Thông tin được các chuyên gia chia sẻ tại hội thảo liên ngành bàn giải pháp phòng, chống đuối nước trẻ em do Bộ Y tế tổ chức ngày 10/7 tại Đà Nẵng.
Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS.TS Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế, cho biết Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong phòng, chống đuối nước trẻ em khi có mạng lưới sông ngòi dày đặc, đường bờ biển dài và chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, thiên tai.
Trong khi đó, nhận thức của một bộ phận người dân, sự giám sát của gia đình và kỹ năng sinh tồn an toàn trong môi trường nước của trẻ em tại nhiều vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn hạn chế.
Số liệu thống kê từ 34 sở giáo dục và đào tạo cho thấy tính đến ngày 15/6, tỷ lệ trường học có bể bơi mới đạt gần 12% (2.919/25.090 trường). Tỷ lệ học sinh biết bơi đạt 41%. Trung bình mỗi trường chỉ có 0,57 giáo viên được cấp chứng nhận dạy bơi.
Đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh nguyên nhân chính đến từ hạn chế về kinh phí đầu tư cơ sở vật chất và nguồn lực xã hội hoá, đặc biệt tại các địa phương vùng sâu, vùng xa.
Theo Thứ trưởng, cần xây dựng các giải pháp phù hợp cho giai đoạn 2026-2030, đồng thời triển khai hiệu quả Quyết định 1248 về Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2021-2030 và các văn bản liên quan của Bộ Y tế. Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp liên ngành và sự vào cuộc của toàn xã hội; đổi mới, đa dạng hóa các hình thức truyền thông.
Chuyên gia đề xuất đưa bơi an toàn vào chương trình chính khóa
Thạc sĩ Đoàn Thị Thu Huyền, Giám đốc Chương trình tại Việt Nam, Tổ chức Chiến dịch Trẻ em Không thuốc lá, cũng nhấn mạnh: “Trước bối cảnh thời tiết, khí hậu ngày càng cực đoan, nguy cơ đuối nước có thể trở nên nghiêm trọng hơn, đặc biệt ở vùng nông thôn và những địa bàn thường xuyên chịu tác động của thiên tai”.
Vì vậy, phòng chống đuối nước cần được nhìn nhận không chỉ như một vấn đề y tế công cộng, mà còn là một vấn đề của phát triển bền vững và bảo đảm quyền trẻ em.
Bà cho rằng cần lồng ghép mục tiêu phòng chống đuối nước trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và kế hoạch bảo vệ trẻ em của địa phương; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn rõ ràng về nội dung, thời lượng và đội ngũ giảng dạy bơi an toàn; thiết lập cơ chế theo dõi sau đào tạo thay vì chỉ đo đếm số trẻ tham gia
Chung quan điểm, PGS.TS Phạm Việt Cường, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thương, Trường Đại học Y tế Công cộng, cho rằng thành công ngắn hạn của các dự án can thiệp không tự động tạo ra tác động sức khỏe dài hạn nếu thiếu tính thể chế hóa. Kỹ năng bơi an toàn của trẻ có thể suy giảm tới gần 50% chỉ sau 6 tháng nếu không được ôn luyện nhắc lại.
Từ kinh nghiệm quốc tế và các mô hình trong nước tại Đồng Tháp, Quảng Trị, Huế, ông đề xuất tăng cường thể chế hóa và duy trì nguồn kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước, chuyển từ ngân sách dự án sang ngân sách địa phương kết hợp cơ chế đồng chi trả và huy động nguồn lực tư nhân.
Bên cạnh đó, cần lồng ghép bơi an toàn vào chương trình giáo dục chính khóa với tiêu chuẩn đầu ra nghiêm ngặt (bơi 25m, nổi/đứng nước 90 giây) và đội ngũ giáo viên được tập huấn, cấp chứng nhận. Song song với đó tối ưu hóa hạ tầng bể bơi, gồm bể bơi thông minh/di động cho vùng sâu, vùng xa, vùng nguy cơ lũ lụt và cơ chế sử dụng chung giữa các trường lân cận; tổ chức đào tạo, kiểm tra kỹ năng định kỳ theo lộ trình…
Trước đó, vào ngày 10-4, cơ quan y tế đã ghi nhận 3 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh do não mô cầu có liên quan đến trại giam này.
Điều tra dịch tễ và kết quả xét nghiệm từ Viện Pasteur TP.HCM cho thấy đã có 2 trường hợp được xác định dương tính với não mô cầu.
Các bệnh nhân bao gồm ông A. (66 tuổi, đã tử vong vào ngày 9-4) và H. (31 tuổi). Cả hai đều có yếu tố dịch tễ liên quan, cùng sinh hoạt và lao động ngay trong khuôn viên Trại giam Cái Tàu.
Ngay khi ghi nhận ca bệnh, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Cà Mau đã phối hợp với các đơn vị liên quan để điều tra, xác minh và xử lý ổ dịch.
Cơ quan chức năng đã phun khử khuẩn khu vực liên quan, đồng thời tăng cường truyền thông, hướng dẫn các biện pháp vệ sinh cá nhân, đeo khẩu trang và theo dõi triệu chứng nghi ngờ.
Lực lượng y tế đã lập danh sách, quản lý, theo dõi sức khỏe và cho 2.350 người tiếp xúc gần uống thuốc dự phòng Azithromycin 0,5g liều duy nhất.
Danh sách này bao gồm những người ở trong Trại giam Cái Tàu, nhân viên y tế, cùng các cá nhân ngoài trại giam có liên quan đến yếu tố dịch tễ.
Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Cà Mau Trần Hiến Khóa cho biết, căn cứ vào kết quả giám sát và hàng loạt biện pháp xử lý đã được triển khai khẩn trương, ổ dịch tại Trại giam Cái Tàu đã qua 10 ngày kể từ khi phát hiện ca bệnh không ghi nhận thêm trường hợp mắc mới nào nên đủ điều kiện tuyên bố kết thúc.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC, cho biết trẻ vị thành niên là nhóm có tỷ lệ mang vi khuẩn não mô cầu ở vùng hầu họng cao gấp đôi so với dân số chung. Nhóm này vừa đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao, vừa tiềm ẩn nguồn lây trong cộng đồng.
Theo thống kê từ Bộ Y tế, đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 24 ca mắc bệnh não mô cầu, đáng lưu ý, trẻ dưới 15 tuổi chiếm tới 46% tổng số ca mắc. Bộ Y tế đã cảnh báo nguy cơ lây lan dịch trong cộng đồng, đặc biệt tại các môi trường tập trung đông trẻ em như trường học, nhà trẻ và khu vui chơi.
Vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis cư trú ở vùng hầu họng của con người và lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc gần với dịch tiết chứa mầm bệnh. Khi hệ miễn dịch suy giảm hoặc niêm mạc hô hấp bị tổn thương, vi khuẩn có thể nhanh chóng xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng huyết tối cấp hoặc tấn công lên não gây viêm màng não.
Bác sĩ Chính cho biết não mô cầu gây 2 thể bệnh thường gặp là viêm màng não (chiếm hơn 50% các trường hợp bệnh do não mô cầu xâm lấn) hoặc nhiễm trùng huyết tối cấp (chiếm từ 5 - 20%). Đây là 2 thể bệnh chính, có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời với tốc độ diễn tiến rất nhanh, nhiều trường hợp ban ngày trẻ còn đi học nhưng chỉ sau vài giờ đã rơi vào tình trạng nguy kịch. Một số trường hợp ít gặp hơn bao gồm viêm phổi (chiếm từ 5 - 15%), viêm kết mạc, viêm tai giữa, viêm thanh môn, viêm khớp, viêm niệu đạo, viêm màng ngoài tim.
Các chuyên gia cho rằng trẻ dưới 15 tuổi đối mặt với "nguy cơ kép" khi vừa dễ mang vi khuẩn não mô cầu, vừa có nguy cơ diễn tiến nặng khi mắc bệnh. Theo Hội Y học dự phòng, tỷ lệ mang vi khuẩn ở nhóm này có thể lên tới 25 - 32%, cao nhất trong các độ tuổi, với nguy cơ mắc bệnh có thể gấp đôi dân số chung. Trong khi đó, thanh thiếu niên lại có nguy cơ lây lan cao trong môi trường tập thể như trường học, ký túc xá, sinh hoạt đông người.
Việt Nam đang lưu hành đồng thời 5 nhóm huyết thanh gây bệnh não mô cầu gồm A, B, C, Y và W. Bác sĩ Chính khuyến cáo tiêm chủng là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa và kiểm soát dịch não mô cầu. Tuy nhiên, mỗi loại vắc xin hiện nay chỉ phòng được một hoặc một số nhóm huyết thanh nhất định và không có miễn dịch chéo, nên việc phòng bệnh cần đặt ra yêu cầu bảo vệ toàn diện.
Để phòng bệnh, bác sĩ khuyến cáo cần thực hiện tốt các việc như:
Hiện các bệnh truyền nhiễm khác như tay chân miệng, sốt xuất huyết, cúm… cũng đang có xu hướng gia tăng. Sự lưu hành đồng thời của nhiều tác nhân gây bệnh không chỉ làm tăng nguy cơ lây lan trong cộng đồng mà còn khiến việc nhận diện sớm trở nên khó khăn, dễ nhầm lẫn triệu chứng ban đầu và làm chậm trễ can thiệp y tế kịp thời. Vì vậy, phòng bệnh không thể chờ đến khi có ca bệnh mà cần được thực hiện chủ động, từ sớm và đầy đủ để giảm nguy cơ dịch chồng dịch, bảo vệ an toàn cho trẻ và cộng đồng.
Hội nghị Cấp cao Việt Nam - Pháp với chủ đề: "Tăng cường hợp tác triển khai công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược về phát triển vắc xin thế hệ mới tại Việt Nam" do Bộ Y tế phối hợp với Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam tổ chức ngày 9-7 ở Hà Nội .
Tại Hội nghị, VNVC và Sanofi công bố những bước tiến mới trong tiến trình hợp tác sản xuất vắc xin công nghệ cao của Sanofi tại Nhà máy Vắc xin và Sinh phẩm VNVC .
Nhà máy dự kiến đi vào hoạt động vào cuối năm 2027, sản xuất vắc xin từ năm 2028 và thương mại hoá các vắc xin thế hệ mới từ 2029.
Nhà máy công nghệ cao là nền tảng để VNVC triển khai các chương trình hợp tác công nghệ với các đối tác quốc tế, Viện nghiên cứu hiện đại là điểm đến thu hút các nghiên cứu khoa học cho các loại vắc xin thế hệ mới.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Thanh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội, khẳng định phát triển công nghệ và sản xuất vắc xin thế hệ mới không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là vấn đề an ninh y tế và phát triển bền vững quốc gia.
Phó chủ tịch Quốc hội đề nghị VNVC và Sanofi xây dựng lộ trình hợp tác rõ ràng để sớm tạo ra các sản phẩm phục vụ người dân; phát huy vai trò của khu vực tư nhân, Nhà nước tạo hành lang pháp lý, xây dựng chính sách mua sắm công để tạo thị trường bền vững và phát triển năng lực công nghệ trong nước, đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, sản xuất và phân phối vắc xin thế hệ mới của khu vực.
Cũng tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan cho biết Việt Nam xác định vắc xin thế hệ mới là một sản phẩm công nghệ chiến lược. Sự tham gia của các cơ quan quản lý, các tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp trong nước và toàn cầu sẽ giúp tiếp cận toàn diện, đa ngành, nhằm phát triển việc sản xuất vắc xin vững mạnh tại Việt Nam.
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Olivier Brochet kỳ vọng sự kết hợp giữa năng lực khoa học, công nghiệp của Pháp với hệ thống tiêm chủng, bảo quản và phân phối của VNVC sẽ giúp người dân Việt Nam tiếp cận các vắc xin chất lượng cao nhanh hơn, đồng thời góp phần nâng cao năng lực tự chủ y tế của Việt Nam.
Ông Stephen Alix, Chủ tịch Ngành hàng Vắc xin Toàn cầu của Sanofi, khẳng định sự kết hợp giữa năng lực công nghệ và kinh nghiệm toàn cầu của Sanofi với nền tảng đầu tư, nghiên cứu và triển khai bài bản của VNVC sẽ tạo tiền đề quan trọng để phát triển năng lực sản xuất vắc xin thế hệ mới tại Việt Nam.
Chia sẻ tại Hội nghị, ông Ngô Chí Dũng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc VNVC, khẳng định trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, với vị thế được nâng cao và có nhiều cơ chế, chính sách ngày càng thuận lợi hơn, khu vực kinh tế tư nhân xác định sẵn sàng chủ động tham gia đầu tư lớn vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đóng góp cùng Nhà nước xây dựng năng lực quốc gia về khoa học, công nghệ và y tế.
Hệ thống từ sớm đã đầu tư dài hạn để hình thành hệ sinh thái vắc xin và tiêm chủng toàn diện, từ mạng lưới gần 300 trung tâm tiêm chủng quy mô lớn trên toàn quốc.
Đặc biệt , VNVC đầu tư xây dựng Nhà máy hiện đại với công suất lớn, từ đó từng bước tiếp nhận chuyển giao các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi trong sản xuất vắc xin thế hệ mới, đồng thời đầu tư lớn để chủ động phát triển nghiên cứu vắc xin theo các tiêu chuẩn quốc tế cao cấp.
"Chúng tôi kỳ vọng sẽ có thêm các cơ chế, chính sách đột phá để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược, góp phần giúp người dân tiếp cận sớm hơn với các vắc xin công nghệ cao với giá thành hợp lý hơn, từng bước chủ động cung ứng các vắc xin quan trọng, thế hệ mới cho thị trường trong nước, nâng cao năng lực tự chủ và an ninh y tế quốc gia", ông Ngô Chí Dũng nhấn mạnh.