Thạc sĩ – dược sĩ Trần Ngọc Tín, Trường đại học Khoa học Sức Khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết trong gừng có nhiều nhóm hợp chất quan trọng như gingerol, shogaol, zingerone, flavonoid và các thành phần tinh dầu thuộc nhóm terpene. Nhiều nghiên cứu cho thấy các hợp chất này góp phần tạo nên các tác dụng sinh học của gừng như chống oxy hóa, kháng viêm, hỗ trợ tiêu hóa và điều hòa miễn dịch.
Các hoạt chất không chỉ hiện diện trong phần thịt củ mà còn phân bố ở lớp mô sát bề mặt và phần vỏ. Ngoài ra, lớp vỏ còn chứa các thành phần tinh dầu như zingiberene cùng nhiều terpene khác, góp phần tạo nên mùi thơm đặc trưng và các đặc tính sinh học của gừng.
Vì vậy, việc cạo hoặc gọt bỏ lớp vỏ quá dày có thể làm mất đi một phần tinh dầu và các hợp chất sinh học nằm gần bề mặt củ.
Trong y học cổ truyền, các bộ phận của gừng được sử dụng với những mục đích khác nhau:
Theo một số y văn y học cổ truyền, gừng thường được sử dụng nguyên củ thay vì loại bỏ hoàn toàn phần vỏ. Việc giữ lại lớp vỏ được cho là giúp bảo tồn đầy đủ hơn các đặc tính tự nhiên của dược liệu và hạn chế thất thoát tinh dầu trong quá trình sơ chế.
Điều quan trọng nhất không phải là “cạo hay không cạo” mà là bảo đảm gừng được làm sạch và an toàn trước khi sử dụng.
Nên giữ nguyên vỏ: Gừng còn tươi, có nguồn gốc rõ ràng; đã được rửa sạch kỹ dưới vòi nước chảy; có thể chà nhẹ bằng bàn chải mềm để loại bỏ đất cát bám trên bề mặt. Dùng để pha trà gừng, ngâm mật ong, nấu nước gừng hoặc làm gia vị cho các món kho, hầm, hấp. Trong những trường hợp này, việc giữ lại lớp vỏ giúp tận dụng thêm một phần tinh dầu và các hợp chất sinh học nằm ở vùng bề mặt củ.
Nên cạo hoặc gọt mỏng vỏ: Gừng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Bề mặt bám nhiều đất cát khó làm sạch. Nghi ngờ có tồn dư hóa chất bảo quản hoặc thuốc bảo vệ thực vật. Khi đó, ưu tiên hàng đầu vẫn là bảo đảm an toàn thực phẩm.
Rửa sạch dưới vòi nước chảy; có thể ngâm nước muối loãng và dùng bàn chải mềm để làm sạch đất cát bám trên vỏ. Không sử dụng gừng có dấu hiệu dập nát, úng hoặc xuất hiện nấm mốc. Dùng với lượng vừa phải vì sử dụng quá nhiều có thể gây kích ứng đường tiêu hóa ở một số người. Người đang có các bệnh lý mạn tính, phụ nữ mang thai nên tham khảo ý kiến của chuyên gia y tế khi có nhu cầu sử dụng thường xuyên hoặc với lượng lớn.
Không có câu trả lời tuyệt đối cho việc có nên cạo vỏ gừng hay không. Theo cả y học cổ truyền và các nghiên cứu hiện đại, lớp vỏ gừng không chỉ là lớp bảo vệ bên ngoài mà còn chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Do đó, nếu gừng có nguồn gốc rõ ràng và được làm sạch đúng cách, người dùng không nhất thiết phải loại bỏ hoàn toàn lớp vỏ trước khi sử dụng.
“Như vậy, thay vì lựa chọn nên cạo bỏ vỏ hay không, người tiêu dùng nên ưu tiên lựa chọn gừng sạch từ lúc mua, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm. Đây là cách đơn giản giúp tận dụng tối đa giá trị của loại gia vị quen thuộc này đồng thời hạn chế những nguy cơ không mong muốn đối với sức khỏe”, bác sĩ Trần Ngọc Tín chia sẻ.
Bác sĩ Gaurav Singh Bhandari, giám đốc kiêm trưởng khoa chỉnh hình và thay khớp, Bệnh viện chuyên khoa Dharamshila Narayana (Ấn Độ), đã chỉ cách đúng để ra khỏi giường vào buổi sáng.
Bác sĩ Bhandari nêu lên mối lo ngại về thói quen phổ biến là đột ngột bật lên và ngồi thẳng dậy khỏi giường: Kiểu ngồi dậy đột ngột có thể chính là lý do khiến bạn cảm thấy những cơn đau lưng khó chịu vào buổi sáng, theo tờ Hindustan Times.
Ông cho biết sai lầm lớn nhất là ngay lập tức đứng dậy từ tư thế nằm, vì động tác này buộc cột sống phải gập lại ngay lập tức, gây ra áp lực rất lớn lên vùng lưng dưới trước khi các cơ bắp đủ "tỉnh táo" để chịu được tải trọng.
Bác sĩ Bhandari giải thích: Trong suốt thời gian ngủ, cột sống ở trạng thái hoàn toàn không chịu tải, thư giãn; các đĩa đệm giữa các đốt sống tích trữ nước và giãn nở. Đến sáng, các cơ tương đối cứng và những đĩa đệm tích nước khiến cột sống tạm thời ít chịu đựng được các chuyển động đột ngột, bật mạnh.
Điều khiến nhiều người ngạc nhiên là không có sự khác biệt lớn giữa bên trái và bên phải. Bác sĩ Bhandari hướng dẫn trình tự để đứng dậy an toàn như sau:
Lăn nhẹ nhàng: Lăn nhẹ nhàng sang bên nào bạn cảm thấy thoải mái nhất.
Gập gối: Nhấc nhẹ đầu gối về phía ngực.
Chống tay: Thay vì dùng cơ lưng để kéo mình lên, hãy chống tay đẩy phần thân trên khỏi nệm một cách có kiểm soát. Điều này giúp giữ cho cột sống thẳng hàng thay vì bị vặn xoắn.
Tạm dừng trong vài giây: Khi đã ngồi trên mép giường, hãy giữ nguyên tư thế đó trong vài giây để cho phép huyết áp và cột sống thích nghi với tư thế thẳng đứng, theo Hindustan Times.
Khi đã sẵn sàng để đứng dậy, hãy tập trung vào việc sử dụng cơ chân để tạo lực cho chuyển động. Tránh cúi gập người về phía trước một cách đột ngột để "nâng" mình lên.
Ngày 1/5, PGS.TS.BS Phạm Văn Quang, Trưởng khoa Hồi sức tích cực chống độc, Bệnh viện Nhi đồng 1, cho biết bệnh nhi nhập cấp cứu trong tình trạng môi tái, nhịp tim không đều, rơi vào cơn rối loạn nhịp nhanh thất đe dọa tính mạng.
Theo người nhà, trước đó một ngày bé chỉ sốt nhẹ, kèm đau ngực, khó thở và nôn ói. Đến sáng hôm sau, triệu chứng không giảm mà tăng dần, xuất hiện hồi hộp, đánh trống ngực nên gia đình lập tức đưa đi viện.
Các bác sĩ chẩn đoán viêm cơ tim tối cấp, nhanh chóng hỗ trợ hô hấp, dùng thuốc chống loạn nhịp. Bác sĩ khoa Tim mạch đặt máy tạo nhịp tạm thời để duy trì nhịp tim rồi chuyển thẳng đến khoa Hồi sức tích cực. Tuy nhiên, tình trạng không cải thiện. Tim co bóp rất yếu, rối loạn nhịp thất liên tục khiến bệnh nhi rơi vào trụy tim mạch, nguy cơ ngưng tim.
Báo động đỏ lập tức được kích hoạt, kíp hồi sức chạy đua với thời gian triển khai kỹ thuật ECMO để thay thế chức năng tim phổi, duy trì sự sống cho bệnh nhi. Đồng thời, các bác sĩ áp dụng hạ thân nhiệt và lọc máu liên tục nhằm bảo vệ não và hạn chế tổn thương đa cơ quan.
Sau khoảng 20 phút, tình trạng tím tái cải thiện, bệnh nhi dần hồng hào trở lại. Tuy nhiên, suốt một tuần sau đó, tim vẫn đập yếu và loạn nhịp, phải phụ thuộc hoàn toàn vào ECMO cùng các thuốc trợ tim, chống loạn nhịp.
Gần 11 ngày điều trị căng thẳng, chức năng tim và các cơ quan dần hồi phục. Bệnh nhi được cai ECMO vào ngày 21/4, tiếp tục cai máy thở, tỉnh táo hoàn toàn và không để lại di chứng. Một tuần sau đó, bé xuất viện trong niềm vui của gia đình và kíp điều trị.
Viêm cơ tim cấp thường do virus, hay gặp nhất là Coxsackie nhóm B. Giai đoạn đầu, bệnh dễ bị nhầm với cảm cúm do chỉ có sốt nhẹ, mệt, ho, sổ mũi hoặc rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn. Tuy nhiên, khi bệnh tiến triển nặng, trẻ có thể xuất hiện đau ngực, khó thở, tím tái, tay chân lạnh, rối loạn nhịp tim, thậm chí trụy tim mạch. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, nguy cơ tử vong rất cao.
Theo phó giáo sư Quang, với thể nặng, tỷ lệ tử vong có thể lên đến 30-40%, riêng viêm cơ tim tối cấp trước đây gần như 100% không qua khỏi. Sự phát triển của kỹ thuật ECMO hiện nay giúp mở ra cơ hội sống cho nhiều bệnh nhi trong tình trạng nguy kịch.
Tại hội thảo quốc tế Ung thư vú năm 2026 (diễn ra từ 22 - 23.4), tại Hà Nội, PGS-TS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K, cho biết: "Mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 25.000 ca mắc mới ung thư vú. Nhờ phát hiện sớm và điều trị đúng, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm của bệnh nhân ung thư vú tại Việt Nam đã đạt 85% - 90%. Rất nhiều ca bệnh ung thư vú có thời gian sống dài, có ca bệnh sống thêm 30 năm, đến khám khi có một số bất thường sức khỏe".
Theo TS Quang, thông qua các chương trình giáo dục sức khỏe và truyền thông, các bệnh nhân ung thư vú phát hiện ở giai đoạn muộn đã giảm rõ rệt. 15 - 20 năm trước, khoảng 3/4 bệnh nhân ung thư vú đến bệnh viện ở giai đoạn muộn, hiện, 3/4 bệnh nhân đã đến khám, tư vấn ở giai đoạn sớm.
TS Quang đánh giá, chẩn đoán, phát hiện sớm ung thư vú làm tăng cơ hội điều trị khỏi ở người bệnh ung thư, bao gồm ung thư vú. Trong đó, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đã hỗ trợ bác sĩ đánh giá chính xác, cập nhật thông tin và tổng hợp các phác đồ từ nhiều nguồn khác nhau để hội chẩn đa chuyên khoa hiệu quả tối ưu cho từng người bệnh.
"Nhưng AI chỉ là công cụ hỗ trợ tìm kiếm và phân tích dữ liệu để tiết kiệm thời gian. Bác sĩ vẫn là người quyết định và chịu trách nhiệm cuối cùng về mặt đạo đức và pháp lý, chẩn đoán bệnh", TS Quang lưu ý.
Trước thực tế xét nghiệm mẫu máu chẩn đoán dấu ấn ung thư (xét nghiệm marker ung thư, chất chỉ điểm ung thư) đang được chỉ định khá rộng rãi trong sàng lọc bệnh, bác sĩ Quang cho biết, xét nghiệm marker đơn lẻ không thể phải là chỉ số khẳng định được tình trạng mắc bệnh ung thư. Việc chỉ nhìn vào một chỉ số tăng cao mà tự suy đoán sẽ dẫn đến lo lắng không đáng có. Chẩn đoán chính xác ung thư phải kết hợp giữa thăm khám lâm sàng và hệ thống nhiều xét nghiệm khác nhau do bác sĩ chuyên khoa chỉ định.
Theo thông tin tại hội thảo, ung thư vú là bệnh ác tính phổ biến nhất ở phụ nữ trên thế giới cũng như tại Việt Nam, có xu hướng trẻ hóa độ tuổi mắc bệnh. Những bước tiến trong điều trị và quản lý bệnh ung thư vú ở Việt Nam đã bắt kịp trình độ thế giới ở nhiều lĩnh vực.
Trong đó, điều trị đa mô thức như: phẫu thuật, các phác đồ hóa chất, thuốc nhắm trúng đích, thuốc miễn dịch và các kỹ thuật xạ trị tiên tiến; chẩn đoán phân tử như: xét nghiệm gen, xét nghiệm hóa mô miễn dịch đánh giá các phân nhóm ung thư vú, giúp các bác sĩ ra quyết định điều trị chính xác cho từng bệnh nhân, đem lại hiệu quả điều trị tốt nhất.
Hiệu quả điều trị phụ thuộc lớn vào thời điểm phát hiện giai đoạn của bệnh, phát hiện sớm đem lại cơ hội điều trị khỏi, do đó phụ nữ nên chủ động tầm soát ung thư vú hàng năm, nhất là người từ 40 tuổi hoặc khi có một số dấu hiệu bất thường.
Nên khám chuyên khoa khi có dấu hiệu cảnh báo ung thư vú: vú có các u cục bất thường; kích thước vòng một to lên bất thường, không tương xứng hai bên và thường xuyên cảm thấy cương cứng; thay đổi ở da vú (da tấy đỏ, độ dày của da thay đổi...); núm vú thay đổi bất thường (có tình trạng thụt vào bên trong, da núm vú nhăn nheo, sần sùi...).