Chỉ 41% học sinh biết bơi, Bộ Y tế bàn giải pháp chống đuối nước trẻ em

Chỉ 41% học sinh biết bơi, Bộ Y tế bàn giải pháp chống đuối nước trẻ em

Đuối nước trẻ em vẫn là thách thức lớn ở Việt Nam

Thông tin được các chuyên gia chia sẻ tại hội thảo liên ngành bàn giải pháp phòng, chống đuối nước trẻ em do Bộ Y tế tổ chức ngày 10/7 tại Đà Nẵng.

Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS.TS Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y tế, cho biết Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong phòng, chống đuối nước trẻ em khi có mạng lưới sông ngòi dày đặc, đường bờ biển dài và chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, thiên tai.

Trong khi đó, nhận thức của một bộ phận người dân, sự giám sát của gia đình và kỹ năng sinh tồn an toàn trong môi trường nước của trẻ em tại nhiều vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn hạn chế.

Số liệu thống kê từ 34 sở giáo dục và đào tạo cho thấy tính đến ngày 15/6, tỷ lệ trường học có bể bơi mới đạt gần 12% (2.919/25.090 trường). Tỷ lệ học sinh biết bơi đạt 41%. Trung bình mỗi trường chỉ có 0,57 giáo viên được cấp chứng nhận dạy bơi.

Đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh nguyên nhân chính đến từ hạn chế về kinh phí đầu tư cơ sở vật chất và nguồn lực xã hội hoá, đặc biệt tại các địa phương vùng sâu, vùng xa.

Theo Thứ trưởng, cần xây dựng các giải pháp phù hợp cho giai đoạn 2026-2030, đồng thời triển khai hiệu quả Quyết định 1248 về Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2021-2030 và các văn bản liên quan của Bộ Y tế. Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp liên ngành và sự vào cuộc của toàn xã hội; đổi mới, đa dạng hóa các hình thức truyền thông.

Chuyên gia đề xuất đưa bơi an toàn vào chương trình chính khóa

Thạc sĩ Đoàn Thị Thu Huyền, Giám đốc Chương trình tại Việt Nam, Tổ chức Chiến dịch Trẻ em Không thuốc lá, cũng nhấn mạnh: “Trước bối cảnh thời tiết, khí hậu ngày càng cực đoan, nguy cơ đuối nước có thể trở nên nghiêm trọng hơn, đặc biệt ở vùng nông thôn và những địa bàn thường xuyên chịu tác động của thiên tai”.

Vì vậy, phòng chống đuối nước cần được nhìn nhận không chỉ như một vấn đề y tế công cộng, mà còn là một vấn đề của phát triển bền vững và bảo đảm quyền trẻ em.

Bà cho rằng cần lồng ghép mục tiêu phòng chống đuối nước trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và kế hoạch bảo vệ trẻ em của địa phương; đồng thời xây dựng tiêu chuẩn rõ ràng về nội dung, thời lượng và đội ngũ giảng dạy bơi an toàn; thiết lập cơ chế theo dõi sau đào tạo thay vì chỉ đo đếm số trẻ tham gia

Chung quan điểm, PGS.TS Phạm Việt Cường, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phòng chống Chấn thương, Trường Đại học Y tế Công cộng, cho rằng thành công ngắn hạn của các dự án can thiệp không tự động tạo ra tác động sức khỏe dài hạn nếu thiếu tính thể chế hóa. Kỹ năng bơi an toàn của trẻ có thể suy giảm tới gần 50% chỉ sau 6 tháng nếu không được ôn luyện nhắc lại.

Từ kinh nghiệm quốc tế và các mô hình trong nước tại Đồng Tháp, Quảng Trị, Huế, ông đề xuất tăng cường thể chế hóa và duy trì nguồn kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước, chuyển từ ngân sách dự án sang ngân sách địa phương kết hợp cơ chế đồng chi trả và huy động nguồn lực tư nhân.

  Đừng chủ quan với chiếc khăn mặt treo trong nhà tắm mỗi ngày

Bên cạnh đó, cần lồng ghép bơi an toàn vào chương trình giáo dục chính khóa với tiêu chuẩn đầu ra nghiêm ngặt (bơi 25m, nổi/đứng nước 90 giây) và đội ngũ giáo viên được tập huấn, cấp chứng nhận. Song song với đó tối ưu hóa hạ tầng bể bơi, gồm bể bơi thông minh/di động cho vùng sâu, vùng xa, vùng nguy cơ lũ lụt và cơ chế sử dụng chung giữa các trường lân cận; tổ chức đào tạo, kiểm tra kỹ năng định kỳ theo lộ trình…

Tin Gốc: Dân Trí