Bệnh viện Quân y 121 (Cơ sở khám chữa bệnh đa khoa hạng I trực thuộc Cục Hậu cần – Kỹ thuật, Quân khu 9) đặt tại P.Ninh Kiều (TP.Cần Thơ) gồm khu A (số 01, đường 30/4) rộng 45.100m2 và khu B (Trung tâm Đột quỵ – Lão khoa & Phục hồi chức năng) diện tích 9.349m2 ở số 227 đường 30/4.
Bệnh viện Quân y 121 hiện nay có ngày tiếp nhận trên 2.000 lượt bệnh nhân bảo hiểm y tế đến khám, điều trị. Theo đó nhiều ca bệnh ngặt nghèo được cứu chữa thành công.
Một trong những trường hợp đặc biệt được các bác sĩ Bệnh viện Quân y 121 cứu chữa thành công là cụ ông T.V.M (100 tuổi, ngụ tỉnh Vĩnh Long). Trước khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng chướng bụng, buồn nôn, bí tiểu, đau nhiều, mệt mỏi.
Ngay sau khi tiếp nhận, các bác sĩ khẩn trương thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng, hội chẩn liên khoa, cho chỉ định phẫu thuật gấp trong đêm do bệnh nhân bị thủng tạng rỗng, cực kỳ nguy hiểm, đe dọa tính mạng. Sau hơn 140 phút căng thẳng, ca phẫu thuật thành công, bệnh nhân qua cơn nguy kịch và tiếp tục được chăm sóc tích cực tại bệnh viện.
Theo ThS-BS Phạm Quốc Toàn, Phó chủ nhiệm phụ trách Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, Bệnh viện Quân y 121, nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, nguy cơ tử vong đối với bệnh nhân T.V.M là rất cao. Cụ ông 100 tuổi này chỉ là một trong nhiều ca bệnh đặc biệt được bệnh viện cứu sống trong thời gian qua.
Nói đến những ca bệnh để lại dấu ấn đặc biệt về sự nỗ lực của các bác sĩ Bệnh viện Quân y 121, không thể không nhắc đến hành trình giành giật sự sống cho thai phụ T.N.X (ngụ xã U Minh Thượng, tỉnh An Giang) bị rắn hổ mang cực độc cắn khi đang mang thai ở tuần thứ 38.
Đại tá, TTƯT-BS.CK2 Trần Mạnh Hùng, Giám đốc Bệnh viện Quân y 121, nhớ lại thời khắc chạy đua với thời gian để cứu sống thai phụ T.N.X. Tối hôm đó, khi vừa tiếp nhận, bệnh viện lập tức “báo động đỏ”, khẩn cấp hội chẩn liên chuyên khoa, cấp tốc cứu người. Huyết thanh kháng nọc cho truyền gấp và thành lập ngay ê kíp mổ cấp cứu nhanh chóng đưa thai nhi sớm rời cơ thể người mẹ, hạn chế tối đa tác động xấu của nọc độc rắn hổ mang. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Ban giám đốc bệnh viện cùng sự phối hợp nhịp nhàng của các bác sĩ chuyên sâu, tay nghề cao, bé trai nặng hơn 3,5 kg khỏe khoắn chào đời an toàn trong đêm.
Vừa qua, tại Bệnh viện Quân y 121, đại tá Võ Văn Phương, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Cục Hậu cần – Kỹ thuật (Quân khu 9) đã chủ trì buổi gặp mặt, biểu dương, khen thưởng tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong tham gia cứu sống thai phụ T.N.X. Đại tá Võ Văn Phương khen ngợi và đánh giá cao sự nỗ lực hết mình của đội ngũ thầy thuốc Bệnh viện Quân y 121 vì đã cứu sống kịp thời mẹ con sản phụ T.N.X, mang lại niềm niềm vui và hạnh phúc lớn lao cho gia đình sản phụ.
Bên cạnh cấp cứu, điều trị thành công nhiều ca bệnh khó, Bệnh viện Quân y 121 đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh. Hiện bệnh viện tiếp nhận khám bệnh từ 5 giờ 30 phút hằng ngày (thứ hai đến thứ sáu) và buổi sáng thứ bảy, chủ nhật. Đồng thời, ứng dụng 100% công nghệ thông tin trong quy trình khám chữa bệnh, giúp rút ngắn thời gian chờ đợi, nâng cao hiệu quả quản lý.
Bệnh viện xác định phát triển chuyên môn kỹ thuật chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực điều trị, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe bộ đội và nhân dân. Bệnh viện đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, hợp tác với các bệnh viện tuyến cuối; đồng thời tổ chức những hội thảo chuyên ngành lớn nhằm cập nhật kịp thời tiến bộ y học hiện đại vào thực tiễn điều trị.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam; nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng khi đến thăm Bệnh viện Quân y 121 đều ghi nhận, biểu dương, đánh giá rất cao công tác khám chữa bệnh và đề nghị tiếp tục đầu tư, hỗ trợ, nâng cấp để Bệnh viện Quân y 121 vươn lên mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.
Theo BS.CK2 Trần Mạnh Hùng, thời gian gần đây, nhiều kỹ thuật khám, chữa bệnh mới được áp dụng hiệu quả tại Bệnh viện Quân y 121 như: chỉnh gù vẹo cột sống; phẫu thuật thay khớp gối, khớp háng; phẫu thuật nội soi khớp vai, thay đốt sống cổ; nội soi lấy nhân đệm qua đường liên bản sống; chỉnh hình họng màn hầu lưỡi gà; điều trị tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch; chụp CT động mạch vành, mạch máu; can thiệp mạch vành qua da; nội soi cắt dạ dày; nội soi cắt trực tràng; nội soi lấy sỏi thận qua da bằng đường hầm nhỏ; tầm soát ung thư cổ tử cung; tái tạo dây chằng chéo qua nội soi; lọc máu hấp phụ… “Bệnh viện đã xử lý thành công nhiều ca bệnh khó như liệt tứ chi do tổn thương đĩa đệm sống lưng, sống cổ; vết thương thấu tim do dao đâm; khối u não cực lớn; sốc nhiễm trùng, nhiễm độc; thay khớp háng cho cụ bà 100 tuổi; nội soi cắt 3/4 dạ dày cứu chữa bệnh nhân 61 tuổi bị ung thư….”, BS.CK2 Trần Mạnh Hùng thông tin thêm.
Trong lần khám định kỳ tại Bệnh viện Gia An 115, chị B.A.D (ở TP.HCM) được phát hiện có sỏi mật qua siêu âm ổ bụng. Kết quả chụp MRI ghi nhận túi mật giãn to, kích thước khoảng 67 x 35 mm do một viên sỏi lớn chiếm gần toàn bộ lòng túi mật.
Trước nguy cơ biến chứng, người bệnh được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt túi mật. Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi, chị D. hồi phục tốt và xuất viện sau vài ngày.
Theo thạc sĩ - bác sĩ Phan Bảo Toàn, Khoa Ngoại, Bệnh viện Gia An 115, sỏi túi mật là bệnh lý khá phổ biến nhưng thường diễn tiến âm thầm. Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện tình cờ khi khám sức khỏe hoặc khi đã xuất hiện biến chứng.
Về cơ chế hình thành sỏi, bác sĩ cho biết dịch mật do gan tiết ra sẽ theo hệ thống ống mật đổ xuống tá tràng khi ăn để hỗ trợ tiêu hóa, đặc biệt là chất béo. Phần dịch mật còn lại được dự trữ trong túi mật và dần bị cô đặc giữa các bữa ăn. Quá trình cô đặc này làm tăng nồng độ các chất hòa tan như cholesterol, muối mật, axit mật và điện giải. Khi tình trạng “quá bão hòa” kéo dài, các thành phần này có thể kết tinh và hình thành sỏi.
“Phần lớn sỏi túi mật là sỏi cholesterol, hình thành khi nồng độ cholesterol trong dịch mật tăng cao. Ngoài ra, các yếu tố như ứ đọng dịch mật, nhiễm trùng đường mật, ăn nhiều chất béo, ít vận động, thói quen bỏ bữa - đặc biệt là nhịn ăn sáng kéo dài - cũng làm tăng nguy cơ tạo sỏi. Người thừa cân, béo phì hoặc có tiền sử gia đình mắc sỏi mật cũng thuộc nhóm nguy cơ cao”, bác sĩ Toàn cho hay.
Không phải mọi trường hợp sỏi túi mật đều cần phẫu thuật ngay. Tuy nhiên, với những viên sỏi kích thước lớn (thường từ 3 cm trở lên), chiếm gần hết lòng túi mật hoặc có nguy cơ gây biến chứng, cắt túi mật nội soi là phương pháp điều trị hiệu quả, giúp xử trí triệt để và phòng ngừa rủi ro.
Nếu không được theo dõi và xử trí phù hợp, sỏi túi mật có thể dẫn đến nhiều biến chứng như viêm túi mật cấp, tắc mật, nhiễm trùng đường mật, viêm tụy cấp do sỏi, hội chứng Mirizzi (có thể gây vàng da, viêm đường mật), thậm chí làm tăng nguy cơ ung thư túi mật ở những trường hợp sỏi rất lớn. Các biến chứng này có thể diễn tiến nhanh và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
Từ trường hợp trên, bác sĩ khuyến cáo người trưởng thành, đặc biệt là nhóm có yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, ăn nhiều chất béo, ít vận động, nên duy trì thói quen khám sức khỏe định kỳ có siêu âm ổ bụng để phát hiện sớm sỏi mật và các bệnh lý đường mật, ngay cả khi chưa có triệu chứng.
Khi xuất hiện các dấu hiệu như đau quặn vùng hạ sườn phải (có thể lan ra lưng hoặc vai phải), đầy bụng, buồn nôn sau khi ăn nhiều dầu mỡ, khó tiêu kéo dài hoặc sốt không rõ nguyên nhân, người bệnh cần đi khám sớm để được chẩn đoán và xử trí kịp thời.
Sơn La hiện có 74 trạm y tế xã, phường, y tế tỉnh còn thiếu khoảng 1.500 cán bộ, bác sĩ y tế cộng đồng.
"Hiện, hạn chế lớn nhất là hạn chế nhân lực y tế, đặc biệt nhân lực chất lượng cao, trong bối cảnh, tỉnh đang rà soát soát lại mạng lưới y tế, và bệnh viện tỉnh sẽ nâng quy mô lên 1.000 giường bệnh", ông Hà Trung Chiến, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Sơn La, cho biết, tại hội nghị tăng cường nhân lực y tế tỉnh Sơn la và ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện y tế giai đoạn 2026 - 2030 đã được UBND tỉnh Sơn La tổ chức ngày 18.4, tại Sơn La.
Theo ông Chiến, trong năm 2025: toàn tỉnh có khoảng 3% người bệnh chuyển tuyến về trung ương, chủ yếu các bệnh lý ung thư xạ trị, chấn thương cột sống phức tạp, một số bệnh về tim mạch...
Do đó, nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho y tế là các nội dung được chú trọng cho y tế địa phương.
Tại hội nghị, PGS-TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, cho biết, bệnh viện sẽ hỗ trợ Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La nâng cao chất lượng y tế cơ sở, đào tạo nhân lực cùng với xây dựng mạng lưới y tế cơ sở. "Y tế cơ sở không tốt thì y tế chuyên sâu xây dựng bao nhiêu cũng thiếu", ông Cơ đánh giá.
Ông Cơ chia sẻ, thực tế Sơn La thiếu hụt cả ngàn nhân lực y tế, do đó, cùng với đào tạo nhân lực cho y tế Sơn Lan, về lâu dài, cần hướng đến thành lập cơ sở đào tạo y tế ngay tại tỉnh để chủ động nhân lực cho Sơn La và khu vực Tây Bắc. Hiện Bạch Mai đang làm thủ tục thành lập Đại học Y dược Bạch Mai, và đội ngũ các chuyên gia hàng đầu, hoàn toàn có thể hỗ trợ Sơn La về nâng cao chất lượng nhân lực y tế
Với Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La, ông Cơ đánh giá, bệnh viện đang triển khai bệnh án điện tử ở mức cơ bản, là bệnh viện không còn giấy tờ; và tương lai phải là ứng dụng dữ liệu thông minh trong chẩn đoán điều trị, chăm sóc sức khỏe người dân.
Ông Cơ khẳng định, hợp tác của Bạch Mai với Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La không chỉ là chuyển giao kỹ thuật, mà là toàn diện, người dân được chăm sóc sức khỏe ngay tại thôn, bản và thụ hưởng dịch vụ y tế kỹ thuật cao.
Đơn cử như, bệnh viện hiện có máy chụp DSA rất tốt, là hệ thống can thiệp hiện đại, nhưng cần khai thác thật hiệu quả để người dân được hưởng thụ thành tựu khoa học kỹ thuật: can thiệp đột quỵ lấy huyết khối sớm, đặt stent điều trị bệnh mạch vành; can thiệp khối u, nút mạch u (lồng ngực, gan, tiền liệt tuyến...) Do đó Bệnh viện Bạch Mai cần giúp để ứng dụng được ngay máy này.
Bạch Mai cũng sẵn sàng hỗ trợ Sơn La ứng dụng công nghệ trong quản trị hệ thống y tế; Sở Y tế tỉnh đồng bộ hóa dữ liệu y tế người dân từ thôn bản... Tất cả thu về một đầu mối, công nghệ đồng bộ trong cả tỉnh, đồng bộ với T.Ư, tránh là những mảnh ghép rời rạc về y tế.
Theo công Cơ, với việc nâng cao chất lượng nhân lực, sử dụng tối đa trang thiết bị, sẽ giúp bệnh nhân giảm chuyển tuyến tăng cơ hội điều trị, cứu sống, giảm chi phí. Đầu tư cho sức khỏe là đầu tư an ninh y tế quốc gia.
Thuốc amivantamab, một phương pháp điều trị ung thư trúng đích bằng hình thức tiêm dưới da, mở ra hy vọng mới khi giúp thu nhỏ khối u ở hơn một phần ba số bệnh nhân ung thư đầu và cổ tái phát hoặc di căn. Nhóm bệnh nhân này vốn đã kháng các phác đồ điều trị tiêu chuẩn, theo Viện Nghiên cứu Ung thư London (ICR).
Trước đó, amivantamab, do tập đoàn Johnson & Johnson phát triển, là phương pháp điều trị thuộc nhóm kháng thể đơn dòng đặc hiệu kép. Loại thuốc này hiện đã được cấp phép để điều trị cho nhiều phân nhóm ung thư phổi ở các bước điều trị khác nhau.
Các nhà khoa học thiết kế loại protein nhân tạo này hoạt động như một chiếc còng số 8, tự động dò tìm và khóa chặt cùng lúc hai mục tiêu then chốt trên bề mặt tế bào ung thư. Mục tiêu thứ nhất là EGFR, một loại protein đóng vai trò như động cơ thúc đẩy khối u tăng sinh đột biến. Mục tiêu thứ hai là MET, con đường truyền tín hiệu bí mật giúp tế bào ác tính lẩn trốn và chống lại các loại thuốc hóa trị, miễn dịch thông thường.
Ngay khi khóa chặt hai tín hiệu sinh tồn này khiến tế bào ung thư kiệt quệ, amivantamab tiếp tục phát huy tác dụng sinh học thứ ba. Thuốc đóng vai trò như một hồi chuông báo động, kích hoạt hệ thống miễn dịch của cơ thể. Các tế bào bạch cầu ngay lập tức nhận diện tín hiệu, di chuyển đến khu vực có khối u và trực tiếp tiêu diệt các mầm bệnh đang suy yếu.
Đội ngũ y tế tiêm trực tiếp một lượng nhỏ amivantamab vào lớp mô dưới da bệnh nhân thay vì truyền dịch pha loãng qua đường tĩnh mạch. Phương pháp đưa thuốc mới này giúp các hoạt chất thâm nhập nhanh chóng vào cơ thể, phát huy tác dụng bao vây khối u chỉ trong thời gian ngắn. Bệnh nhân hoàn toàn có thể hoàn thành quy trình tiêm tại phòng khám ngoại trú và về nhà ngay, tránh được tâm lý mệt mỏi khi phải lưu trú dài ngày tại bệnh viện. Những bệnh nhân được điều trị bằng amivantamab có thời gian sống thêm trung vị là 12,5 tháng kể từ khi bắt đầu điều trị.
Kết quả thử nghiệm lâm sàng pha Ib/II mang tên OrigAMI-4, do các nhà khoa học ICR thực hiện, được báo cáo hôm 31/5 tại Hội nghị Thường niên của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Mỹ (ASCO) và xuất bản trên Tạp chí Ung thư Lâm sàng (JCO), xác nhận tình trạng thu nhỏ khối u ở 42% số bệnh nhân được điều trị bằng thuốc amivantamab.
Các nhà khoa học cho biết kết quả này là bằng chứng vững chắc để tiếp tục phát triển amivantamab thành một phương pháp điều trị đầy hứa hẹn cho ung thư đầu và cổ. Đây là căn bệnh đang ảnh hưởng đến khoảng 12.800 người tại Anh mỗi năm và cũng là loại ung thư phổ biến thứ 6 trên thế giới.
Thử nghiệm được triển khai tại 55 bệnh viện ở 11 quốc gia, tập trung vào những người mắc ung thư đầu và cổ. Ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ là căn bệnh ác tính tiến triển rất nhanh, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Các triệu chứng như đau đớn và nuốt nghẹn khiến bệnh nhân gặp nhiều khó khăn khi ăn uống, giao tiếp, từ đó không đảm bảo được dinh dưỡng cho cơ thể. Một số dạng ung thư đầu cổ gồm các khối u ở khoang miệng, thanh quản và các phần của họng, nằm trong số những loại khó chữa nhất, thường có kết quả điều trị xấu và luôn đòi hỏi những bài thuốc mới hiệu quả hơn. Tính chung trong các loại ung thư đầu cổ, có tới một nửa số bệnh nhân sẽ bị tái phát hoặc di căn, ngay cả khi bệnh đã được phát hiện và điều trị từ giai đoạn sớm.
Một khi bệnh tái phát hoặc di căn, tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ còn khoảng 15%. Đối với những bệnh nhân phải chuyển sang phác đồ điều trị tiếp theo, các loại thuốc hiện tại đem lại lợi ích rất hạn chế khi tỷ lệ đáp ứng với thuốc hiếm khi vượt quá 24% và hiếm người đạt được kết quả sạch bóng khối u hoàn toàn.
Nhóm một của nghiên cứu OrigAMI-4 gồm 102 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ tái phát hoặc di căn, có khối u vẫn tiếp tục phát triển bất chấp trước đó đã được điều trị bằng liệu pháp miễn dịch và hóa trị dựa trên nền platinum.
Trong quá trình thử nghiệm, các bác sĩ ghi nhận khối u đã thu nhỏ ở 43 bệnh nhân. Trong đó, 15 người đáp ứng hoàn toàn, nghĩa là khối u biến mất trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, và 28 người bệnh đạt đáp ứng một phần khi khối u thu nhỏ đáng kể.
Chuyên gia nhận định nếu những kết quả khả quan từ nghiên cứu trên tiếp tục được khẳng định trong các thử nghiệm quy mô lớn hơn như thử nghiệm lâm sàng pha 3 OrigAMI-5 đang diễn ra, phương pháp điều trị này sẽ sớm được phê duyệt, đem lại cơ hội sống cho hàng chục nghìn người khác trên toàn thế giới mỗi năm.