Theo UBND xã Hòa Xuân, hiện Ban quản lý Khu kinh tế Phú Yên đang lập quy hoạch phân khu 1/2.000 Tổ hợp du lịch vịnh Vũng Rô – đảo Hòn Nưa, mục tiêu hình thành một quần thể du lịch đặc thù, cao cấp, hiện đại phục vụ cho khách du lịch trong và ngoài nước.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Xã Hội
Nhà sàn cổ “lên đời” homestay, người vùng cao kiếm hàng chục triệu mỗi tháng

Những ngày nghỉ lễ 30/4, dòng khách đổ về khu du lịch Pù Luông, xã Pù Luông, Thanh Hóa tăng cao, biến các bản làng giữa vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên thành điểm đến nhộn nhịp. Giữa những dãy núi bao quanh, ruộng bậc thang vào mùa trổ bông và những nếp nhà sàn nép mình dưới tán xanh, du lịch cộng đồng không chỉ mang đến trải nghiệm "sống chậm" cho du khách, mà đã định hình hướng phát triển kinh tế bền vững cho người dân bản địa.
Từ Hà Nội, sau khoảng bốn giờ di chuyển, chị Hoàng Ngọc Anh (34 tuổi, Cầu Giấy) đặt chân tới Pù Luông vào một buổi sáng đầy nắng. Trước mắt chị là bức tranh thiên nhiên mở ra với núi non trùng điệp, ruộng bậc thang xanh mướt và những bản làng nép mình yên bình giữa thung lũng.
"Cảnh đẹp đến mức khiến mình ngỡ ngàng, nhóm mình đã chọn một homstay dạng nhà sàn người Thái, gần gũi với thiên nhiên và đậm bản sắc văn hóa và quan trọng là giá cả hợp lý", chị kể.
Những bước chân thong thả giữa cánh đồng, những câu chuyện về văn hóa người Thái, hay chỉ đơn giản là ngồi nhìn mây vờn qua sườn núi… tất cả khiến chị cảm giác như vừa rời khỏi nhịp sống gấp gáp của đô thị. "Ở đây, mọi thứ chậm lại, trong lành và rất thật. Một cảm giác mà ở thành phố khó tìm được", chị nói.
Ở bản Đôn, chị Hà Thị Thóa (29 tuổi), đang khoác lên mình bộ váy áo truyền thống của dân tộc Thái, chị đang tất bật chuẩn bị phòng đón đoàn khách Tây. Ngôi nhà sàn của gia đình – nơi đã gắn bó qua nhiều thế hệ – nay trở thành homestay nổi bật giữa vùng lõi khu bảo tồn.
Khoảng sáu năm trước, khi Pù Luông dần được du khách biết đến, gia đình chị mạnh dạn cải tạo không gian sống để đón khách lưu trú. Từ chỗ chỉ là mái nhà bình dị, nơi đây giờ có thể phục vụ khoảng 30 khách mỗi lượt.
"Gần như ngày nào cũng có khách. Có những hôm kín phòng liên tục", chị Thóa nói, tay vẫn thoăn thoắt dọn dẹp. Ngay cả những ngày mưa bão hồi tháng 10/2025, homestay của chị vẫn đón khách nước ngoài đến trải nghiệm.
Công việc không chỉ dừng ở việc cho thuê chỗ ở. Gia đình chị còn nấu ăn, tổ chức các buổi văn nghệ, dẫn khách cả trong và ngoài nước đi khám phá bản làng. Sau khi trừ chi phí, thu nhập mỗi tháng đạt khoảng 50–60 triệu đồng – một con số trước đây chị chưa từng nghĩ tới khi còn thuần nông. "Cuộc sống ổn định hơn nhiều", chị nói, ánh mắt ánh lên sự tự tin.
Phía sau sự khởi sắc ấy vẫn còn những trăn trở. Rào cản lớn nhất với đa số người dân đang làm homstay chính là hạn chế về tiếng Anh, khó giao tiếp với khách nước ngoài.
"Nhiều khi khách nói mà mình không hiểu hết, cũng thấy ngại. Tôi muốn học thêm tiếng Anh để có thể trò chuyện với họ nhiều hơn", chị Thóa chia sẻ.
Cách đó không xa, homestay của chị Lò Thị Hương (32 tuổi) lại mang một sắc thái khác – nhỏ hơn, yên tĩnh hơn, nhưng cũng vì thế mà được nhiều du khách nước ngoài ưa thích. Ngôi nhà sàn nằm giữa bản, bao quanh là cây xanh và những khoảng không gian tĩnh lặng.
Gắn bó với du lịch cộng đồng cũng đã sáu năm, chị Hương cho biết lượng khách khá ổn định. Với quy mô khoảng 20 khách mỗi đêm, thu nhập sau chi phí đạt 20–30 triệu đồng mỗi tháng – đủ để gia đình có cuộc sống vững vàng hơn so với trước kia.
"Chỉ làm nông thì khó có được mức thu nhập như vậy", chị nói. Dù từng nghĩ đến việc mở rộng, nhưng quỹ đất hạn chế và thiếu vốn khiến kế hoạch vẫn còn dang dở.
Giống như nhiều hộ khác trong bản, chị Hương cũng trăn trở về câu chuyện ngoại ngữ. "Nhiều lúc khách nói mà mình không hiểu, cũng ngượng lắm", chị cười. Nhưng rồi chị khẳng định, như một lời tự nhủ: "Thời gian tới nhất định phải học thêm, để làm du lịch tốt hơn".
Theo đại diện UBND xã Pù Luông, địa phương hiện có 68 cơ sở lưu trú, đón khoảng 210.000 lượt khách mỗi năm, doanh thu ước đạt 400 tỷ đồng. Du lịch đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Lợi thế của Pù Luông không chỉ ở cảnh quan mà còn nằm ở hệ sinh thái văn hóa đặc sắc của cộng đồng Thái, Mường từ nhà sàn, nghề dệt thổ cẩm đến dân ca và ẩm thực bản địa.
Trong chiến lược phát triển, địa phương đặt mục tiêu chuẩn hóa dịch vụ homestay; đào tạo kỹ năng, tiếng Anh cho người dân; phát triển du lịch trải nghiệm "cùng ăn- cùng ở- cùng làm"; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số với bản đồ du lịch, mã QR thuyết minh.
Về dài hạn, du lịch cộng đồng sẽ gắn với tiêu chuẩn ASEAN, phát triển kinh tế đêm và tăng cường liên kết tour, tuyến trong vùng.
Ông Nguyễn Nam Phong, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết định hướng xuyên suốt là phát triển du lịch "bền vững- bản sắc -chuyên nghiệp", vừa khai thác hiệu quả tiềm năng, vừa bảo tồn giá trị truyền thống.
Không chỉ riêng Thanh Hóa, tại Nghệ An, du lịch cộng đồng trong những năm gần đây đang được xác định là một hướng đi chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi. Việc định hướng bài bản mô hình này không chỉ nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng sẵn có về cảnh quan thiên nhiên, mà còn tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số phát huy giá trị văn hóa bản địa, chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sinh kế bền vững.
Du lịch cộng đồng bản Hoa Tiến (xã Châu Tiến) đang trở thành điểm sáng được nhiều du khách tìm đến. Những ngôi nhà sàn gỗ cổ kính của người Thái được giữ gần như nguyên vẹn qua nhiều thế hệ, trở thành "tài sản du lịch" độc đáo.
Góc nhìn từ du khách cũng góp thêm một lát cắt sinh động về sức hấp dẫn của bản Hoa Tiến. Chị Nguyễn Thị Tiên (40 tuổi, Hà Nội) cho biết, điều khiến chị ấn tượng không chỉ là cảnh quan hay những nếp nhà sàn cổ, mà chính là không gian văn hóa đậm đặc bản địa vẫn được gìn giữ nguyên vẹn.
Nắm bắt xu hướng, nhiều hộ gia đình mở homestay, như cơ sở của chị Lang Thị Tâm đang trở thành điểm đến quen thuộc ở Hoa Tiến.
"Trước đây khách đến chỉ dừng chân ngắm cảnh rồi đi. Vài năm nay, chúng tôi bắt đầu đón khách ở lại. Nhà cửa phải chỉnh trang, phòng nghỉ phải sạch sẽ, ấm cúng, rồi còn lo cả các chương trình văn nghệ để bà con cùng tham gia. Vất vả đấy, nhưng vui lắm, vì không chỉ khách trong nước, mà nhiều du khách quốc tế cũng đã tìm đến ngày càng nhiều", chị Lang Thị Tâm, chủ homestay Từ Tâm chia sẻ.
Du lịch kéo theo chuỗi sinh kế: người trồng rau, chăn nuôi, dệt thổ cẩm, biểu diễn văn nghệ, quảng bá sản phẩm OCOP… đều có thêm thu nhập. Một số hộ còn chủ động quảng bá qua mạng xã hội, liên kết doanh nghiệp lữ hành để xây dựng tour.
Ông Trần Việt Đức, Phó Chủ tịch UBND xã Châu Tiến, cho biết du lịch cộng đồng đã tạo chuyển biến rõ nét. "Thu nhập bình quân được cải thiện, nhiều hộ thoát nghèo bền vững từ năm 2023", ông nói.
Theo ông, định hướng phát triển lâu dài là đặt người dân làm trung tâm – vừa bảo tồn văn hóa, vừa trực tiếp cung cấp dịch vụ. "Làm du lịch không chỉ tăng thu nhập mà còn nâng cao đời sống tinh thần, củng cố ý thức gìn giữ bản sắc", ông nhấn mạnh.
Từ những nếp nhà sàn đơn sơ, người dân vùng cao đang từng bước biến tài nguyên văn hóa thành "tài sản du lịch", tạo sinh kế bền vững giữa đại ngàn.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Huế là vùng đất mà chỉ cần nhắc tên thôi đã gợi lên trong lòng người một cảm giác rất riêng. Người ta nhớ Huế bởi sông Hương, núi Ngự, bởi những mái cung điện trầm mặc dưới màu thời gian, bởi nhịp sống chậm rãi như một câu thơ cổ. Nhưng nếu phải nói đến một điều khiến Huế ở lại lâu hơn trong ký ức, thì có lẽ đó chính là ẩm thực, một thứ nghệ thuật lặng lẽ mà sâu sắc, thấm vào đời sống như một phần tự nhiên của văn hóa.
Huế nằm ở vùng đất trung độ của đất nước, nơi khí hậu giao thoa giữa Bắc và Nam, nơi địa hình trải dài từ núi cao xuống đồng bằng, ra đến phá Tam Giang và biển cả. Chính sự đa dạng ấy đã ban tặng cho Huế một nguồn nguyên liệu phong phú hiếm có. Từ rau rừng, cá sông, tôm phá đến hải sản biển, từ các loại gia vị dân dã đến những sản vật quý hiếm, tất cả như hội tụ về đây, tạo nên một nền tảng tự nhiên đầy ưu đãi cho nghệ thuật ẩm thực phát triển.
Nhưng Huế không chỉ có thiên nhiên. Lịch sử của vùng đất này là lịch sử của những cuộc gặp gỡ. Từ dòng chảy văn hóa Việt từ Bắc vào, hòa quyện với dấu ấn Champa, Chân Lạp, với những ảnh hưởng từ phương Nam, từ cộng đồng Minh Hương… tất cả đã tạo nên một tầng văn hóa đa sắc. Và rồi, khi Huế trở thành thủ phủ của Đàng Trong từ thế kỷ XVII, rồi kinh đô của đất nước dưới triều Tây Sơn và Nguyễn, nơi đây trở thành chốn hội tụ của nhân tài bốn phương. Trong số đó, có những con người mang theo cả bí quyết ẩm thực, tinh hoa chế biến, để rồi qua thời gian, nâng chuyện ăn uống lên thành một thứ nghệ thuật thực sự.
Ẩm thực Huế vì thế không đơn thuần là món ăn. Nó là kết tinh của lịch sử, của trí tuệ và của một lối sống tinh tế. Không phải ngẫu nhiên mà nơi đây có "Thực phổ bách thiên", một thực đơn trăm món viết bằng thơ, hay có những thiết chế như "Nữ công học hội" từ đầu thế kỷ XX, nơi việc nội trợ được xem là một lĩnh vực cần học hỏi, rèn luyện. Ẩm thực, trong cảm thức Huế, luôn gắn với phẩm chất con người, với "công – dung – ngôn – hạnh", với một nếp sống chuẩn mực và thanh nhã.
Nếu nhìn vào số lượng món ăn, có thể thấy rõ điều đó: trong khoảng 1700 món ăn truyền thống của Việt Nam, riêng Huế đã chiếm tới 1300 món. Nhưng điều đáng nói không nằm ở con số, mà ở chiều sâu. Ẩm thực Huế được tổ chức thành nhiều hệ như: Cung đình, dân gian, chay Phật giáo… mỗi hệ là một thế giới riêng, nhưng lại có sự giao thoa tinh tế.
Ẩm thực cung đình Huế là đỉnh cao của sự chọn lọc
Trò chuyện với PV, ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Tp.Huế cho biết, ẩm thực cung đình Huế là đỉnh cao của sự chọn lọc và nâng cấp từ dân gian. Ở đó, mỗi món ăn không chỉ ngon mà còn phải bổ, phải hài hòa trong một "phương thang" chung, góp phần điều hòa cơ thể, tăng cường sức khỏe cho nhà vua. Bữa ăn của vua không phải là sự phô trương, mà là một hệ thống được kiểm soát chặt chẽ bởi đội Thượng Thiện và viện Thái Y.
Theo ông Hải, mỗi món do một nghệ nhân phụ trách, nhưng tất cả phải hòa vào tổng thể. Có những bữa ăn thường nhật đã lên đến hàng chục món, và yến tiệc thì có thể lên đến hàng trăm. Giữa những món cao lương mỹ vị như nem công, chả phụng, vẫn hiện diện những món dân dã như cá kho, dưa kiệu, xôi vò… như một sự nhắc nhớ về cội nguồn.
Ẩm thực dân gian Huế lại mang một vẻ đẹp khác. Vẫn là sự cầu kỳ, nhưng không phải để phô diễn, mà để làm đẹp cho đời sống. Một bữa cơm của người Huế bình dân có thể có đến cả chục món, được bày biện chỉn chu như một mâm cỗ nhỏ.
"Không chỉ ăn, người Huế còn biết uống, và uống cũng thành nghệ thuật. Trà trong cung đình được pha bằng những bộ ấm chén tinh xảo, có khi đặt từ tận Giang Tây, Trung Quốc. Trong dân gian, trà sen, trà lài, nước gạo rang, nước lá vằng… đều mang những sắc thái riêng. Rượu thì có Minh Mạng thang với hàng chục loại khác nhau, đây là một dòng rượu bổ vừa là thức uống, vừa là phương thuốc. Cà phê, dù du nhập muộn hơn, lại nhanh chóng trở thành một phần của đời sống Huế, đi vào thi ca, âm nhạc như một thói quen đầy chất suy tư.
Tất cả những điều đó dẫn đến một nhận thức rất đặc trưng với người Huế, ăn uống là văn hóa. Một bữa ăn không chỉ để no, mà là sự hội tụ của âm – dương, ngũ hành, của màu sắc, hương vị, hình thức. Ăn không chỉ bằng miệng, mà còn bằng mắt, bằng tai, bằng mũi, và cuối cùng là bằng tâm. Khi đạt đến mức ấy, ẩm thực không còn là nhu cầu sinh học, mà trở thành một trải nghiệm thẩm mỹ, một hành vi văn hóa", ông Hải nhấn mạnh.
Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Tp.Huế chia sẻ thêm, thời gian đã trôi qua, Huế không còn là kinh đô, nhưng ẩm thực Huế vẫn tiếp tục hành trình của mình. Nó theo chân người Huế đi khắp mọi miền, trở thành một sứ giả văn hóa thầm lặng. Nhưng có lẽ, để cảm nhận trọn vẹn nhất, người ta vẫn nên đến Huế. Bởi chỉ trong không gian ấy, giữa sông nước, cây cỏ, giữa nhịp sống chậm và những ký ức còn vang vọng, người ta mới thực sự hiểu vì sao ẩm thực Huế lại có thể quyến rũ đến vậy.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký ban hành Công điện số 40 ngày 19/5/2026 về tăng cường công tác phòng, chống đuối nước đối với trẻ em.
Theo đó, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tăng cường các biện pháp phòng, chống đuối nước đối với trẻ em, học sinh, đặc biệt trong dịp hè và mùa mưa bão - thời điểm nguy cơ tai nạn gia tăng.
Công điện nêu rõ, dù thời gian qua công tác bảo vệ trẻ em đã có chuyển biến tích cực, song tình trạng đuối nước vẫn xảy ra ở nhiều nơi, gây hậu quả nghiêm trọng. Trước thực tế này, Thủ tướng yêu cầu triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn cho trẻ em trên phạm vi cả nước.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là rà soát, cảnh báo và xử lý các khu vực tiềm ẩn nguy cơ như ao, hồ, sông, suối, hố nước, công trình chứa nước. Các địa phương phải chủ động cắm biển cảnh báo, làm rào chắn, bố trí lực lượng nhắc nhở tại các điểm nguy hiểm.
Bên cạnh đó, công điện yêu cầu đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục kỹ năng phòng, chống đuối nước cho trẻ em, tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và chính quyền trong quản lý, giám sát học sinh, nhất là trong thời gian nghỉ hè.
Các cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ phổ biến kiến thức, kỹ năng an toàn trong môi trường nước, đồng thời thúc đẩy phong trào dạy bơi an toàn cho học sinh.
Thủ tướng cũng chỉ đạo tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ dạy bơi, hỗ trợ chi phí học bơi cho trẻ em, đặc biệt tại các địa bàn có nguy cơ cao. Công tác thanh tra, kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên, làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra các vụ việc đáng tiếc.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

