.
Để ca nội soi diễn ra thuận lợi và cho kết quả chính xác, người bệnh nhịn ăn ít nhất 8 tiếng và ngừng uống nước 2 tiếng trước khi soi. Riêng với nội soi đại tràng, bệnh nhân phải uống thuốc làm sạch ruột theo đúng hướng dẫn của nhân viên y tế. Trước khi gây mê, cần thực hiện đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng như đo điện tim, siêu âm tim... theo chỉ định.
Sau nội soi gây mê, bệnh nhân nên có người đi cùng và tránh lái xe, ký giấy tờ quan trọng trong vài giờ do thuốc an thần có thể còn tác dụng.
Không chỉ gây mệt mỏi vào ban ngày, hội chứng này còn làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, suy tim, đột quỵ, rối loạn chuyển hóa, thậm chí có thể dẫn đến đột tử nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
TS.BS Phan Thanh Thủy - Viện Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai - lý giải khi chúng ta ngủ, các cơ vùng hầu họng sẽ giãn ra. Ở người khỏe mạnh, đường thở vẫn đủ rộng để không khí lưu thông. Nhưng ở người mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ, đường hô hấp trên vốn đã hẹp nên rất dễ bị xẹp xuống khi ngủ.
Khi đó luồng không khí bị cản trở hoặc tắc hoàn toàn dù người bệnh vẫn cố gắng hít thở. Lượng oxy trong máu giảm khiến não bộ buộc phải "đánh thức" cơ thể trong thời gian rất ngắn để mở lại đường thở.
Hiện tượng này có thể lặp lại hàng chục, thậm chí hàng trăm lần trong một đêm mà người bệnh hoàn toàn không nhận ra.
Nguyên nhân thường gặp nhất là thừa cân, béo phì, khi lớp mỡ vùng cổ làm hẹp đường thở. Ngoài ra, amidan quá phát, lưỡi gà dài, hàm nhỏ, lệch vách ngăn mũi, tuổi cao, hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia hoặc sử dụng thuốc an thần cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Bên cạnh ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, còn có thể ngưng thở trung ương - tình trạng não bộ tạm thời không phát tín hiệu điều khiển hô hấp, thường gặp ở người suy tim, sau đột quỵ hoặc khi lên vùng núi cao.
Bác sĩ Thủy cho hay do bệnh chỉ xuất hiện khi ngủ nên người phát hiện đầu tiên thường là người nằm cạnh.
Dấu hiệu điển hình nhất là ngáy to, ngắt quãng. Người bệnh đang ngáy bỗng im bặt trong vài chục giây rồi giật mình thở gấp, thở hổn hển hoặc sặc để lấy lại hơi. Một số trường hợp còn vã mồ hôi nhiều hoặc tiểu đêm nhiều lần.
Ban ngày, hậu quả của một đêm ngủ không trọn vẹn sẽ bộc lộ rõ. Người bệnh thường thức dậy với cảm giác đau đầu, khô họng, luôn mệt mỏi dù đã ngủ đủ thời gian. Tình trạng buồn ngủ quá mức khiến họ có thể ngủ gật khi làm việc, họp hành hoặc đang lái xe.
Về lâu dài, thiếu oxy kéo dài còn ảnh hưởng đến trí nhớ, khả năng tập trung, tâm trạng và chất lượng cuộc sống.
Theo bác sĩ Thủy, hội chứng ngưng thở khi ngủ không đơn thuần là một rối loạn giấc ngủ mà là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh lý nghiêm trọng.
Việc thiếu oxy lặp đi lặp lại khiến tim phải hoạt động quá sức, làm tăng nguy cơ tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, suy tim, nhồi máu cơ tim và đột tử. Đồng thời, nguy cơ đột quỵ có thể tăng từ 2 - 4 lần, nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 và rối loạn mỡ máu cũng cao hơn đáng kể.
Đặc biệt, những cơn buồn ngủ không kiểm soát còn làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông, ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của người bệnh và cộng đồng.