Ngày 1.6, tin từ Văn phòng UBND tỉnh Cà Mau cho biết, UBND tỉnh vừa ban hành quyết định công bố danh mục các dự án nạo vét kết hợp thu hồi sản phẩm trên địa bàn.
Theo danh mục công bố, tỉnh Cà Mau sẽ triển khai 11 dự án nạo vét đường thủy nội địa kết hợp thu hồi sản phẩm trong giai đoạn dự kiến 2026 – 2027. Các dự án tập trung tại khu vực cửa sông, cửa biển và những tuyến đường thủy nội địa được xác định là xung yếu trên địa bàn.
Tổng khối lượng nạo vét của 11 dự án dự kiến vượt 2,2 triệu m³. Trong đó, nhiều công trình có quy mô lớn với khối lượng nạo vét lên đến hàng trăm nghìn mét khối.
Đáng chú ý, dự án luồng đường thủy nội địa sông Bảy Háp, đoạn từ chợ Rạch Chèo ra biển, dài khoảng 11 km (thuộc xã Cái Đôi Vàm và xã Đất Mới), có khối lượng nạo vét dự kiến lớn nhất với 600.000 m³.
Tiếp đến là dự án luồng đường thủy nội địa sông Đầm Chim, từ ngã ba Tam Giang đến Vàm Đầm, dài khoảng 8,7 km (thuộc xã Tam Giang), với khối lượng dự kiến 450.000 m³.
Dự án luồng đường thủy nội địa sông Rạch Gốc, từ Vàm Ông Định đến UBND xã Tân Ân Tây, dài khoảng 9,5 km (thuộc xã Tân Ân và xã Phan Ngọc Hiển), có khối lượng nạo vét 350.000 m³.
Dự án cửa biển Cái Cùng, từ kênh Cà Mau – Bạc Liêu ra Biển Đông, dài khoảng 13 km (thuộc xã Đông Hải), có khối lượng nạo vét dự kiến 169.000 m³.
Các dự án còn lại gồm nạo vét cửa kênh Huyện Kệ, cửa Cần Thăng, cửa biển Nhà Mát, luồng sông Bến Dựa, sông Cái Cám, cửa kênh Công Nghiệp và kênh Vàm Xoáy.
Theo UBND tỉnh Cà Mau, việc triển khai các dự án nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu giao thương, lưu thông hàng hóa bằng đường thủy; đồng thời bảo đảm an toàn giao thông trên các vùng nước thuộc phạm vi quản lý.
UBND tỉnh Cà Mau cũng giao các đơn vị liên quan rà soát, tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi làm cơ sở pháp lý để tổ chức lựa chọn nhà đầu tư nạo vét các dự án theo hướng công khai, minh bạch và hiệu quả.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Đề nghị các nước tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa

Ngày 4.6, tại họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam trước các phát biểu gần đây của phía Trung Quốc và Hà Lan liên quan đến hoạt động của tàu De Ruyter (Hà Lan) tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa phù hợp với luật pháp quốc tế.
"Việt Nam đề nghị các nước khác tôn trọng thực tế này. Với tư cách là quốc gia thành viên Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và là quốc gia ven Biển Đông, Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không của các quốc gia ở Biển Đông phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS", bà Phạm Thu Hằng khẳng định.
Cũng tại họp báo, trả lời câu hỏi về phản ứng của Việt Nam trước việc Thủ tướng Campuchia Hun Manet ngày 2.6 cho biết đã gửi thông báo tới Thái Lan và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để khởi xướng thủ tục hòa giải bắt buộc liên quan tranh chấp biển giữa hai nước ở vịnh Thái Lan, bà Phạm Thu Hằng khẳng định, Việt Nam hoan nghênh việc các bên giải quyết tranh chấp khác biệt bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982, Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiệp định Thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á để đóng góp tích cực vào việc duy trì hòa bình ổn định ở khu vực.
Tin Gốc: Thanh Niên

Năm đó, đã gần chạm bước đến khung cửa tuổi 90, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tiếp chúng tôi thân mật: "Ý kiến của bà là trách nhiệm với thế hệ trẻ về sau, trách nhiệm trước lịch sử".
Những ngày ấy, Biển Đông dậy sóng. Thanh niên biết đến các trận chiến đấu giữ gìn biên cương phía Bắc nơi "lò vôi thế kỷ" Vị Xuyên… Bà Nguyễn Thị Bình còn kể thêm cho chúng tôi nghe kỷ niệm về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị Bình kể về lần gặp Bác đầu tiên, đó là năm bà 27 tuổi, một ngày đầu tháng 12.1954, bà vừa tập kết ra miền Bắc, đặt chân đến thủ đô Hà Nội. Sáng hôm ấy, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Thứ trưởng Bộ Y tế đến gặp bà, vui vẻ thông báo:
- Cô Yến có một tin vui hết sức đặc biệt, Bác Hồ muốn gặp cô.
"Nghe anh Thạch nói, tôi không tin ở tai mình nữa. Nỗi vui mừng và lo lắng trào dâng trong lòng. Sao Bác lại biết tôi? Tôi chưa hề được gặp Bác bao giờ. Quả thật, Bác đã dành tình thương đặc biệt cho tôi. Tôi không nghĩ rằng mình được gặp Bác Hồ".
Ấn tượng về lần đầu tiên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Bình kể:
- Cô Yến đấy ư? Ngồi xuống đây với Bác. Chúng ta là chỗ thân quen. Bác đã biết ông ngoại cô từ thời ở Pháp. Cụ Phan (chí sĩ Phan Chu Trinh) là người Bác rất kính trọng...
Nghe đến đây, bà nghẹn ngào, không thể nói thành lời. Thì ra ông ngoại của bà - cụ Phan Chu Trinh - từng là người bạn vong niên của Bác Hồ những ngày trên đất Pháp. Sau này, bà biết thêm, đó là những năm tháng hoạt động bí mật ngay trong lòng thủ đô Paris - Pháp.
Qua tư liệu một người chị em con dì là bà Lê Thị Kinh (bí danh Phan Thị Minh) khai thác ở lưu trữ của Pháp, bà Nguyễn Thị Bình biết thêm trong mật báo ngày 11.2.1920, mật thám Jean viết: "Quốc nhờ phụ cấp của ông Trường, ông trả tiền nhà, còn Phan Chu Trinh và Khánh Ký cho tiền mua thức ăn".
Trước khi qua đời tại Sài Gòn (ngày 24.3.1926), cụ Phan Chu Trinh có gặp lại cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh) và trăng trối: "Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc". Lời tiên đoán ấy đã thành sự thật: Nguyễn Ái Quốc trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh - tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 2.9.1945).
Không có may mắn được nhìn thấy ông ngoại, những ngày cuối tháng 3.1926, cả nước để tang truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Hơn một năm sau, cô cháu ngoại Nguyễn Thị Yến Sa mới chào đời.
Buổi gặp gỡ đầu tiên với người bạn vong niên của ông ngoại ấy, như bà Nguyễn Thị Bình kể lại, hầu như Bác chỉ dành để hỏi chuyện về gia đình bà. Lúc chia tay, Bác căn dặn:
- Một truyền thống gia đình như thế, rất đáng trân trọng. Cố gắng công tác phụng sự Tổ quốc để xứng đáng là con cháu cụ Phan.
"Tôi ghi nhớ mãi lời Bác dạy - bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ - Tôi đã nhập môn những bài học ngoại giao đầu tiên từ Bác. Một người thầy trong mọi ứng xử, giao tiếp".
Năm 1960, sau cuộc đồng khởi của đồng bào miền Nam, cục diện chính trị đã thay đổi, mở ra một cục diện ngoại giao mới. Bà Nguyễn Thị Bình được cử vào làm thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi được phụ trách công tác ngoại giao.
Năm 1968, Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ngoại giao ở Paris. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Phó trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên (Trưởng đoàn là ông Trần Bửu Kiếm).
Tháng 4.1969, sau chuyến đi công tác ngoại giao ở Anh, trở về Hà Nội, bà Nguyễn Thị Bình được Bác gọi đến Phủ Chủ tịch để hỏi han công việc. Vừa nhìn thấy Bác, lòng bà se lại. Bác đã yếu đi nhiều, mái tóc bạc hơn và cử chỉ không còn nhanh nhẹn như những lần bà được gặp trước đây.
"Bác hỏi tôi về hoạt động ngoại giao, về tình hình bà con Việt kiều. Tôi thưa với Bác về những hoạt động của mình, kể lại cuộc biểu tình lớn của nhân dân Anh ủng hộ cuộc chiến đấu của ta vừa tổ chức ở Luân Đôn khi tôi đến thăm, Bác bảo:
- Phải hết sức tranh thủ tình cảm của nhân dân thế giới. Họ ủng hộ mình là xuất phát từ tình cảm chân thật. Cháu sang bên đó, nhớ chuyển lời thăm hỏi của Bác tới bà con Việt kiều...".
Bác lại dặn dò tôi cần phải cố gắng làm tốt công tác của mình, đấu tranh ngoại giao không phải dễ dàng, cần kiên trì, không làm nhanh được. Công tác ngoại giao có lúc nguy hiểm như ngồi trên lưng cọp vậy. Ta phải luôn luôn bình tĩnh, vững vàng. Tôi ghi lòng tạc dạ những lời dạy bảo ân cần, sâu sắc của Bác, và lấy lời Bác làm phương châm hành động của mình.
Lịch sử đã từng ghi lại những biểu hiện mẫu mực của đường lối ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt. Tôi đã học ở Người biết bao bài học quý giá. Trong hoạt động ngoại giao của Bác đã chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của nhà chiến lược thiên tài và là nhà ngoại giao lỗi lạc”.
Hôm ấy, bà Nguyễn Thị Bình không ngờ là lần cuối bà được gặp Bác, được nghe những lời dạy bảo đầy ân tình của Bác, được ăn bữa cơm cuối cùng với Người.
"Sau này, tôi được biết rằng việc chọn tôi làm Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Hội nghị Paris, chính là do anh Xuân Thủy đã đề xuất với Bác. Bác am hiểu công tác ngoại giao quốc tế và đặc biệt vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực này", bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại.
Trở thành Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn ngoại giao Hội nghị bốn bên ở Paris, sau này là Phó chủ tịch nước 2 nhiệm kỳ (1992 - 2002), bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: "Hầu như mọi bước đi, mọi thành công trong công tác ngoại giao của tôi đều có sự dìu dắt, dõi theo của Bác Hồ".
Tin Gốc: Thanh Niên

Cách đây khoảng 3 năm, anh N.V.T (31 tuổi, quê Phú Thọ) bị trượt chân và ngã vào nồi nước sôi đang bốc hơi nghi ngút. Tai nạn này khiến đầu, mặt, cổ và mắt của anh bị bỏng nặng.
Anh T. được cấp cứu ban đầu tại địa phương, tiếp đó chuyển về Hà Nội điều trị. Sau tai nạn, dù giữ được tính mạng nhưng những di chứng bỏng nặng khiến anh T. sống trong bóng tối, tưởng chừng cuộc sống đã khép lại.
Sẹo co rút dày đặc xuất hiện khắp vùng mặt và cổ, kéo lệch cấu trúc khuôn mặt. Hai mắt tổn thương nghiêm trọng, giác mạc bị che phủ khiến anh gần như mất hoàn toàn thị lực. Vùng miệng co kéo nặng đến mức chỉ có thể mở khoảng 1 cm.
Đầu năm 2026, anh T. đến Bệnh viện đa khoa Bình Dương (TP.HCM) để tiếp tục điều trị. Sau nhiều lần hội chẩn, các bác sĩ đánh giá đây là trường hợp tổn thương đặc biệt phức tạp.
Mục tiêu điều trị không chỉ tạo hình thẩm mỹ, mà còn phải phục hồi đồng thời nhiều chức năng quan trọng như ăn uống, vận động vùng mặt, bảo vệ nhãn cầu và tạo tiền đề cho khả năng phục hồi thị lực về sau.
Trưởng ê kíp phẫu thuật Khoa Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện đa khoa Bình Dương, cho biết khó khăn lớn nhất là gần như toàn bộ vùng mặt của người bệnh đã bị sẹo co rút biến dạng, trong khi mô lành còn lại rất ít.
Ê kíp từng cân nhắc phương án ghép mặt từ người hiến chết não - kỹ thuật đã được thực hiện tại một số quốc gia. Tuy nhiên, phương pháp này tiềm ẩn nhiều nguy cơ, người bệnh phải sử dụng thuốc chống thải ghép suốt đời và đối diện nhiều biến chứng lâu dài.
Cuối cùng, ê kíp quyết định lựa chọn mô tự thân để tái tạo khuôn mặt cho người bệnh. Đây là hướng đi khó nhưng an toàn và phù hợp hơn.
Ca phẫu thuật được thực hiện liên tục trong 16 giờ với sự phối hợp của ê kíp Khoa Chấn thương chỉnh hình và Khoa Gây mê hồi sức.
Với 2 ê kíp thực hiện song song, các bác sĩ tiến hành lấy vạt da vùng bụng kích thước khoảng 30 cm x 25 cm cùng sụn sườn dưới của người bệnh để làm vật liệu tạo hình, bóc tách vạt da bụng - vùng mô còn đủ chất lượng và độ đàn hồi để tái tạo khuôn mặt.
Đồng thời, ê kíp tiến hành cắt bỏ mô sẹo co rút vùng đầu - mặt - cổ, giải phóng các cấu trúc biến dạng và chuẩn bị nền mô để tiếp nhận vạt ghép mới. Đây được xem là một trong những công đoạn khó khăn nhất vì cấu trúc giải phẫu bình thường gần như bị thay đổi hoàn toàn sau bỏng.
Sau khi xử lý tổn thương, ê kíp bước vào giai đoạn vi phẫu - kỹ thuật đòi hỏi độ chính xác rất cao, nối các động mạch và tĩnh mạch vùng mặt với hệ mạch của vạt da để đảm bảo máu lưu thông nuôi sống mô ghép sau phẫu thuật.
Phần sụn sườn được sử dụng để tái tạo sụn mi trên và sống mũi, đồng thời phục hồi các cấu trúc nâng đỡ vùng mặt. Sau đó, vạt da được tạo hình để che phủ gần như toàn bộ vùng khuyết da ở mặt, đồng thời tái tạo khoang miệng, 2 lỗ mũi và 2 hốc mắt cho người bệnh.
Toàn bộ quá trình đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa cùng độ chính xác gần như tuyệt đối, bởi chỉ một sai lệch nhỏ trong thao tác nối mạch hoặc tạo hình cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng sống của vạt ghép và kết quả phục hồi chức năng sau này.
Áp lực lớn nhất của ê kíp là đảm bảo hệ tuần hoàn của vạt ghép hoạt động ổn định sau nối mạch. Chỉ khi dòng máu lưu thông tốt và mô ghép được nuôi sống, ê kíp mới có thể yên tâm bước đầu về kết quả phẫu thuật.
Bên cạnh đó, vùng mắt cũng được tạo hình bước đầu giúp cải thiện chức năng khép mở mi. Nếu quá trình hồi phục tiếp tục thuận lợi, người bệnh sẽ được xem xét ghép giác mạc trong thời gian tới nhằm cải thiện thị lực.
Sau phẫu thuật, tình trạng người bệnh đã có những cải thiện tích cực. Vùng miệng mở rộng hơn, khả năng ăn uống được phục hồi đáng kể, người bệnh có thể tự ăn uống thay vì phải phụ thuộc hoàn toàn vào người thân như trước đây.
Bác sĩ Võ Thái Trung, Phó trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện đa khoa Bình Dương cho biết ê kíp không chỉ xem đây là một ca bệnh, mà là một con người đang cần được trao cơ hội trở lại cuộc sống.
Theo bác sĩ Trung, với những tổn thương quá lớn thì không thể chỉ nhìn bằng con mắt của phẫu thuật viên, mà phải nhìn bằng sự thấu cảm, đối diện với nỗi đau, với những mất mát mà người bệnh đang chịu.
“Chúng tôi không chỉ cố gắng phục hồi một cơ thể, mà còn giữ lại niềm tin và hy vọng cho một con người đang ở ranh giới tuyệt vọng”, bác sĩ Trung nói.
Tin Gốc: Thanh Niên

