Tại Hà Nội, Văn phòng Bộ Công an vừa chủ trì, phối hợp với Cục Truyền thông Công an nhân dân tổ chức tọa đàm chính sách về một số văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Công an chủ trì xây dựng trong năm 2026.
Thượng tá Ngô Đức Thắng, Phó Cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an, cho biết quá trình tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự cho thấy, bên cạnh những kết quả quan trọng, việc áp dụng bộ luật này vẫn bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc lớn.
Theo Thượng tá Thắng, các vướng mắc có thể khái quát thành 7 nhóm vấn đề chủ yếu.
Trước hết, một số quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chưa bao quát hết các tình huống mới phát sinh trong thực tiễn.
Đáng chú ý là các trường hợp rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, đổi mới sáng tạo, mô hình sản xuất, kinh doanh mới; hoặc trường hợp cá nhân, tổ chức có vi phạm nhưng không vụ lợi, không tham nhũng và đã chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả.
Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng nghiêm minh nhưng nhân văn, khuyến khích khắc phục hậu quả và bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Nhóm vấn đề thứ hai là một số quy định mang tính nguyên tắc, nền tảng về tội phạm, đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các chế định về trách nhiệm hình sự còn có cách hiểu khác nhau, chưa thật sự đầy đủ để áp dụng thống nhất trong điều tra, truy tố, xét xử.
Thứ ba, hệ thống quy định về hình phạt còn bất cập. Trong đó, phạm vi áp dụng hình phạt tử hình còn rộng; ở một số tội danh, mức phạt tiền, phạt tù chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi; hình phạt tiền chưa theo kịp sự phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ tư, một số dấu hiệu định tội, định khung chưa rõ, chưa thống nhất, còn phụ thuộc nhiều vào cách hiểu và đánh giá của cơ quan áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, một số tình tiết định lượng không còn phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ năm, một số hành vi nguy hiểm mới chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự, dẫn đến việc chưa bảo đảm tính bao quát, toàn diện trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Một số quy định cũng chưa kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng, chưa nội luật hóa đầy đủ các điều ước, thỏa thuận, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Thứ sáu, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại hiện mới giới hạn ở 33 tội, chủ yếu thuộc nhóm tội về môi trường, kinh tế. Qua tổng kết, Bộ Công an nhận thấy các nhóm tội về thuế, lao động, tài chính, bảo hiểm; một số tội về tài sản như cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các tội về sử dụng đất đai cũng cần được nghiên cứu quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.
Cuối cùng, một số quy định trong Bộ luật Hình sự còn chưa thống nhất với nhau, chồng chéo hoặc trùng lặp với pháp luật chuyên ngành và pháp luật tư pháp hình sự. Một số quy định chưa logic, chưa bảo đảm tính khoa học, còn lỗi về kỹ thuật trình bày.
Thượng tá Ngô Đức Thắng đánh giá, 7 nhóm vướng mắc trên cho thấy yêu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự không chỉ xuất phát từ một vài bất cập đơn lẻ, mà là yêu cầu hoàn thiện tổng thể chính sách hình sự.
Mục tiêu là xây dựng một Bộ luật Hình sự nghiêm minh, nhân đạo, hiện đại, thống nhất, dễ áp dụng, đủ sức xử lý các loại tội phạm mới, đồng thời tạo môi trường pháp lý an toàn cho phát triển kinh tế – xã hội, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Sau một ngày xét xử, chiều 6/5, TAND Tp.HCM đã tuyên án đối với Phạm Lê Duy (SN 1997, ngụ tỉnh Vĩnh Long); Bùi Thị Thu Huyền (SN 1997, quê tỉnh Gia Lai) và 14 đồng phạm về tội Cưỡng đoạt tài sản.
Đây là nhóm bị cáo từng là nhân viên Công ty Luật TNHH Power Law - chi nhánh Sài Gòn ((gọi tắt là Công ty Power Law), đã thực hiện việc thu hồi nợ cho 18 công ty tài chính, ngân hàng và các ứng dụng (app) vay tiền trên mạng trái quy định pháp luật.
Theo bản án vừa tuyên, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Luật Power Law - Chi nhánh Sài Gòn (gọi tắt là Công ty Power Law) do ông Hoàng Quốc Việt là đại diện pháp luật. Công ty Power Law thực hiện việc thu hồi nợ cho 18 Công ty tài chính, ngân hàng và các ứng dụng (App) vay tiền trên mạng Internet.
Để vận hành hệ thống, nhóm này tải lên hệ thống quản lý dữ liệu tập trung (hệ thống CRM) các thông tin đăng ký vay của khách hàng (họ tên, ngày sinh, số chứng minh nhân dân, địa chỉ, nơi làm việc, số điện thoại, thông tin khoản vay, số tiền vay,…).
Sau khi dữ liệu được tải lên, các Trưởng phòng nghiệp vụ sẽ phân bố khách hàng cần thu hồi nợ xuống từng nhân viên thông qua tài khoản sử dụng (user) của từng nhân viên thu hồi nợ. Nhân viên thu hồi nợ sẽ truy cập vào hệ thống CRM qua tài khoản (user) của từng người để thu hồi nợ.
Các nhân viên thu hồi nợ mua các đường link để truy cập PC Covid, TST (dữ liệu bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội thất nghiệp); CIC (Trung tâm thông tin tín dụng) để lấy số điện thoại của người vay và thân nhân người vay.
Mỗi nhân viên sẽ được cấp một tài khoản riêng, sử dụng phần mềm có kết nối mạng máy tính nội bộ của công ty (có sẵn thông tin khách hàng) để thực hiện việc gọi điện thoại, nhắn tin đòi nợ theo đúng quy định pháp luật.
Tuy nhiên, do áp lực về doanh số, các nhân viên thu hồi nợ gồm: Phạm Lê Duy, Bùi Thị Thu Huyền, Lê Thế Bình, Đinh Thanh Long và các đồng phạm đã tự ý thực hiện hành vi cắt, ghép hình ảnh, thông tin không đúng sự thật của người vay hoặc bạn bè hoặc người thân của người vay.
Tiếp đến, nhóm này đăng tải trên mạng xã hội (Zalo, Facebook) của người vay và người thân, bạn bè, đồng nghiệp của người vay làm cho người vay sợ bị liên lụy đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và danh dự, nhân phẩm của cá nhân, nhằm tạo áp lực, buộc phải trả nợ. Từ đó, các nhân viên thu hồi nợ nâng cao doanh số thu hồi nợ cho Công ty để được hưởng lợi.
Cụ thể, bị cáo Phạm Lê Duy là Trưởng phòng thu hồi nợ của Công ty Power Law, có nhiệm vụ nhận các hồ sơ vay của Công ty Power Law để giao cho các nhân viên thu hồi nợ và trực tiếp thu hồi nợ. Duy đã thực hiện hành vi cắt, ghép, đăng thông tin không đúng sự thật lên mạng xã hội nhằm mục đích đòi nợ chị Bùi Thị Mai H. và 3 cá nhân khác.
Tương tự, bị cáo Bùi Thị Thu Huyền và 14 đồng phạm khác khi đòi nợ đã gọi điện, nhắn tin yêu cầu khách hàng trả nợ. Khi khách hàng không thực hiện, Huyền và nhóm bị cáo tải về hình ảnh khách hàng và người thân của họ, rồi cắt ghép hình ảnh, đăng tải lên mạng xã hội Facebook, Zalo, kèm theo nội dung thông tin không có thật như khiêu dâm, đám tang, tố cáo lừa đảo, nhằm uy hiếp tinh thần, tạo áp lực để các khách hàng vay tiền phải trả nợ.
Cơ quan tố tụng xác định, chỉ trong một thời gian ngắn, các bị cáo đã có hành vi cưỡng đoạt hàng trăm triệu đồng của nhiều người.
Theo HĐXX, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, do đó cần xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Từ các nhận định trên, HĐXX quyết định tuyên phạt Bùi Thị Thu Huyền mức án 3 năm 6 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản.
Theo Sở Cảnh sát Koga (tỉnh Ibaraki), Masae Sakurai đã tấn công người bạn 42 tuổi tại nhà vào khoảng 13h30 ngày 29/6.
Masae, nhân viên bán thời gian 49 tuổi, bị cáo buộc đã dùng kim chỉ khâu môi trên và môi dưới của nạn nhân lại với nhau, gây thương tích khiến không thể ăn uống hay nói chuyện.
Chiều 30/6, nạn nhân đeo khẩu trang, cố gắng chạy trốn khỏi nhà khi Masae đi vắng, đến một cửa hàng cách đó khoảng 300 m. Không thể nói do miệng bị khâu, cô đưa cho nhân viên cửa hàng một mẩu giấy viết tay có dòng chữ "Xin hãy giúp tôi". Các nhân viên lập tức liên hệ với cơ quan chức năng.
Cảnh sát thông báo về vụ bắt giữ vào ngày 6/7 nhưng chưa tiết lộ nghi phạm thừa nhận hay phủ nhận các cáo buộc hành hung.
Qua điều tra, nạn nhân, đang thất nghiệp, sống chung nhà với nghi phạm từ tháng 4/2025. Khi được hỏi về hành vi bạo hành, nạn nhân được cho là đã nói với cảnh sát: "Tôi sợ Masae nên không dám bỏ chạy ngay lập tức".
Cảnh sát không tiết lộ mức độ thương tích của người phụ nữ, nhưng cho biết tính mạng của cô không gặp nguy hiểm.
Nhà chức trách đang điều tra mối quan hệ giữa hai người, động cơ và hoàn cảnh của vụ việc, đồng thời thẩm vấn những người khác sống trong nhà.
Những người quen của Masae tiết lộ với TV Asahi rằng họ nghe nói cô ta cho những người bỏ nhà đi ở nhờ và giúp họ tìm việc làm, điều này cho thấy khả năng có nhiều người từng ở nhà cô ta vào những thời điểm khác nhau.
Theo lời hàng xóm, Masae sống trong ngôi nhà xảy ra vụ việc 2-3 năm trước. Khi mới chuyển đến, cô ta sống cùng chồng người nước ngoài và hai con, nhưng sau đó không thấy người chồng xuất hiện nữa. Một số hàng xóm cho biết từng thấy nhiều người khác ra vào căn nhà, Masae nói đó là thân thích.
Động cơ vụ án chưa được tiết lộ. Tuy nhiên, các tình tiết điều tra ban đầu cho thấy đây có thể không phải một vụ hành hung bộc phát mà là hành vi xảy ra trong bối cảnh nạn nhân bị kiểm soát và lệ thuộc vào nghi phạm trong thời gian dài.
Ngày 27/4, Công an TP HCM ra quyết định truy nã Nguyễn Văn Hạnh, 40 tuổi, ngụ Đồng Tháp, để điều tra hành vi Chiếm giữ trái phép tài sản, sau 10 ngày khởi tố bị can.
Theo điều tra, ngày 3/12/2024, người phụ nữ tại Bến Cát (Bình Dương cũ) chuyển khoản cho ông Nguyễn Văn Hạnh 495 triệu đồng. Quá trình thao tác trên điện thoại, bà chuyển nhầm qua sang người trùng tên NGUYEN VAN HANH - là bị can Hạnh.
Sau khi phát hiện sự việc, người phụ nữ đã liên hệ với ngân hàng để nhờ hỗ trợ, ngăn chặn rút và thu hồi số tiền chuyển nhầm; đồng thời gọi điện báo cho NGUYEN VAN HANH (chủ tài khoản nhận tiền chuyển nhầm). Được hứa sẽ chuyển trả lại, song ngày 11/12/2024, bà phát hiện tiền đã bị Hạnh rút khỏi tài khoản.
Ngày 2/1/2025, nạn nhân gửi đơn đến Công an phường An Bình A (TP Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp cũ) đề nghị can thiệp, cũng như tìm đến nhà riêng của Hạnh nhưng không gặp.
Sau hơn năm không đòi được tiền, bà làm đơn gửi Công an Bình Dương (nay là Công an TP HCM). Ngày 17/4, Công an TP HCM đã khởi tố bị can với Hạnh.
Thời gian vừa qua, công an một số tỉnh thành đã khởi tố các trường hợp nhận nhầm tiền của người khác rồi chiếm đoạt.