Thuốc amivantamab, một phương pháp điều trị ung thư trúng đích bằng hình thức tiêm dưới da, đã mở ra hy vọng mới khi giúp thu nhỏ khối u ở hơn một phần ba số bệnh nhân mắc ung thư đầu và cổ tái phát hoặc di căn, nhóm vốn đã kháng các phác đồ điều trị tiêu chuẩn, theo Viện Nghiên cứu Ung thư London (ICR).
Trước đó, amivantamab, do tập đoàn Johnson & Johnson phát triển, là phương pháp điều trị thuộc nhóm kháng thể đơn dòng đặc hiệu kép. Loại thuốc này hiện đã được cấp phép để điều trị cho nhiều phân nhóm ung thư phổi ở các bước điều trị khác nhau.
Các nhà khoa học thiết kế loại protein nhân tạo này hoạt động như một chiếc còng số 8, tự động dò tìm và khóa chặt cùng lúc hai mục tiêu then chốt trên bề mặt tế bào ung thư. Mục tiêu thứ nhất là EGFR, một loại protein đóng vai trò như động cơ thúc đẩy khối u tăng sinh đột biến. Mục tiêu thứ hai là MET, con đường truyền tín hiệu bí mật giúp tế bào ác tính lẩn trốn và chống lại các loại thuốc hóa trị, miễn dịch thông thường.
Ngay khi khóa chặt hai tín hiệu sinh tồn này khiến tế bào ung thư kiệt quệ, amivantamab tiếp tục phát huy tác dụng sinh học thứ ba. Thuốc đóng vai trò như một hồi chuông báo động, kích hoạt hệ thống miễn dịch của cơ thể. Các tế bào bạch cầu ngay lập tức nhận diện tín hiệu, di chuyển đến khu vực có khối u và trực tiếp tiêu diệt các mầm bệnh đang suy yếu.
Đội ngũ y tế tiêm trực tiếp một lượng nhỏ amivantamab vào lớp mô dưới da bệnh nhân thay vì truyền dịch pha loãng qua đường tĩnh mạch. Phương pháp đưa thuốc mới này giúp các hoạt chất thâm nhập nhanh chóng vào cơ thể, phát huy tác dụng bao vây khối u chỉ trong thời gian ngắn. Bệnh nhân hoàn toàn có thể hoàn thành quy trình tiêm tại phòng khám ngoại trú và về nhà ngay, tránh được tâm lý mệt mỏi khi phải lưu trú dài ngày tại bệnh viện. Những bệnh nhân được điều trị bằng amivantamab có thời gian sống thêm trung vị là 12,5 tháng kể từ khi bắt đầu điều trị.
Các kết quả mới từ thử nghiệm lâm sàng pha Ib/II mang tên OrigAMI-4, do các nhà khoa học ICR thực hiện, được báo cáo hôm 31/5 tại Hội nghị Thường niên của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Mỹ (ASCO) và xuất bản trên Tạp chí Ung thư Lâm sàng (JCO), xác nhận tình trạng thu nhỏ khối u ở 42% số bệnh nhân được điều trị bằng thuốc amivantamab.
Các nhà khoa học cho biết kết quả này là bằng chứng vững chắc để tiếp tục phát triển amivantamab thành một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn cho ung thư đầu và cổ. Đây là căn bệnh đang ảnh hưởng đến khoảng 12.800 người tại Anh mỗi năm và cũng là loại ung thư phổ biến thứ 6 trên thế giới.
Thử nghiệm được triển khai tại 55 bệnh viện ở 11 quốc gia, tập trung vào những người mắc ung thư đầu và cổ. Ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ là căn bệnh ác tính tiến triển rất nhanh, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Các triệu chứng như đau đớn và nuốt nghẹn khiến bệnh nhân gặp nhiều khó khăn khi ăn uống, giao tiếp, từ đó không đảm bảo được dinh dưỡng cho cơ thể. Một số dạng ung thư đầu cổ gồm các khối u ở khoang miệng, thanh quản và các phần của họng, nằm trong số những loại khó chữa nhất, thường có kết quả điều trị xấu và luôn đòi hỏi những bài thuốc mới hiệu quả hơn. Tính chung trong các loại ung thư đầu cổ, có tới một nửa số bệnh nhân sẽ bị tái phát hoặc di căn, ngay cả khi bệnh đã được phát hiện và điều trị từ giai đoạn sớm.
Một khi bệnh tái phát hoặc di căn, tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ còn khoảng 15%. Đối với những bệnh nhân phải chuyển sang phác đồ điều trị tiếp theo, các loại thuốc hiện tại đem lại lợi ích rất hạn chế khi tỷ lệ đáp ứng với thuốc hiếm khi vượt quá 24% và hiếm người đạt được kết quả sạch bóng khối u hoàn toàn.
Nhóm một của nghiên cứu OrigAMI-4 gồm 102 bệnh nhân mắc ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ tái phát hoặc di căn, có khối u vẫn tiếp tục phát triển bất chấp trước đó đã được điều trị bằng liệu pháp miễn dịch và hóa trị dựa trên nền platinum.
Trong quá trình thử nghiệm, các bác sĩ ghi nhận khối u đã thu nhỏ ở 43 bệnh nhân. Trong đó, 15 người đáp ứng hoàn toàn, nghĩa là khối u biến mất trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, và 28 người bệnh đạt đáp ứng một phần khi khối u thu nhỏ đáng kể.
Chuyên gia nhận định nếu những kết quả khả quan từ nghiên cứu trên tiếp tục được khẳng định trong các thử nghiệm quy mô lớn hơn như thử nghiệm lâm sàng pha 3 OrigAMI-5 đang diễn ra, phương pháp điều trị này sẽ sớm được phê duyệt, đem lại cơ hội sống cho hàng chục nghìn người khác trên toàn thế giới mỗi năm.
Rau lang là một món ăn quen thuộc trên mâm cơm của nhiều gia đình. Bác sĩ Trương Gia Minh, khoa Di truyền và Ưu sinh thuộc Bệnh viện Tổng hợp Cựu chiến binh Đài Bắc, Đài Loan (Trung Quốc), chỉ ra rằng đây là loại rau càng tìm hiểu lại càng mang đến nhiều bất ngờ.
Nhờ sở hữu hàm lượng dưỡng chất phong phú, rau lang đóng vai trò tích cực trong việc ổn định đường huyết, bảo vệ hệ tim mạch, phòng ngừa ung thư, chăm sóc đôi mắt và nuôi dưỡng làn da, xứng đáng được mệnh danh là siêu thực phẩm.
Trong một bài viết chia sẻ trên trang cá nhân, bác sĩ Trương cho biết rau lang vừa có giá thành phải chăng, hương vị thơm ngon lại vừa mang giá trị dinh dưỡng vượt trội. Ban đầu, loại rau này vốn chỉ được sử dụng như một nguồn bổ sung chất xơ thông thường nhưng về sau, các nghiên cứu phát hiện ra chúng sở hữu hàng loạt công dụng quý giá như kháng viêm, chống oxy hóa và hạ đường huyết.
Đến nay, các nghiên cứu khoa học chuyên sâu còn khẳng định rau lang có khả năng kích thích cơ thể tự bài tiết hormone GLP-1, vốn là cơ chế cốt lõi mà các loại "tiêm giảm cân" thịnh hành hiện nay áp dụng.
Bác sĩ Trương giải thích các mũi tiêm giảm cân hoạt động bằng cách đưa một cấu trúc tương tự GLP-1 từ bên ngoài vào cơ thể để mô phỏng hormone do đường ruột tiết ra, từ đó làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày, tăng cảm giác no, ổn định đường huyết và giảm cảm giác thèm ăn nhằm đạt hiệu quả giảm cân và kiểm soát đường huyết. Mặc dù phương pháp này mang lại tác dụng nhanh chóng, nó lại tiềm ẩn một số tác dụng phụ không mong muốn như buồn nôn, khó chịu ở đường tiêu hóa và gây suy giảm khối lượng cơ bắp.
Ngược lại, các kết quả nghiên cứu cho thấy các axit caffeoylquinic, điển hình là axit chlorogenic, có rất nhiều trong rau lang lại có khả năng thúc đẩy các tế bào L ở đường ruột tăng cường sản sinh GLP-1. Điều này đồng nghĩa với việc cơ thể không cần đến các nguồn kích thích tiêm ngoại sinh mà có thể tự đánh thức các tế bào nội tại tự bài tiết hormone một cách tự nhiên. Cơ chế nội sinh này diễn ra ôn hòa hơn, hoàn toàn không gây tác dụng phụ và rất phù hợp để duy trì trong thời gian dài.
Bên cạnh đặc tính thúc đẩy bài tiết GLP-1, rau lang còn hội tụ hàng loạt phân tử nhỏ có lợi cho sức khỏe. Trong đó có chất anthocyanin giúp cơ thể chống lại các gốc tự do, làm chậm tiến trình lão hóa, đồng thời ổn định mạch máu và các tín hiệu thần kinh não bộ. Các chất axit chlorogenic và axit dicaffeoylquinic mang lại khả năng chống oxy hóa, kháng viêm và chống khối u mạnh mẽ.
Đặc biệt, loại rau này còn chứa một loại protein lưu trữ đặc trưng của khoai lang, có tiềm năng lớn trong việc chống ung thư, giải tỏa căng thẳng và ức chế hoạt tính của các enzym thúc đẩy khối u.
Sự kết hợp giữa lutein và beta-carotene trong rau lang giúp bảo vệ thị lực, tăng cường hệ miễn dịch, nuôi dưỡng làn da cùng lớp niêm mạc của hệ hô hấp. Nguồn khoáng chất dồi dào như kali, magie, sắt và canxi đóng vai trò hỗ trợ dẫn truyền thần kinh cơ, thúc đẩy quá trình tạo máu và giữ cho hệ xương luôn ổn định. Ngoài ra, hàm lượng chất xơ dồi dào cùng các polysaccharide hòa tan có trong rau lang sẽ giúp nuôi dưỡng các lợi khuẩn đường ruột, ổn định lượng đường trong máu, đồng thời làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thụ của cơ thể.
Bác sĩ Trương nhận định chính sự tổng hòa của các thành phần này đã biến rau lang trở thành một loại rau dinh dưỡng toàn diện, sở hữu đồng thời các đặc tính chống đường hóa, kháng ung thư, bảo vệ tim, giải độc gan, sáng mắt và chống lão hóa.
Thêm vào đó, nhiều báo cáo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Molecules vào năm 2021 và tạp chí Foods vào năm 2024 đã chỉ ra rằng các dưỡng chất có trong rau lang không chỉ có ích mà còn sở hữu hoạt tính sinh học cao cùng độ ổn định tuyệt vời, biến loại rau quen thuộc này thành một nguồn cung cấp các thành phần chức năng tự nhiên lý tưởng cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe hàng ngày.
Ngày 15/5, ThS.BS.CK2 Nguyễn Thị Thanh Hương, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 1, cho biết các y bác sĩ đã kiểm soát cơ bản những tổn thương thể chất của bệnh nhi. Hiện em có sức khỏe ổn định và tinh thần cải thiện tích cực.
Tại cơ sở xã hội mới, các cán bộ sẽ bảo đảm môi trường sống an toàn, cung cấp dinh dưỡng, theo dõi y tế định kỳ và hỗ trợ tâm lý nhằm giúp bé tránh nguy cơ tái tổn thương. Việc đưa em vào trung tâm cũng tạo điều kiện để các cơ quan chức năng tiếp tục xử lý vụ án theo quy định pháp luật, bác sĩ cho hay.
Trước đó, khi nhập viện hôm 3/5, bé tổn thương nhiều cơ quan nội tạng như gan, lách, tụy, thận; dập rách hai phổi, gãy cũ xương cánh tay cùng nhiều vết xây xát trên cơ thể. Bệnh viện kích hoạt "Mô hình một cửa" - chương trình hỗ trợ trẻ bị bạo hành, xâm hại hoặc bỏ rơi - để phối hợp điều trị, hỗ trợ tâm lý và kết nối các cơ quan chức năng bảo vệ quyền lợi cho bệnh nhi.
Trong quá trình điều trị, bé cũng được cơ quan chức năng trực tiếp trao giấy khai sinh tại bệnh viện. Khi nhập viện, bệnh nhi chưa có giấy tờ tùy thân dù đã được mẹ đặt tên và chỉ có giấy chứng sinh do bệnh viện cấp sau sinh. Nhiều tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm cũng đã đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ bệnh nhi vượt qua giai đoạn khó khăn.
Bé là nạn nhân vụ bạo hành do mẹ ruột và người tình gây ra. Mẹ của bé đang mang thai, không đăng ký kết hôn. Bé có ba người anh, trong đó một người đã được cho làm con nuôi, hai người còn lại sống với bà nội và dì. Khi cơ quan chức năng liên hệ đề nghị làm người giám hộ, bà ngoại và dì từ chối nuôi dưỡng. Bệnh viện Nhi đồng 1 hỗ trợ toàn bộ viện phí, đồng thời các y bác sĩ thay nhau chăm sóc, động viên bé trong suốt quá trình điều trị.
Bốn năm trước bé phẫu thuật u vùng đầu (u sọ hầu) sau đó xạ trị phần u còn sót để ngăn tái phát. Khoảng một năm nay, bé thường đau đầu, chóng mặt, đôi lúc tê yếu tay chân thoáng qua. Gần đây, tình trạng nặng lên, bé co giật, yếu nửa người trái và liệt kéo dài không cử động được.
Ngày 3/4, ThS.BS Nguyễn Ngọc Pi Doanh, Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết ảnh chụp MRI cho thấy bé bị nhồi máu não, hẹp tắc hai động mạch cảnh trong. Ảnh chụp DSA xác định bé mắc Moyamoya ở cả hai bán cầu, bác sĩ quyết định phẫu thuật để ngăn đột quỵ tái phát.
Moyamoya là bệnh lý mạch máu não gây hẹp tắc dần động mạch cảnh trong và hình thành mạch máu bất thường, dẫn đến thiếu máu não. Triệu chứng thường gặp gồm đau đầu, chóng mặt, co giật, cơn thiếu máu não thoáng qua và nặng nhất là đột quỵ hoặc xuất huyết não.
Nguyên nhân gây bệnh hiện chưa rõ, có thể liên quan bất thường gene (khoảng 10% di truyền) hoặc sau xạ trị, viêm nhiễm như viêm màng não, Covid-19, viêm mạch máu. Đặc điểm đáng lo ngại nhất của căn bệnh này là tình trạng đột quỵ lặp đi lặp lại nhiều lần nếu không được điều trị kịp thời. Qua mỗi lần đột quỵ, não bộ lại chịu thêm tổn thương và ngày càng suy yếu.
Để cứu hệ thần kinh của trẻ, phẫu thuật được xem là phương pháp điều trị tối ưu nhất. Mục tiêu của ca mổ là "bắc cầu" mạch máu, hiểu đơn giản là mượn một mạch máu khỏe mạnh khác nối vào, tạo ra đường đi mới để đưa máu lên nuôi não, bù đắp cho đoạn đường cũ đã bị tắc. Ở trẻ em, kỹ thuật nối gián tiếp thường được ưu tiên do phù hợp với mạch máu nhỏ và cho hiệu quả lâu dài.
Theo bác sĩ, thời điểm phẫu thuật quyết định khả năng hồi phục. Can thiệp sớm khi não chưa tổn thương nhiều giúp tiên lượng tốt hơn; ngược lại, tổn thương nặng sẽ khó phục hồi.
Đến nay, Bệnh viện Nhi đồng 2 đã điều trị hơn 120 trẻ mắc bệnh này với hơn 200 ca phẫu thuật. Phần lớn bệnh nhi hồi phục tốt, một số ít còn di chứng nhẹ do nhập viện muộn.
Bác sĩ Pi Doanh khuyến cáo phụ huynh ngay khi thấy trẻ có các dấu hiệu bất thường như đau đầu kéo dài, chóng mặt, hoặc đột nhiên yếu liệt tay chân thoáng qua, cần đưa trẻ đi khám chuyên khoa thần kinh sớm để không bỏ lỡ "thời gian vàng" điều trị.