Hôm qua (21.4), Reuters đưa tin Nhật Bản cùng ngày công bố cuộc đại tu lớn nhất về các quy định xuất khẩu quốc phòng trong nhiều thập niên, loại bỏ các hạn chế đối với việc bán vũ khí ở nước ngoài và mở đường cho xuất khẩu tàu chiến, tên lửa và các vũ khí khác.
Động thái trên củng cố cơ sở bứt phá của công nghiệp quốc phòng Nhật Bản khi đánh dấu bước chuyển mới khỏi những hạn chế từng nằm trong chính sách an ninh của Tokyo sau Thế chiến 2. Bước chuyển này được tiến hành song song việc Nhật Bản đang tăng cường hợp tác quốc phòng với các bên ở châu Á giữa bối cảnh trỗi dậy của Trung Quốc.
Trả lời Thanh Niên hôm qua, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) phân tích: “Mặc dù các quy định đã được nới lỏng một cách đáng kể, Nhật Bản vẫn duy trì một số rào cản kiểm soát nhất định. Chẳng hạn, việc xuất khẩu loại máy bay tiêm kích thế hệ mới hiện chỉ giới hạn ở những quốc gia đã ký kết hiệp ước quốc phòng với Nhật Bản và không đang trực tiếp tham gia vào các cuộc xung đột. Tuy nhiên, cuộc cải tổ này đánh dấu sự kết thúc dứt khoát của Tokyo đối với kỷ nguyên chủ nghĩa biệt lập quốc phòng nghiêm ngặt”.
Tương tự, cũng trả lời Thanh Niên, TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ) đánh giá: “Nhật Bản nới lỏng quy định xuất khẩu vũ khí vì các quy định vốn dĩ không thực tế. Điển hình trong thỏa thuận mới đây Nhật Bản xuất khẩu tàu chiến lớp Mogami cho Úc, vì quy định mà hai bên phải áp dụng hình thức “phát triển chung” thay vì xuất khẩu vũ khí. Nhưng về bản chất thì vẫn là xuất khẩu vũ khí”.
“Trong khi đó, Nhật Bản cần xuất khẩu vũ khí để hỗ trợ việc tăng cường năng lực quân sự cho các đồng minh và đối tác trước các thách thức mới ở khu vực. Xuất khẩu vũ khí đòi hỏi quá trình đào tạo, bảo trì sửa chữa, cung cấp đạn dược để vận hành nên cần loại bỏ nhiều hạn chế để thực hiện. Ngoài ra, ngành công nghiệp quốc phòng toàn cầu đang tăng trưởng mạnh mẽ. Thị trường nước ngoài có thể đem đến nhiều cơ hội và duy trì dây chuyền sản xuất vũ khí của Tokyo. Thời gian qua, Mỹ thúc đẩy Nhật Bản chia sẻ gánh nặng an ninh trong khu vực này, nên nhu cầu nới lỏng quy định để xuất khẩu vũ khí càng lớn hơn với Tokyo”, TS Nagao phân tích thêm.
Những năm qua, Tokyo không ngừng tăng cường xuất khẩu vũ khí song song việc dần loại bỏ các hạn chế trong quy định pháp luật về vấn đề này. Năm 2023, Nhật Bản thông qua kế hoạch cho phép xuất khẩu chiến đấu cơ, tên lửa và một số loại vũ khí sát thương cho 12 quốc gia bao gồm: Úc, Ấn Độ, Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Ý và 5 quốc gia Đông Nam Á. Đến tháng 3.2024, Nhật Bản nới lỏng các quy định nghiêm ngặt về chuyển giao thiết bị quân sự để cho phép xuất khẩu chiến đấu cơ thế hệ tiếp theo đang được nước này phát triển với Anh và Ý. Cùng năm 2024, Nhật Bản thông báo sẽ bán tên lửa Patriot cho Mỹ để Lầu Năm Góc bù vào kho vũ khí đang thiếu hụt vì tài trợ cho Ukraine.
Mới đây, hợp đồng Nhật Bản cung cấp tàu hộ tống lớp Mogami cho Úc được 2 bên ký kết vào ngày 18.4. Theo đó, Nhật cung cấp 11 chiến hạm loại này cho Úc với tổng giá trị đơn hàng lên đến 6,8 tỉ USD. Có độ choán nước toàn tải hơn 5.000 tấn, tàu hộ tống lớp Mogami có khả năng tàng hình, tích hợp nhiều công nghệ hiện đại và vũ khí mạnh mẽ.
Thực tế, Nhật Bản nhiều năm qua phát triển nền công nghiệp quốc phòng hàng đầu thế giới, sản xuất nhiều loại vũ khí hiện đại. Đến nay, Nhật Bản đã tự lắp ráp chiến đấu cơ F-35, đồng thời đang tự phát triển chiến đấu cơ thế hệ 6. Trước đó, nước này tự sản xuất chiến đấu cơ Mitsubishi F-2 từ dòng F-16 của Mỹ, đồng thời phát triển máy bay săn ngầm Mitsubishi P-1 để thay thế P-3 Orion do Mỹ cung cấp.
Tokyo cũng nâng cấp các tàu khu trục chở máy bay trực thăng lớp Izumo để trở thành các tàu sân bay có thể mang theo chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình F-35. Dòng tàu ngầm chạy bằng dầu diesel và điện của nước này cũng được đánh giá tối tân và năng lực tác chiến mạnh mẽ. Tương tự, các lớp tàu khu trục của Nhật Bản cũng sở hữu các hệ thống vũ khí hiện đại, uy lực. Hay xe tăng chiến đấu chủ lực T-10 của nước này luôn đứng cao trong các bảng xếp hạng toàn cầu.
Với nền tảng như thế, khi đẩy mạnh xuất khẩu vũ khí có thể giúp Nhật Bản tăng cường hiệu quả các hoạt động ngoại giao khi nước này không ngừng thúc đẩy hợp tác quân sự với nhiều bên trong khu vực. Qua đó, Tokyo có thể càng khẳng định vai trò quan trọng về an ninh quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương.
Tòa án Quận Jerusalem ngày 9/4 thông báo "hệ thống tư pháp hoạt động trở lại" vì hạn chế khẩn cấp áp đặt trong cuộc xung đột với Iran được gỡ bỏ. Điều này đồng nghĩa với việc phiên tòa xét xử Thủ tướng Benjamin Netanyahu sẽ tiếp tục, bắt đầu bằng buổi điều trần vào ngày 12/4. Phiên tòa dự kiến sẽ lắng nghe lời khai của một nhân chứng do bên bào chữa đưa ra.
Hoạt động của tòa án tại Israel từng bị gián đoạn do xung đột, nhưng Bộ Tư lệnh Hậu phương của quân đội Israel đã chấp thuận cho mở cửa trở lại trên diện rộng sau khi Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn tạm thời.
Thủ tướng Netanyahu bị truy tố từ năm 2019 với các cáo buộc hối lộ, tham nhũng và lạm dụng tín nhiệm. Phiên tòa bắt đầu từ năm 2020, xem xét cùng lúc ba vụ án. Một trong số đó liên quan đến cáo buộc ông và vợ là bà Sara đã nhận hơn 260.000 USD quà tặng xa xỉ như trang sức, rượu và xì gà từ các tỷ phú để đổi lấy "ân huệ chính trị". Hai vụ còn lại liên quan đến cáo buộc ông thương lượng với các cơ quan truyền thông để họ đưa tin có lợi cho mình.
Ông Netanyahu là Thủ tướng đương nhiệm đầu tiên của Israel phải hầu tòa vì tham nhũng. Ông phủ nhận cả ba cáo buộc và khẳng định mình là nạn nhân của âm mưu chính trị.
Tổng thống Mỹ Donald Trump hồi tháng 10/2025 đã trực tiếp gửi lời tới Tổng thống Israel Isaac Herzog khi phát biểu trước quốc hội Israel, kêu gọi ban lệnh ân xá cho ông Netanyahu. Ông Trump sau đó tiếp tục gửi thư cho ông Herzog, trước khi các luật sư của Thủ tướng Israel chính thức đệ đơn xin ân xá.
Nghị quyết được thông qua với 215 phiếu thuận và 208 phiếu chống. Trong số đó có 4 nghị sĩ Cộng hòa đã đứng cùng phe Dân chủ để ủng hộ văn kiện về quyền lực chiến tranh. Đây được xem là thất bại mới nhất của ông Trump tại Quốc hội, dù đảng Cộng hòa đang nắm đa số sít sao ở cả Hạ viện và Thượng viện, theo Reuters.
Bốn nghị sĩ Cộng hòa bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết gồm ông Tom Barrett của bang Michigan, ông Warren Davidson của bang Ohio, ông Brian Fitzpatrick của bang Pennsylvania và ông Thomas Massie của bang Kentucky. Không có nghị sĩ Dân chủ nào bỏ phiếu chống, trong khi 7 thành viên Hạ viện không tham gia bỏ phiếu.
Tuy nhiên, cuộc bỏ phiếu chủ yếu mang tính biểu tượng. Để có hiệu lực, nghị quyết vẫn cần được Thượng viện thông qua. Trong trường hợp bị ông Trump phủ quyết, văn kiện này phải nhận được sự ủng hộ của ít nhất 2/3 nghị sĩ ở cả 2 viện để vượt qua quyền phủ quyết của tổng thống - kịch bản được cho là rất khó xảy ra.
Dù vậy, kết quả bỏ phiếu cho thấy sự bất an ngày càng rõ trong nội bộ đảng Cộng hòa trước cách ông Trump xử lý cuộc xung đột với Iran. Đây cũng là nỗ lực hiếm hoi của lưỡng đảng nhằm hạn chế quyền lực chiến tranh của tổng thống, sau khi 3 nghị quyết tương tự trước đó tại Hạ viện đều thất bại nhưng với khoảng cách phiếu ngày càng thu hẹp.
Nhà Trắng ngày 3.6 bác bỏ nghị quyết, cho rằng văn kiện này "vi hiến" và khó có khả năng được Thượng viện thông qua. Một quan chức Nhà Trắng nói ngay cả trong trường hợp nghị quyết vượt qua Thượng viện, văn kiện này cũng "sẽ không có hiệu lực".
"Tổng thống Trump sẽ tiếp tục bảo vệ an ninh quốc gia bằng quyền hạn hiến định của ông với tư cách tổng tư lệnh, đồng thời minh bạch với Quốc hội", theo ABC News dẫn lời quan chức này.
Trong một diễn biến liên quan, ông Trump ngày 3.6 nói thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran vẫn còn hiệu lực, bất chấp một vụ đụng độ nổ súng mới giữa quân đội hai nước trong đêm trước đó.
Ông Trump xác nhận vụ đụng độ, nhưng cho rằng cách hiểu về "ngừng bắn" tại khu vực này có phần khác biệt. "Tôi cho rằng ở khu vực đó, ngừng bắn có nghĩa là việc bắn phá diễn ra một cách ôn hòa hơn. Ngừng bắn ở đó rất khác so với ngừng bắn ở những nơi khác trên thế giới", theo ông Trump.
Tổng thống Mỹ cũng bày tỏ lạc quan về tiến trình đàm phán với Iran, nói rằng hai bên đang "rất gần" một thỏa thuận và kết quả có thể đạt được ngay cuối tuần này.
Kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ - Israel và Iran bắt đầu từ ngày 28-2, eo biển Hormuz - huyết mạch năng lượng toàn cầu - luôn là tâm điểm chú ý.
Trước khi giao tranh nổ ra, eo biển nói trên là tuyến đường vận chuyển 20% lượng dầu mỏ và khí hóa lỏng (LNG) của thế giới từ các nhà sản xuất vùng Vịnh. Eo biển này được Iran và Oman chia sẻ về mặt địa lý.
Để đáp trả cuộc tập kích của Mỹ và Israel, Iran đã tấn công các tàu buôn "của kẻ thù" tại eo biển Hormuz. Hậu quả là các tàu chở dầu bị mắc kẹt, tạo ra một trong những cuộc khủng hoảng phân phối năng lượng mà Đài Al Jazeera đánh giá là lớn nhất từ trước đến nay.
Sau hơn 1 tháng giao tranh, hôm 7-4, Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng tải trên nền tảng Truth Social, tuyên bố đồng ý với một thỏa thuận ngừng bắn kéo dài 2 tuần - do Pakistan làm trung gian.
Động thái trên được đưa ra sau khi Iran công bố đề xuất hòa bình 10 điểm. Ông Trump gọi đây là cơ sở "khả thi" để đàm phán chấm dứt vĩnh viễn các cuộc xung đột ở Trung Đông.
Đáng chú ý, trong đề xuất 10 điểm nói trên, Tehran khẳng định việc lưu thông qua eo biển Hormuz phải được kết hợp chặt chẽ với quân đội Iran. Từ đó, Cộng hòa Hồi giáo vẫn duy trì sự ảnh hướng lên tuyến đường này.
Iran tuyên bố sẽ cho phép tàu thuyền qua lại trong thời gian ngừng bắn nhưng dưới sự phối hợp chặt chẽ của Lực lượng Vũ trang Iran. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) đã công bố một bản đồ mới, yêu cầu các tàu đi lệch về phía bắc (gần bờ biển Iran) và tránh xa lộ trình truyền thống gần bờ biển Oman, với lý do "nguy cơ có mìn chống hạm tại các khu vực giao thông chính".
Tuy nhiên, thỏa thuận ngừng bắn đã xuất hiện những rạn nứt khi Israel tấn công dữ dội thủ đô Beirut của Lebanon ngày 8-4, khiến hàng trăm người thiệt mạng. Cuối ngày 8-4, Iran tuyên bố sẽ tiếp tục hạn chế di chuyển của các tàu chở dầu trên Hormuz, viện lý do Israel không tuân thủ lệnh ngừng bắn.
Tổng thống Trump khẳng định trên mạng xã hội Truth Social rằng quân đội Mỹ sẽ "túc trực" tại khu vực để giám sát việc lưu thông và đe dọa sẽ tái khởi động các cuộc tấn công nếu đàm phán thất bại.
Theo chuyên gia phân tích hàng hải C Uday Bhaskar, tình trạng "không chắc chắn" vẫn bao trùm. Cho đến nay, mới chỉ có 3- 5 tàu thực hiện quá cảnh kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực.
Trong kế hoạch 10 điểm của Tehran, một trong những yêu cầu chính là Mỹ và Israel phải chấm dứt vĩnh viễn mọi cuộc tấn công vào Iran và các đồng minh của nước này - đặc biệt là Lebanon, và cho phép Iran duy trì quyền kiểm soát eo biển Hormuz.
Truyền thông Iran đưa tin nước này đang cân nhắc mức phí lên tới 2 triệu USD mỗi tàu qua Hormuz, hoặc thu 1 USD trên mỗi thùng dầu vận chuyển qua eo biển. Khoản thu này sẽ được chia cho Oman.
Tehran tuyên bố doanh thu sẽ được dùng để tái thiết cơ sở hạ tầng dân sự và quân sự bị hư hại do các cuộc không kích của Mỹ và Israel.
Oman, quốc gia cùng chia sẻ eo biển Hormuz, đã bác bỏ ý tưởng trên. Bộ trưởng Giao thông Oman Said Al Maawali, khẳng định nước này đã ký kết các thỏa thuận hàng hải quốc tế, bao gồm cấm thu phí trên các tuyến đường này.
Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) quy định không được thu phí đối với tàu thuyền đi qua các eo biển quốc tế hoặc vùng biển lãnh hải.
Công ước trên cho phép các quốc gia ven biển thu phí cho các dịch vụ được cung cấp, chẳng hạn như hỗ trợ hàng hải hoặc sử dụng cảng, nhưng không cho phép thu phí cho việc vận chuyển
Tuy nhiên, cả Mỹ và Iran đều chưa phê chuẩn UNCLOS.
Theo nhà phân tích Bhaskar, Iran có thể "lách luật" bằng cách thu phí để rà phá thủy lôi trên eo biển Hormuz và đảm bảo an toàn cho tàu thuyền đi qua.
Các nhà phân tích nhận định Tổng thống Trump khó có thể chấp nhận yêu cầu thu phí vô thời hạn của Iran. Anh và 40 quốc gia khác cũng đã bắt đầu thảo luận các biện pháp để mở cửa lại eo biển một cách tự do.
Tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 7-4, Bahrain đã đề xuất một nghị quyết kêu gọi mở cửa lại eo biển bằng "mọi phương tiện cần thiết" và được 11/15 thành viên ủng hộ. Tuy nhiên, Nga và Trung Quốc đã phủ quyết nghị quyết này với lý do thiên vị chống lại Iran.