Từ hôm nay 1.7, luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực. Theo luật này, có 10 hành vi bị xác định là trốn thuế.
Ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, nhìn nhận, trong 10 hành vi, người nộp thuế cần hết sức lưu ý 5 hành vi trốn thuế phổ biến, tránh rơi vào tình trạng bị xác định là trốn thuế do thiếu hiểu biết.
Thứ nhất là không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của luật dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn.
Trường hợp này thường do thiếu kiến thức, hiểu biết dẫn đến hành vi trốn thuế. Ví dụ, giai đoạn thuế khoán trước đây, hộ kinh doanh đã được thành lập (đã được cấp giấy phép hộ kinh doanh), nhưng do thiếu hiểu biết, chủ hộ kinh doanh không thực hiện bước khai báo với cơ quan thuế, dẫn đến đã kinh doanh trên thực tế, nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ thuế.
Hiện nay, sau khi được cấp giấy phép kinh doanh, hộ kinh doanh cần lưu ý làm việc ngay với cơ quan thuế để được đăng ký thuế, hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ, tránh trường hợp đáng tiếc xảy ra.
Thứ hai là không ghi chép, ghi nhận trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.
Đây là trường hợp xảy ra rất phổ biến vừa qua. Ví dụ như hành vi lập 2 hệ thống sổ sách, gồm sổ nội bộ và sổ thuế; hay dùng tài khoản cá nhân của chủ doanh nghiệp, người thân và nhân viên để nhận tiền bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ… dẫn đến hành vi không ghi nhận trong sổ sách kế toán.
“Thực tế, chủ doanh nghiệp và chủ hộ kinh doanh có nhận thức hành vi trốn thuế nhưng nghĩ rằng có thể qua mặt được cơ quan thuế nên vẫn thực hiện hành vi. Tuy nhiên, các hành vi này đều để lại những dấu hiệu giúp cơ quan thuế nhận diện”, ông Tuấn nói.
Thứ ba là không lập hóa đơn và không kê khai thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán để khai thuế.
Trên thực tế, doanh nghiệp và hộ kinh doanh có thể đã bán hàng cho người dân nhưng không xuất hóa đơn (vì người dân không có nhu cầu lấy hóa đơn), hoặc bán hàng thu tiền mặt, nhưng không xuất hóa đơn.
Chủ doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh có thể nhận thức hành vi trốn thuế nhưng vẫn thực hiện với mong muốn trốn tránh nghĩa vụ thuế. Với hộ kinh doanh, một số trường hợp xuất phát từ sự thiếu hiểu biết khi chưa làm quen được quy định hóa đơn chứng từ.
Với hành vi doanh nghiệp xuất hóa đơn cho hộ kinh doanh với giá thấp hơn thực tế, ông Tuấn cho biết, vừa qua, nhiều hộ kinh doanh phản ánh, họ mua hàng giá 100 đồng, đã thanh toán 100 đồng, nhưng trên thực tế, doanh nghiệp chỉ xuất hóa đơn 70 đồng hoặc 80 đồng. Như vậy, đây là hành vi trốn thuế có chủ đích từ ban đầu.
“Chủ hộ kinh doanh cần yêu cầu doanh nghiệp xuất hóa đơn đúng giá thực tế thanh toán để có hóa đơn đầu vào, để kê khai chi phí, hoặc hạn chế bị hệ thống cơ quan thuế nhận diện rủi ro thông qua hệ số K”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Hành vi trốn thuế phổ biến thứ tư được ông Tuấn đề cập là sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để hạch toán hàng hóa, dịch vụ mua vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
Đây là hành vi gian lận tiền thuế có chủ đích, dẫn đến các hình phạt rất nghiêm khắc. Điều này xuất phát từ thói quen khi còn sử dụng hóa đơn giấy. Hành vi mua – bán hóa đơn rất phổ biến trong giai đoạn đó, do khó phát hiện ra.
Nhưng khi sử dụng hóa đơn điện tử, cơ quan thuế có hệ thống giám sát bằng hệ số K (K = tổng giá trị hàng hóa bán ra: (hàng tồn kho + hàng mua vào), hoặc truy vết từ chuỗi giao dịch, giám sát bằng dữ liệu… để phát hiện các tình huống bất thường.
“Hiện nay, rất nhiều hộ kinh doanh đã phải giải trình hệ số K bất thường với cơ quan thuế. Chủ doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh phải nâng cao sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật thuế”, ông Tuấn nói.
Hành vi cuối cùng là sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
Đây là hành vi trốn thuế có chủ đích. Các hành vi phổ biến như: kê khống chi phí lương không có thực (dùng căn cước công dân của người khác để tạo lập khống hồ sơ chi phí lương); các khoản chi cho cá nhân và gia đình, nhưng lấy hóa đơn về cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh…
UBND TP.Hà Nội đang lấy ý kiến dự thảo nghị quyết của HĐND thành phố về mức bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đang được tham vấn ý kiến.
Theo dự thảo, Hà Nội đề xuất tăng mức bồi thường bằng tiền lên bằng 1,5 lần so với quy định khi thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội (cơ quan soạn thảo), giai đoạn từ 1/7/2024 đến nay, khi áp dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án lớn, quan trọng của thủ đô, nhìn chung nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân.
Tuy nhiên, các quy định này cũng tạo ra sự không thống nhất, chưa công bằng với người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi để thực hiện các dự án không phải là dự án lớn, dự án quan trọng của thủ đô.
Từ thực tiễn trên, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho rằng, việc ban hành nghị quyết mới (thực hiện quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16) là cần thiết; đảm bảo hành lang pháp lý thống nhất thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố.
Đề xuất này nhằm "không phân biệt" giữa việc thu hồi đất để thực các dự án lớn, quan trọng của thủ đô và các dự án khác. Chính sách mới cũng đảm bảo tính thống nhất, công bằng với người sử dụng đất.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội giải thích rằng việc ban hành các chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất trên địa bàn giúp đáp ứng yêu cầu về huy động nguồn lực đất đai trong kỷ nguyên mới.
Theo cơ quan này, chính sách đặc thù cũng sẽ thúc đẩy đầu tư, phát triển hạ tầng, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng và triển khai dự án đúng tiến độ.
Trong năm 2026, Hà Nội đã lên kế hoạch thu hồi hơn 24.800 ha đất cho 3.133 dự án để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Hiện, trên địa bàn thành phố đang giải phóng khoảng 1.428 dự án, trong đó có 1.281 dự án vốn ngân sách và 147 dự án vốn ngoài ngân sách. Trong số này, có 27 công trình, dự án lớn, quan trọng, trọng điểm góp phần tháo gỡ điểm nghẽn, phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô.
Từ nay đến 2030, Thủ đô đã lên kế hoạch thu hồi 24.824 ha đất cho 3.133 dự án để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng. Trong đó, hơn 1.000 dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách để đầu tư các công trình hạ tầng giao thông, trên 350 dự án dùng đất cho giáo dục.
Một năm sau khi Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị xác lập kinh tế tư nhân là "một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế", khu vực doanh nghiệp tư nhân đang cho thấy nhiều chuyển động mới. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh, niềm tin kinh doanh dần cải thiện, nhiều địa phương chủ động hơn trong cải cách và hỗ trợ doanh nghiệp.
Theo nhìn nhận của TS. Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), năm 2025 là một năm rất đặc biệt khi diễn ra đồng thời nhiều thay đổi lớn, trong đó có việc tinh gọn, sắp xếp lại bộ máy hành chính địa phương và việc ban hành Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị.
"Lần đầu tiên vai trò của khu vực kinh tế tư nhân được xác lập, được khẳng định. Chưa bao giờ khu vực kinh tế tư nhân có cơ hội, có dư địa và có lực đẩy như hiện nay", ông Tuấn nói.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, đây cũng là giai đoạn các địa phương đặt ra mục tiêu tăng trưởng rất cao và đang có nhiều thay đổi trong điều hành, phát triển kinh tế. Điểm đáng chú ý nhất sau một năm không chỉ nằm ở các chính sách cụ thể, mà ở sự thay đổi trong tư duy phát triển. Nếu trước đây khu vực tư nhân chủ yếu được nhìn dưới góc độ "hỗ trợ", thì nay nhiều địa phương đã bắt đầu xem doanh nghiệp tư nhân là lực lượng trung tâm của tăng trưởng kinh tế địa phương.
TS. Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh, Việt Nam hiện đã có hơn 1 triệu doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động. Riêng năm 2025, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt khoảng 297.000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp tư nhân hiện "đông về số lượng nhưng nhỏ về quy mô".
Theo số liệu được ông Tuấn dẫn lại, gần 80% doanh nghiệp tư nhân hiện dưới 50 lao động; khoảng 70% có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng. Tỉ lệ doanh nghiệp dưới 10 lao động vẫn chiếm hơn 45%.
Ông Tuấn cho rằng quy mô nhỏ có thể tạo sự linh hoạt, nhưng lại đặt ra thách thức lớn đối với việc tích lũy, đầu tư công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng ở mức cao.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, năm 2025 có khoảng 227.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Điều này cho thấy áp lực tồn tại và sức chống chịu của doanh nghiệp vẫn rất lớn. Kết quả khảo sát của VCCI tại Lễ công bố Báo cáo Kinh tế Tư nhân Việt Nam vừa qua cũng cho thấy phần lớn doanh nghiệp vẫn giữ tâm lý thận trọng. Khoảng 55% doanh nghiệp cho biết dự định giữ nguyên quy mô hoạt động trong thời gian tới; tỉ lệ doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng quy mô khoảng 30,9%.
Một điểm đáng chú ý khác là khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay không còn là vốn như nhiều năm trước, mà là tìm kiếm khách hàng và thị trường đầu ra.
Theo ông Tuấn, tỉ lệ doanh nghiệp phản ánh khó khăn về tìm kiếm khách hàng đã tăng từ 45,3% năm 2024 lên 60,2% năm 2025. Khó khăn này xuất hiện ở nhiều lĩnh vực, không chỉ với doanh nghiệp xuất khẩu mà cả các doanh nghiệp phục vụ thị trường nội địa.
Theo ông, đây là vấn đề các địa phương cần quan tâm hơn trong thời gian tới thông qua các chương trình kết nối thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng các hiệp định thương mại tự do và mở rộng chuỗi cung ứng.
Bên cạnh thị trường đầu ra, tiếp cận vốn vẫn là khó khăn thường trực của doanh nghiệp tư nhân. Ông Đậu Anh Tuấn cho biết, hiện có khoảng 75% doanh nghiệp không thể vay vốn nếu không có tài sản thế chấp. Trong khi đó, theo số liệu điều tra của Ngân hàng Thế giới được ông dẫn lại, khoảng 93% khoản vay tại Việt Nam yêu cầu tài sản bảo đảm.
Ông cho rằng sự phụ thuộc lớn vào vốn tín dụng ngân hàng đang tạo áp lực lớn với doanh nghiệp tư nhân trong mở rộng sản xuất và đầu tư.
Một vấn đề khác được ông Tuấn nhắc tới là tình trạng khó dự báo của môi trường chính sách. Theo ông, tốc độ thay đổi chính sách hiện nay diễn ra rất nhanh, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không có nhân sự chuyên trách để theo dõi và cập nhật.
Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo là một trong những thách thức lớn của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay. Hiện tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo còn khá thấp so với nhiều nước trong khu vực; chỉ khoảng 17,5% doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm mới trong 3 năm gần đây; khoảng 11% doanh nghiệp vừa và lớn có chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D).
Theo ông Tuấn, muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất toàn cầu thì đổi mới sáng tạo là yếu tố rất quan trọng. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp tư nhân hiện vẫn phát triển từ mô hình hộ kinh doanh cá thể, nên chất lượng quản trị còn hạn chế.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, trong nhiều năm qua, các địa phương đã có nhiều cải thiện trong cắt giảm thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian gia nhập thị trường và giảm chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, sự thông thoáng của thủ tục hành chính là chưa đủ. Trong giai đoạn tới, sự khác biệt giữa các địa phương sẽ nằm ở vai trò kiến tạo của chính quyền, khả năng tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và triển khai các chính sách hỗ trợ hiệu quả hơn.
"Môi trường kinh doanh không chỉ là gạt bỏ rào cản hành chính thuận lợi hơn về thủ tục hành chính, mà còn phải tạo lập môi trường cạnh tranh công bằng hơn, tiếp cận nguồn lực công khai minh bạch hơn", ông Đậu Anh Tuấn nói.
Ông cũng nhấn mạnh cần quan tâm nhiều hơn tới khu vực hộ kinh doanh - nơi hiện có hàng triệu lao động phụ thuộc sinh kế.
Theo ông Tuấn, để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, điều quan trọng là tạo động lực để hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, thay vì tạo thêm áp lực về thủ tục và chi phí tuân thủ.
Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới khi khu vực kinh tế tư nhân lần đầu tiên được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Ông Đậu Anh Tuấn cho rằng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ này, điều quan trọng là phải giải phóng mạnh mẽ hơn sức sản xuất của khu vực tư nhân.
Thông tư 40 miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải. Cụ thể miễn phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không (trừ phí thẩm định cấp giấy phép ra vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay) quy định tại biểu mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không ban hành kèm theo Thông tư số 193/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không.
Miễn phí, lệ phí hàng hải đối với tàu thuyền vào, rời khu vực hàng hải quy định tại chương III Thông tư số 261/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về phí, lệ phí hàng hải và biểu mức thu phí, lệ phí hàng hải được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 90/2019 và Thông tư 74/2021.
Miễn phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam quy định tại khoản 1 điều 4 Thông tư 39/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa.
Miễn phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia do nhà nước đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 điều 3 Thông tư số 11/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt.
Thông tư 40 có hiệu lực thi hành từ ngày 7.4 đến 30.6. Từ ngày 1.7, các khoản phí, lệ phí quy định trên sẽ thực hiện theo quy định tại các thông tư được viện dẫn và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).
Ngoài ra, không áp dụng mức thu phí thẩm định cấp chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận trong hoạt động hàng không dân dụng, phí đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tàu bay, phí trình báo đường thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam tương ứng tại số thứ tự 3 và 10 điều 1 Thông tư số 64/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30.6.