Hồi tháng 1, Zhang từ chức giáo sư bậc một (associate professor) tại Đại học Yale, Mỹ, để gia nhập Khoa Khoa học Sự sống và Y học thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc tại Hợp Phì, An Huy.
Chỉ một tháng sau, công trình nghiên cứu mà anh là tác giả chính được công bố trên tạp chí danh giá Nature, đánh dấu bước đột phá về công nghệ phân tích và hình ảnh hiển vi điện tử độ phân giải cao.
Nghiên cứu này được giới chuyên môn đánh giá là “chìa khóa” để hiểu về sự sống, phát triển các công nghệ chẩn đoán, điều trị mới và cải thiện quản lý sức khỏe con người.
Với Zhang Kai, việc trở về Trung Quốc là lựa chọn tất yếu để thực hiện tham vọng xây dựng ngân hàng dữ liệu cấu trúc tế bào siêu quy mô với độ chính xác chưa từng có.
“Tại Mỹ, một học giả người Hoa gần như không thể đảm nhận vai trò dẫn dắt dự án này”, Zhang chia sẻ với tờ China Science Daily hôm 26/3.
Hành trình của Zhang Kai bắt đầu từ hơn 20 năm trước tại một vùng nông thôn nghèo ở tỉnh Thiểm Tây. Năm 2004, anh trúng tuyển Học viện Công nghệ Cáp Nhĩ Tân (HIT), rồi học cao học tại Viện Vật lý sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS), nơi anh bén duyên với kính hiển vi điện tử siêu lạnh (cryo-EM).
Cryo-EM là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cho phép nhà nghiên cứu quan sát cấu trúc của các đại phân tử sinh học. Khác với những phương pháp sinh học truyền thống chủ yếu dựa vào thí nghiệm, cryo-EM là sự kết hợp hữu cơ giữa thí nghiệm, lý thuyết và tính toán.
Ngay từ khi còn trẻ, Zhang đã nuôi tham vọng “viễn tưởng” là có thể nhìn thấy trực tiếp cấu trúc nguyên tử của các phức hợp chuỗi hô hấp bên trong ti thể – vốn được coi là “nhà máy năng lượng” của tế bào.
Sau khi nhận bằng tiến sĩ tại CAS năm 2013, Zhang làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử thuộc Hội đồng Nghiên cứu y khoa ở Cambridge (Anh). Năm 2019, anh bắt đầu vị trí giáo sư bậc một tại Đại học Yale, sau đó liên tục công bố nhiều công trình trên các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới như Science, Nature và Cell.
Năm 2024, Zhang cùng cộng sự công bố một nghiên cứu được các phản biện đánh giá là “công trình tiên phong” trên Nature.
Trước đây, việc nghiên cứu protein thường phải trải qua quá trình tinh chế từ ti thể, sau đó mới quan sát qua kính hiển vi. Tuy nhiên, trong cơ thể sống, protein luôn vận động và tương tác không ngừng. Việc quan sát tĩnh không thể phản ánh đúng trạng thái thực của chúng.
Zhang và các đồng nghiệp đã tìm ra cách quan sát protein ngay khi chúng đang “vận động” trong cơ thể.
“Nếu trước đây việc này giống như chụp ảnh có sắp đặt trong studio, thì nay chúng ta đã có thể chụp ảnh khoảnh khắc”, Zhu Jiapeng, cộng sự của Zhang tại Đại học Y dược Trung Quốc Nam Kinh, ví von.
Việc ghi lại những hình ảnh tự nhiên này giúp dữ liệu về protein chân thực và chính xác hơn, phục vụ đắc lực cho các phân tích khoa học sau này.
Trong bài báo mới nhất xuất bản hồi tháng 2, Zhang cũng đã bác bỏ “giả thuyết lắp ráp tế bào chất” vốn tồn tại hơn một thập kỷ qua. Nghiên cứu của anh chỉ ra rằng các vi ống đóng góp tới 97% hiệu quả lắp ráp, trong khi các protein kết nối chỉ đóng vai trò thứ yếu.
Việc Zhang Kai rời Yale khi đang ở độ chín của sự nghiệp khiến nhiều người bất ngờ. Sự trở về của anh tiếp nối làn sóng dịch chuyển của nhiều nhà khoa học từ phương Tây về châu Á trong khoảng hai năm gần đây.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố thông tin chi tiết về kết quả tuyển sinh đại học năm 2025, trong đó có các con số đáng chú ý về việc lựa chọn nhóm ngành của thí sinh, tại hội nghị tuyển sinh khối đại học diễn ra sáng nay 20-4 tại TP.HCM.
Theo Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), trong số 681.688 thí sinh trúng tuyển và nhập học vào các trường đại học, cao đẳng sư phạm năm 2025, nhóm ngành kinh doanh và quản lý tiếp tục dẫn đầu với hơn 146.000 tân sinh viên, tỉ lệ 21%, giảm nhẹ so với mức 25% của năm trước đó.
Đây là nhóm ngành đang được đào tạo tại nhiều trường đại học với các ngành kinh doanh quốc tế, quản trị kinh doanh, tài chính - ngân hàng, kế toán - kiểm toán, marketing…
Bên cạnh đó, 4 lĩnh vực có số lượng thí sinh nhập học nhiều nhất năm qua gồm nhóm ngành công nghệ kỹ thuật với hơn 72.500 thí sinh nhập học (chiếm 10,6%, tăng hơn 1%); nhân văn (9,6%), máy tính và công nghệ thông tin (9,2%) và sức khỏe (7,8%).
Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 44 ngành đào tạo thuộc nhóm công nghệ chiến lược tuyển sinh hơn 150.450 thí sinh chiếm khoảng 22%, là con số "khởi sắc".
Điều này thể hiện khi chính sách đi vào cuộc sống đã hấp dẫn thí sinh về nguồn tuyển, chất lượng (điểm chuẩn) và số lượng đăng ký xét tuyển. Tỉ lệ nhập học năm 2025 ở nhóm ngành này cũng tăng ở nhiều lĩnh vực, như máy tính và công nghệ thông tin 41%, công nghệ kỹ thuật 34%, kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật 25%, toán và thống kê 0,1%.
Ở chiều ngược lại, theo thống kê của bộ, có đến 12 nhóm ngành đào tạo có số quy mô tuyển sinh dưới 10.000 sinh viên/nhóm ngành.
Trong đó, nhóm ngành dịch vụ xã hội 3.179 sinh viên, thú y 3.522, dịch vụ vận tải 4.084, toán và thống kê 4.189, khoa học tự nhiên 4.699, khoa học sự sống 4.828 sinh viên. Đặc biệt một số ngành khác quy mô tuyển sinh năm qua chỉ vài trăm sinh viên.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, số thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2025 là 1.160.033, trong đó có hơn 681.000 thí sinh trúng tuyển đã nhập học đại học, cao đẳng ngành giáo dục mầm non, chiếm khoảng 59% số thí sinh dự thi tốt nghiệp.
Thống kê của Bộ cho thấy trong 4 năm gần đây, năm 2025 là năm có tỉ lệ thí sinh nhập học/chỉ tiêu cao nhất (90%).
Tỉ lệ cơ sở đào tạo có thí sinh nhập học từ 80% năm 2025 là 76% (năm 2024 là 71,38%).
Riêng nhóm ngành đào tạo giáo viên tăng mạnh về điểm chuẩn và số lượng đăng ký xét tuyển, tỉ lệ nhập học 2025.
Bậc cao đẳng 6.502 sinh viên, tỉ lệ nhập học 95,9%; đại học 35.897 sinh viên, tỉ lệ nhập học 95,3%.
Đánh giá về các phương thức xét tuyển chính năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết phương thức xét tuyển bằng kết quả học tập bậc THPT (học bạ) có xu hướng giảm xuống so với năm 2024. Đáng chú ý, nhiều phương thức không có thí sinh nhập học.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), có trên 200 lượt phương thức xét tuyển của các cơ sở đào tạo không có thí sinh xác nhận nhập học; 98 lượt phương thức xét tuyển của các cơ sở đào tạo chỉ có dưới 10% thí sinh nhập học so với chỉ tiêu.
"Việc có quá nhiều phương thức tuyển sinh gây nhiễu thông tin. Nhiều phương thức xét tuyển không có hoặc rất ít thí sinh đăng ký. Thực tế cho thấy chưa đảm bảo công bằng giữa các phương thức xét tuyển. Nhiều cơ sở đào tạo chưa phân tích tương quan, đánh giá đối sánh kết quả học tập của sinh viên theo các phương thức xét tuyển", ông Thảo nhận định.
Theo Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nghiên cứu về thực trạng tham gia thể thao của trẻ em gái cấp THCS ở độ tuổi 11-15, thực hiện theo cách tiếp cận đa nguồn kết hợp tổng quan chính sách, khảo sát trực tuyến, khảo sát trực tiếp tại một số trường THCS, tọa đàm, phỏng vấn sâu và tham vấn các bên liên quan.
Theo thông tin từ hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy sự tham gia thể thao của trẻ em gái cấp THCS tại Việt Nam" do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam chủ trì ngày 18-6, một khảo sát trực tuyến được tiến hành với 524.674 người tại 34 tỉnh/thành.
Kết quả cho thấy mặc dù Việt Nam đã có nền tảng chính sách về giáo dục thể chất, thể thao trường học, quyền trẻ em và bình đẳng giới, nhưng cơ chế và nguồn lực thúc đẩy sự tham gia thể thao của học sinh nữ còn chưa rõ nét.
Tỉ lệ học sinh nữ tham gia vận động, luyện tập hoặc chơi thể thao ngoài giờ học ở trường đạt 52,36%, thấp hơn học sinh nam 17,55 điểm phần trăm.
Chỉ 20,80% học sinh nữ đạt từ 1 giờ vận động/ngày trở lên. Học sinh nữ không phải là nhóm "không thích thể thao", nhưng mức thực sự đam mê chưa cao. Các em chủ yếu tham gia vì sức khỏe, vóc dáng, giảm căng thẳng và phát triển kỹ năng.
Các rào cản nổi bật gồm: ít lựa chọn môn thể thao phù hợp, giờ học còn đơn điệu, thiếu tự tin, sợ bị chê cười, lo ngại chấn thương, ảnh hưởng của chu kỳ kinh nguyệt và e ngại khi luyện tập cùng bạn nam.
"Những phát hiện này cho thấy cần tạo môi trường vận động an toàn, hòa nhập, tôn trọng lựa chọn, giảm áp lực thành tích và giúp học sinh nữ duy trì thói quen thể thao lâu dài. Vì giai đoạn từ 11 đến 15 tuổi ở trẻ em gái được xem là thời điểm then chốt khi những thay đổi nhạy cảm về tâm sinh lý, áp lực học tập, định kiến giới và sự thiếu tự tin có thể khiến nhiều em dần rời xa các hoạt động thể chất và thể thao", nhóm nghiên cứu nhận định.
Dự án "Phát triển giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam", nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng tham gia thể thao của học sinh nữ THCS và đề xuất các giải pháp giúp các em có thêm cơ hội vận động trong môi trường an toàn, tích cực và phù hợp với nhu cầu của lứa tuổi được triển khai với sự hợp tác của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và Công ty cổ phần Danson Solutions cùng sự hỗ trợ của Nike Việt Nam.
Ngoài nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp, dự án đã tổ chức đợt tập huấn "Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động thể thao cho trẻ em gái lứa tuổi 11-15" tại Hà Nội cho các chuyên gia và giáo viên cốt cán.
Nội dung tập huấn nhằm thiết kế hoạt động vận động thân thiện, tăng lựa chọn, kết nối và khích lệ sự thử sức.
Tiếp đó, chuỗi ngày hội "Nữ sinh năng động" theo mô hình "Ngày hội thể thao thân thiện" được triển khai tại 6 trường THCS ở Ninh Bình, thành phố Huế và Cần Thơ. Dữ liệu thực địa ghi nhận 1.279/1.593 học sinh nữ tham gia, đạt tỉ lệ trung bình 80,5%; hơn 5.000 học sinh được tiếp cận thông qua hoạt động vận động, trò chơi đồng đội, tọa đàm và phỏng vấn.
Kết quả bước đầu cho thấy khi hoạt động được thiết kế vui, đa dạng, ít áp lực và có cơ chế khích lệ phù hợp, học sinh nữ có thể tham gia tích cực hơn, qua đó gợi mở các mô hình thể thao học đường hòa nhập và bền vững hơn cho trẻ em gái.
GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nhấn mạnh: "Hoạt động thể chất và thể thao có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em, đặc biệt ở lứa tuổi THCS, giai đoạn các em đang trải qua nhiều thay đổi về thể chất, tâm lý và quan hệ xã hội.
Đối với học sinh nữ, việc duy trì thói quen vận động không chỉ góp phần nâng cao sức khỏe thể chất mà còn hỗ trợ sức khỏe tinh thần, sự tự tin, khả năng hợp tác trong môi trường học đường.
Nghiên cứu này giúp nhận diện rõ hơn những rào cản đang làm hạn chế sự tham gia thể thao của trẻ em gái, đồng thời cung cấp bằng chứng thực tiễn để nhà trường, gia đình và các bên liên quan thiết kế các giải pháp phù hợp hơn.
Tại lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển Trường Đại học (ĐH) Công nghiệp Hà Nội thành ĐH Công nghiệp Hà Nội ngày 20/6, ông Lê Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ Công thương, cho rằng đất nước đang bước vào giai đoạn mới.
Do vậy, đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực, mà phải là nơi tạo ra tri thức và giá trị mới cho xã hội.
Để làm được điều này, theo Bộ trưởng, đại học phải chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu phát triển; từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo mục tiêu, dữ liệu và kết quả.
“Các lĩnh vực công nghiệp, năng lượng, thương mại…, đang thay đổi rất nhanh dưới tác động của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, tiêu chuẩn quốc tế mới và cạnh tranh toàn cầu.
Để đạt được nền công nghiệp hiện đại, chúng ta phải có nguồn nhân lực hiện đại. Nếu muốn tự chủ hơn về kinh tế, chúng ta phải tự chủ hơn về công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực”, theo Bộ trưởng.
Ông Kiều Xuân Thực, Giám đốc ĐH Công nghiệp Hà Nội cho hay, việc thay đổi thành “đại học” không đơn thuần chỉ là thay đổi cái tên mà đặt ra nhiều trách nhiệm và thách thức mới.
“Khi đã trở thành đại học, xã hội không chỉ hỏi nhà trường có bao nhiêu sinh viên, bao nhiêu chương trình đào tạo. Thay vào đó, xã hội sẽ hỏi sinh viên tốt nghiệp làm được gì, tạo được giá trị gia tăng gì cho doanh nghiệp, cho xã hội.
Nhiều câu hỏi sẽ được đặt ra: Nghiên cứu của chúng ta giải quyết được bài toán nào, phát triển được công nghệ gì để đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội; quản trị đại học có minh bạch, hiệu quả, hiện đại hay không?”, ông Kiều Xuân Thực nhấn mạnh
Ông cho rằng, điều đó yêu cầu nhà trường phải thay đổi, nếu không đổi mới liên tục về năng lực giảng viên và hệ thống quản trị, sẽ tụt lại phía sau.
Tính đến năm 2026, sau một loạt quyết định tổ chức lại và nâng cấp mô hình, cả nước hiện có 13 đơn vị mang tên "Đại học", trong đó Đại học Trà Vinh là cái tên mới nhất vừa được chuyển đổi.
Khác với “trường đại học”, “đại học” là cơ sở đào tạo đa lĩnh vực, trong mỗi lĩnh vực có nhiều ngành đào tạo. Vì vậy, đại học thường bao gồm các trường đại học thành viên.
Danh sách 13 đại học hiện nay gồm:
Đại học Quốc gia; Đại học Bách khoa; Đại học Kinh tế Quốc dân; Đại học Công nghiệp Hà Nội; Đại học Phenikaa (Hà Nội).