Mức hỗ trợ này nằm trong chính sách học bổng cho người học ở các lĩnh vực trên, được Chính phủ ban hành ngày 22/5.
Chính sách nhằm khuyến khích sinh viên đại học, học viên cao học (thạc sĩ, tiến sĩ) trong những lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước, theo nguyên tắc bảo đảm nhu cầu học tập, sinh hoạt tối thiểu. Mức hỗ trợ cụ thể (triệu đồng/tháng) như sau:
Sinh viên được nhận hỗ trợ tối đa 10 tháng một năm, không quá 4 năm với chương trình cử nhân và 5 năm với kỹ sư. Học viên thạc sĩ, tiến sĩ được nhận nguyên năm, theo thời gian đào tạo chuẩn của chương trình.
Danh sách 15 nhóm ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược được hưởng chính sách học bổng gồm:
Năm học 2024-2025, nhóm ngành STEM, trong đó chủ đạo là các ngành công nghệ – kỹ thuật, có gần 686.000 sinh viên, chiếm trên 33% tổng quy mô đào tạo ở đại học. Dù tăng đều trong vài năm gần đây, số này thấp hơn các nước trong khu vực và thế giới, như Singapore (46%) và Malaysia (50%).
Việt Nam dự kiến nhóm này đạt trên một triệu người học vào năm 2030.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Xác định số lượng tuyển sinh theo quy định mới, trường ĐH chuẩn bị ra sao?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 - 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: "Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ".
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
"Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước", tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
"Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học... theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động".
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
"Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn đề xuất.
"Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 - 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất", tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo đó, Sở GD&ĐT TPHCM sẽ mở cổng tra cứu kết quả khảo sát tại địa chỉ: htttps://tuyensinhdaucap.hcm.edu.vn/dang-ky-khao-sat
Tên đăng nhập là mã định danh của học sinh, mật khẩu là ngày tháng năm sinh của học sinh định dạng ddmmyyyy.
Năm học 2026-2027 là năm đầu tiên TPHCM tổ chức mở rộng quy mô khảo sát vào lớp 6 sau sáp nhập, bao gồm cả khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu đối với Trường THCS Nguyễn An Ninh.
Các trường được TPHCM tổ chức khảo sát lớp 6 vào năm nay gồm: THCS và THPT Trần Đại Nghĩa, phường Sài Gòn; THCS Hoa Lư, phường Tăng Nhơn Phú; THCS Bình Thọ, phường Thủ Đức; THCS Trần Quốc Toản, phường Bình Trưng; THCS Nguyễn An Ninh, phường Tam Thắng, với tổng số gần 8.400 học sinh tham gia.
Trong đó, Trường THCS và THPT Trần Đại Nghĩa có mức tỷ lệ chọi cao nhất lên đến 1/12 khi có 4.225 thí sinh đăng ký dự khảo sát, với 350 chỉ tiêu.
Kế đến là Trường THCS Bình Thọ với mức chọi là 1/3,67 khi có 1.157 thí sinh đăng ký dự khảo sát, chỉ tiêu 315 học sinh.
Trường THCS Nguyễn An Ninh với mức chọi 1/2,9 khi ghi nhận 812 thí sinh đăng ký dự khảo sát, chỉ tiêu 280 học sinh.
Các trường THCS Hoa Lư, THCS Trần Quốc Toản với mức chọi tương đương nhau với 1/2,8 khi ghi nhận lần lượt là 1.186 thí sinh đăng ký dự khảo sát với chỉ tiêu 420 học sinh và 981 thí sinh đăng ký dự khảo sát với chỉ tiêu 350 học sinh.
Về công tác tổ chức, Sở GD&ĐT TPHCM phụ trách tổ chức khảo sát đối với Trường THCS và THPT Trần Đại Nghĩa. Các trường còn lại do UBND phường tổ chức.
Năm nay, đề khảo sát vào lớp 6 Trường THCS và THPT Trần Đại Nghĩa được giữ ổn định như các năm trước.
Bài khảo sát sẽ diễn ra trong thời gian 90 phút, gồm phần trắc nghiệm 20 câu (làm trong thời gian 30 phút); phần tự luận (làm trong thời gian 60 phút). Trong đó, phần tự luận gồm 3 nội dung: Khảo sát năng lực tiếng Anh (nghe hiểu, đọc hiểu, viết) bằng tiếng Anh; Khảo sát năng lực toán học và tư duy logic bằng tiếng Việt; Khảo sát năng lực đọc hiểu và làm văn làm bài bằng tiếng Việt.
Với đề khảo sát vào lớp 6 của 4 trường còn lại được giữ cấu trúc tương tự đề khảo sát vào lớp 6 của Trường THCS và THPT Trần Đại Nghĩa, tuy nhiên với phần khảo sát năng lực tiếng Anh (phần tự luận) chỉ có đọc và viết, sẽ không kiểm tra năng lực nghe hiểu của thí sinh (không có phần thi nghe).
Yến Hoa
Tin Gốc: Dân Trí

Lẽ thường thì lễ bế giảng phải dành cho học sinh là chính nhưng thực tế ở nhiều ngôi trường, suốt nhiều năm qua hoạt động này lại chủ yếu do thầy cô tổ chức, là dịp để nhà trường báo cáo thành tích, cảm ơn lãnh đạo, đối tác... Dành cho học sinh, có chăng, là tiết mục khen thưởng và phát biểu cảm nghĩ.
"Nếu để học sinh cùng tham gia tổ chức và lấy tiêu chí dành cho học sinh là chính thì lễ bế giảng sẽ khác ngay: sôi động, trẻ trung, cảm xúc và đặc biệt là thu hút học sinh" - một lãnh đạo phụ trách ngành giáo dục đào tạo ở phía Nam nhận xét như vậy sau khi dự lễ bế giảng của Trường phổ thông Duy Tân (phường Bình Kiến, tỉnh Đắk Lắk, trước đây là TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên).
Ngồi từ đầu tới cuối buổi lễ, chứng kiến toàn bộ hoạt động, ông khẳng định khi có học sinh tham gia, lễ bế giảng, khai giảng hoặc các hoạt động khác của nhà trường sẽ là "một mũi tên trúng nhiều đích".
"Trước hết, đó là bài học sinh động cho học sinh về kỹ năng tổ chức và quản trị sự kiện, kỹ năng làm việc nhóm, sự sáng tạo. Thứ hai, thể hiện sự tin tưởng, trao quyền của nhà trường cho học sinh.
Thứ ba, các hoạt động sẽ thu hút sự tham gia, chú ý, dõi theo của toàn thể học sinh từ đầu tới cuối, sẽ không có cảnh ngủ gật, ngáp ngắn ngáp dài, không có chuyện học sinh nói chuyện, làm việc riêng, không có việc bỏ về sớm giữa chừng", vị lãnh đạo phân tích.
Là người từng dự rất nhiều lễ khai giảng, bế giảng cũng như các hoạt động trong nhà trường, ông cho biết chính mình cũng bị hút vào lễ bế giảng của Trường phổ thông Duy Tân.
"Không chỉ học sinh mà chính các thầy cô và khách mời cũng bất ngờ, thú vị với những màn biểu diễn, những ý tưởng, những phát biểu của các em học sinh. Bản thân tôi cũng học được nhiều điều từ lễ bế giảng này", ông nói thêm.
Trường phổ thông Duy Tân có gần 2.000 học sinh thuộc ba khối: tiểu học, THCS và THPT. Để lễ bế giảng thực sự dành cho học sinh, nhà trường đã tổ chức ba lễ bế giảng riêng biệt. Đầu tiên là dành cho học sinh khối THPT, diễn ra sáng 22-5 (buổi chiều là lễ tri ân, trưởng thành); tiếp đó là dành cho khối tiểu học (sáng 23-5) và THCS (chiều 23-5).
"Chúng tôi làm như vậy để lễ bế giảng diễn ra không quá dài, khiến học sinh mệt mỏi và chờ đợi lâu. Tại mỗi lễ bế giảng, học sinh được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia và đóng góp ý tưởng, cách thức tổ chức", NGƯT - PGS.TS Lê Văn Nam, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết.
Có chứng kiến màn tri ân trưởng thành (của lớp 12) hoặc các tiết mục biểu diễn văn nghệ, phát biểu ấn tượng không cần cầm giấy, bằng tiếng Việt và tiếng Anh của học sinh "Công dân toàn cầu" tiêu biểu nhất của khối tiểu học, em Lê Ngân An, mới thấy cái gì đến từ học sinh, do học sinh, vì học sinh thì chắc chắn sẽ có học sinh.
Màn khen thưởng tại lễ bế giảng cũng là câu chuyện đáng nói. Ở nhiều nhà trường, khen thưởng chỉ mang tính chất đại diện và chỉ dành cho học sinh có thành tích học tập tốt, còn ở Trường phổ thông Duy Tân, khen thưởng là khích lệ, động viên học sinh và quan trọng là lan tỏa, truyền cảm hứng.
"Gần như tất cả học sinh của trường đều được tặng thưởng tại lễ bế giảng. Chúng tôi khen học sinh vì các em thể hiện sự tiến bộ so với chính mình trước đây, chứ không chỉ khen thưởng học sinh có kết quả học tập tốt, thành tích đặc biệt.
Nghĩa là khen thưởng là để khích lệ chứ không phải để đề cao em này và nhiều khi khiến em kia tổn thương, cũng không phải để so sánh giữa học sinh với nhau" - ThS Hoàng Anh Tuấn, Phó hiệu trưởng nhà trường, nói.
Thầy Tuấn cho biết thêm nhà trường chủ trương không chỉ khen thưởng vì thành tích học tập mà những học sinh có nỗ lực và đạt được kết quả tốt về văn - thể - mỹ hoặc có các hành động đẹp, việc làm hay cũng đều được ghi nhận và tưởng thưởng.
"Việc khen thưởng không chỉ vinh danh các cá nhân, tập thể mà còn thông qua đó lan tỏa, truyền cảm hứng học tập, rèn luyện cho học sinh, đồng thời khích lệ, động viên các em nỗ lực để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình mỗi ngày", thầy Tuấn chia sẻ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

