Trả lời:
Có người ăn đều một ngày ba bữa, xem bữa sáng là bữa ăn quan trọng, nhằm cung cấp năng lượng dự trữ. Tuy nhiên, có người quan niệm không ăn sáng để cơ thể tiêu hóa hết dinh dưỡng buổi tối, giảm tích lũy mỡ. Nhìn chung, đây là sở thích của từng người. Trường hợp nhịn ăn sáng mà mệt mỏi, mất tập trung, giảm hiệu suất thì không nên bỏ. Bỏ ăn sáng thường phù hợp với nhóm thức dậy muộn hoặc đi ngủ buổi tối muộn.
Nhiều trường hợp không ăn sáng, đặc biệt đàn ông dẫn đến không đủ năng lượng. Mỗi ngày cơ thể cần 2.000 – 2.500 calo, trong đó bữa sáng chiếm 400 – 500 calo, giúp tái cung cấp năng lượng sau một giấc ngủ dài. Nhịn bữa sáng có thể gây tăng cân do dễ dàng cảm thấy đói và ăn uống không kiểm soát. Nhịn ăn sáng sau đó tiêu thụ một lượng lớn thức ăn vào buổi trưa dễ gặp vấn đề về tiêu hóa như trào ngược dạ dày hoặc đau bụng, viêm loét dạ dày; kích thích hệ tiêu hóa.
Nghiên cứu đăng trên Tạp chí của Học viện Dinh dưỡng và Ăn kiêng Mỹ, năm 2022, cho rằng việc chỉ ăn một bữa mỗi ngày làm tăng nguy cơ tử vong ở người Mỹ từ 40 tuổi trở lên. Bỏ bữa sáng hoặc bữa tối làm gia tăng khả năng mắc bệnh tim mạch. Người ăn hai hoặc ba bữa cách nhau dưới 4,5 tiếng có tỷ lệ tử vong vì mọi nguyên nhân cao hơn.
Tạp chí Tim mạch Dự phòng châu Âu cũng cho biết người bỏ bữa sáng và ăn tối muộn có nguy cơ tử vong cao gấp 4-5 lần vì bệnh tim mạch, so với người không có thói quen này. Nhịn ăn sáng có thể làm tăng mức cortisol, có khả năng dẫn đến thèm ăn nhiều hơn và chất lượng giấc ngủ kém.
Do đó, bạn nên theo dõi và lắng nghe cơ thể, bổ sung dinh dưỡng phù hợp kết hợp tập luyện để đủ năng lượng hoạt động trong cả ngày.
Tin Gốc: Vnexpress

Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, đã di căn nên hiệu quả điều trị còn hạn chế, tỉ lệ sống thấp, tỉ lệ tử vong cao dù những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong chẩn đoán và điều trị.
Có tiền sử xơ gan cộng thói quen hút thuốc lá và uống rượu bia thường xuyên kéo dài nhiều năm, ông H. vừa được chẩn đoán ung thư phổi giai đoạn 4, di căn não, có đột biến gene.
Ông H. được chỉ định xạ gamma não để kiểm soát tổn thương di căn não, đồng thời xét nghiệm nhằm đánh giá khả năng đáp ứng với liệu pháp miễn dịch. Trong trường hợp không phù hợp, gia đình đang cân nhắc sử dụng thuốc nhắm trúng đích.
Trong khi đó, bà T. không có tiền sử hút thuốc, nhập viện với các triệu chứng ho kéo dài và sụt cân không rõ nguyên nhân.
Dựa trên kết quả giải phẫu bệnh, hóa mô miễn dịch và xét nghiệm sinh học phân tử, bệnh nhân được chẩn đoán nghi ngờ ung thư phổi giai đoạn 3. Hiện bệnh nhân đang được điều trị bằng thuốc nhắm trúng đích với liều 3 viên/ngày, chi phí ước tính khoảng 25 triệu đồng mỗi tháng.
Trường hợp khác là mẹ của anh D.K. phát hiện ung thư phổi được khoảng 10 tháng thì bà qua đời. Trước đó mẹ anh K. truyền hóa chất sáu đợt, vì quá mệt, không chịu nổi nên bà chuyển sang uống thuốc nam.
Sau hơn một tháng, tình trạng bệnh nặng hơn, đau nhiều và khó thở tăng dần. Khi mẹ anh K. nhập viện trở lại, khối u đã phát triển nhanh, từ 7cm lên 15cm, bệnh viện không còn khả năng can thiệp điều trị.
Chỉ gần hai tháng kể từ khi được phát hiện ung thư phổi giai đoạn 3C có đột biến gene, cha của anh P. đã qua đời khiến gia đình bàng hoàng, chưa thể chấp nhận. Người nhà cho biết người bệnh đã được chỉ định phác đồ điều trị và dùng thuốc nhắm trúng đích, bệnh vẫn tiến triển nhanh, suy kiệt, ăn uống kém, không qua khỏi.
Ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú là thể bệnh tiến triển nhanh, dễ di căn và có tiên lượng xấu. Trong khi đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3 không thể phẫu thuật chiếm khoảng 15-20% tổng số ca và là nhóm bệnh phức tạp, khó điều trị, gây gánh nặng kinh tế lớn với tổng chi phí điều trị giai đoạn muộn tại Việt Nam năm 2020 ước tính hơn 684 tỉ đồng.
Nghĩa trang phường Trị An (TP Đồng Nai) ngày cuối tuần có nhiều bà mẹ dắt díu con, cháu đến thăm mộ của người đã khuất. Ở một khoảnh đất có gần chục ngôi mộ còn mới, nghi ngút khói nhang có đến 2/3 người đều ra đi ở tuổi ngoài 60 và cùng một căn bệnh là ung thư phổi giai đoạn cuối.
"Cha em to, khỏe, làm nghề khoan giếng. Không ai nghĩ cha em mất nhanh như vậy, chỉ hai tháng rưỡi sau khi phát hiện bệnh" - T. (37 tuổi) vừa lau mộ cho người cha xấu số vừa kể.
Theo BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, tỉ lệ phát hiện bệnh ung thư phổi ở giai đoạn muộn còn rất cao. Theo thống kê, tỉ lệ ung thư phổi ở giai đoạn muộn đi tới bệnh viện chiếm tới 84%, chỉ có khoảng 16% giai đoạn sớm. Điều này khiến cho điều trị kém hiệu quả, tỉ lệ sống còn thấp.
Lý giải tình trạng này, bác sĩ Tuấn cho biết không chỉ ung thư phổi mà cả ung thư gan, ung thư vú cũng có tới 50-80% trường hợp được phát hiện ở giai đoạn muộn.
Nguyên nhân chủ yếu là người dân chưa thực sự quan tâm đúng mức đến sức khỏe, trong khi tỉ lệ khám tầm soát định kỳ hằng năm còn thấp. Khi không tầm soát, bệnh rất khó được phát hiện ở giai đoạn sớm khi chưa có triệu chứng rõ ràng.
BS Lê Tuấn Anh, Giám đốc Trung tâm ung bướu Bệnh viện Chợ Rẫy, cho hay ung thư phổi là một trong ba loại ung thư phổ biến nhất, thường gặp cả ở cả hai giới. Đa phần bệnh nhân tại Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn muộn, với tỉ lệ bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn 4 lên tới 41%, trong khi giai đoạn 1A chỉ chiếm khoảng 14%.
Việc phát hiện sớm quyết định rất lớn đến kết quả điều trị. Tỉ lệ sống còn năm năm ở giai đoạn 1A có thể lên tới 92%, trong khi ở giai đoạn 4B chỉ còn rất thấp.
"Ung thư phổi nhận được sự quan tâm rất lớn từ cộng đồng khoa học, không chỉ trong lĩnh vực ung bướu mà còn từ các chuyên ngành liên quan như hô hấp, chẩn đoán hình ảnh, sinh học phân tử", BS Tuấn Anh nói và cho rằng sự phối hợp giữa các bác sĩ phẫu thuật, nội khoa, xạ trị, dinh dưỡng và điều dưỡng là "chìa khóa" để nâng cao chất lượng điều trị, bên cạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ mới.
Bàn rõ hơn về phương pháp điều trị ung thư phổi, BS Tuấn cho hay đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3 không mổ được, tiêu chuẩn điều trị hiện tại là hóa xạ trị đồng thời, sau đó có thể duy trì bằng liệu pháp miễn dịch.
Tuy nhiên ở nhóm bệnh nhân có đột biến EGFR (thuộc nhóm ung thư phổi không tế bào nhỏ), đáp ứng với liệu pháp miễn dịch còn hạn chế, tạo ra khoảng trống rõ rệt về chiến lược củng cố kiểm soát bệnh lâu dài. Bên cạnh đó, ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm khoảng 15% tỉ lệ ung thư phổi, đa phần được phát hiện ở giai đoạn lan tràn, chỉ rất ít bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn khu trú.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Sức Khỏe
Khám tiền hôn nhân, nam thanh niên 28 tuổi phát hiện teo tinh hoàn dù không có triệu chứng

Mới đây, bác sĩ Nguyễn Văn Phúc, khoa nam học Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cho biết vừa tiếp nhận một trường hợp nam giới trẻ đến khám tiền hôn nhân và phát hiện bất thường ở tinh hoàn do giãn tĩnh mạch tinh.
Bệnh nhân nam 28 tuổi, chưa lập gia đình, đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe sinh sản trước hôn nhân với tâm lý đi khám để yên tâm hơn trước khi cưới. Người bệnh không có biểu hiện đau nhiều, không sốt, sinh hoạt bình thường, chỉ thỉnh thoảng có cảm giác tức nhẹ vùng bìu trái sau khi đứng lâu hoặc vận động mạnh nên trước đó không đi kiểm tra.
Qua thăm khám lâm sàng, bác sĩ nhận thấy tinh hoàn trái của bệnh nhân nhỏ hơn bên phải. Kết quả siêu âm bìu cho thấy hình ảnh giãn tĩnh mạch thừng tinh trái, đường kính tĩnh mạch giãn tăng lên khi làm nghiệm pháp Valsalva, có hiện tượng trào ngược.
Tinh hoàn trái có dấu hiệu giảm kích thước so với bên đối diện. Bệnh nhân được chẩn đoán teo tinh hoàn trái do giãn tĩnh mạch tinh.
Theo bác sĩ Phúc, giãn tĩnh mạch tinh là một trong những bệnh lý nam khoa khá thường gặp nhưng rất dễ bị bỏ qua do nhiều trường hợp tiến triển âm thầm, ít triệu chứng rõ ràng. Phần lớn người bệnh chỉ phát hiện tình cờ khi đi khám hiếm muộn, khám sức khỏe sinh sản hoặc khám tiền hôn nhân.
"Đây là tình trạng các tĩnh mạch quanh tinh hoàn bị giãn bất thường, làm ảnh hưởng đến tuần hoàn máu vùng bìu, tăng nhiệt độ tại chỗ và lâu dài có thể tác động đến chức năng sinh tinh cũng như thể tích tinh hoàn.
Nếu để kéo dài, người bệnh có nguy cơ giảm chất lượng tinh trùng, teo tinh hoàn và ảnh hưởng khả năng sinh sản", bác sĩ Phúc cho biết.
Giãn tĩnh mạch tinh thường gặp nhiều ở bên trái do đặc điểm giải phẫu mạch máu. Một số bệnh nhân có biểu hiện đau tức bìu, nặng bìu, khó chịu khi đứng lâu hoặc chơi thể thao, nhưng cũng có nhiều trường hợp gần như không có dấu hiệu gì rõ rệt cho đến khi đi kiểm tra chuyên sâu.
Mặc dù trường hợp này được phát hiện trước khi kết hôn, nhưng nếu để muộn hơn, người bệnh có thể phải đối mặt với nhiều nguy cơ như giảm chất lượng tinh trùng, ảnh hưởng khả năng có con. Khi teo tinh hoàn tiến triển nặng hơn sẽ đau tức bìu kéo dài, ảnh hưởng sinh hoạt và tác động đến sinh lý và chất lượng cuộc sống.
Bác sĩ Phúc khuyến cáo nam giới trước khi kết hôn nên chủ động khám sức khỏe sinh sản, đặc biệt khi có các biểu hiện như đau tức bìu, một bên tinh hoàn nhỏ hơn bên còn lại, có cảm giác nặng bìu hoặc đã cố gắng có con trong thời gian dài nhưng chưa thành công.
Rất nhiều nam giới còn tâm lý ngại đi khám vì nghĩ mình vẫn sinh hoạt bình thường thì chắc không có vấn đề gì. Tuy nhiên, có những bệnh lý tiến triển âm thầm và chỉ được phát hiện khi đã để lại ảnh hưởng rõ ràng. Khám sớm giúp phát hiện sớm, điều trị đúng thời điểm và bảo vệ tốt hơn khả năng sinh sản về sau.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Sức Khỏe
Bỏ qua dấu hiệu đột quỵ không đi khám, bệnh nhân thoát chết dù trễ ở giờ thứ 34

Ngày 1-4, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM) cho biết đã điều trị thành công cho một bệnh nhân bị đột quỵ ở giờ thứ 34. Đây là một trong những trường hợp hiếm gặp được cứu sống thành công.
Cụ thể, bệnh nhân là V.V.H. (50 tuổi, Vĩnh Long) có tiền sử tăng huyết áp, hút thuốc lá, uống rượu và từng xuất hiện các cơn tê tay, nói khó thoáng qua nhưng không đi khám.
Hơn một ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân đột ngột đớ miệng, yếu nửa người phải, không nói được, gia đình nghĩ tình trạng sẽ tự cải thiện nên đưa đến bệnh viện muộn, khi đã sang ngày thứ hai.
Tại bệnh viện khám ghi nhận, người bệnh mất ngôn ngữ toàn bộ, liệt dây thần kinh VII trung ương bên phải, yếu nửa người bên phải 3/5. Kết quả MRI sọ não cho thấy bệnh nhân bị nhồi máu não bán cầu trái do tắc đoạn M1 của động mạch não giữa.
Thông thường, sau 24 giờ kể từ khi khởi phát đột quỵ, hầu hết mô não bị thiếu máu đã hoại tử hoàn toàn. Tuy nhiên để xác định chính xác thể tích vùng não bị tổn thương, bác sĩ đã chỉ định chụp CT trên hệ thống Somatom Force VB30.
Bác sĩ Phan Ngọc Thảo - khoa nội thần kinh - đột quỵ Bệnh viện Gia An 115 - cho hay sau khi chụp CT đánh giá đúng phần não bị tổn thương, bệnh nhân được can thiệp lấy huyết khối cơ học.
Dưới hệ thống DSA, các mảnh huyết khối được lấy ra, tái thông hoàn toàn mạch máu. Dòng máu lập tức được khôi phục, tái nuôi dưỡng mô não.
Sau thủ thuật, bệnh nhân tiếp tục được điều trị nội khoa và phục hồi chức năng; tình trạng yếu tay chân và rối loạn ngôn ngữ cải thiện dần, điểm NIHSS (thang điểm đánh giá mức độ đột quỵ) khi xuất viện chỉ còn 1-2 điểm (ngôn ngữ).
Theo bác sĩ Thảo, cấp cứu đột quỵ nhồi máu não đạt hiệu quả cao nhất trong "thời gian vàng" dưới 4,5 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng. Cửa sổ điều trị có thể mở rộng 6 - 24 giờ với can thiệp lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học.
Sau mốc này, đa số bệnh nhân đã mất hoàn toàn vùng não có khả năng phục hồi, điều trị thường chỉ còn phục hồi chức năng và phòng ngừa tái phát. Vì vậy việc tái thông mạch thành công ở giờ thứ 34 như trường hợp ông H. này là ít gặp.
Bác sĩ Thảo chia sẻ thêm "thời gian vàng" để điều trị nhồi máu não là trong vòng 4,5 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng. Trong thời gian này, thuốc tiêu sợi huyết có thể được sử dụng để làm tan cục máu đông, khôi phục lưu lượng máu đến vùng não bị ảnh hưởng. Hiệu quả điều trị cao nhất đạt được trong 1 giờ đầu tiên do khả năng cứu được nhiều tế bào thần kinh nhất.
Lấy huyết khối cơ học có thể mở rộng cửa sổ điều trị lên đến 6 - 24 giờ ở những bệnh nhân được chọn lọc, dựa vào hình ảnh học như CT hoặc MRI để đánh giá vùng tranh tối tranh sáng. Sau 24 giờ, chỉ định can thiệp cực kỳ hạn chế và đòi hỏi bằng chứng rõ ràng từ các phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiên tiến.
Bác sĩ Thảo khuyến cáo, mỗi phút trôi qua, hàng triệu tế bào thần kinh mất đi vĩnh viễn. Do đó ngay khi người bệnh xuất hiện dấu hiệu nghi ngờ đột quỵ, cần đưa bệnh nhân cấp cứu ở bệnh viện có khả năng điều trị đột quỵ càng sớm càng tốt.
Đột quỵ có nhiều yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu (mỡ máu cao), ngưng thở khi ngủ, hút thuốc lá, căng thẳng kéo dài, lạm dụng rượu bia, béo phì, lối sống ít vận động, bệnh tim mạch và tiền sử cơn thiếu máu não thoáng qua.
Việc chủ động tầm soát, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và xử trí kịp thời khi có dấu hiệu nghi ngờ là chìa khóa để giảm thiểu thương tổn não và nâng cao khả năng hồi phục.

