Ngày 16/5/2026, CTCP Tập Đoàn PC1 (HoSE: PC1) công bố thông tin bất thường liên quan đến việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố, bắt tạm giam nhiều lãnh đạo cấp cao để điều tra các hành vi “vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” và “tham ô tài sản”.
Theo công bố của doanh nghiệp, cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với 7 cá nhân là người nội bộ của công ty.
Trong đó, ông Trịnh Văn Tuấn – Chủ tịch HĐQT bị điều tra về hành vi vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng và tham ô tài sản.
Cùng bị điều tra với các cáo buộc tương tự còn có ông Vũ Ánh Dương – Thành viên HĐQT kiêm Tổng giám đốc công ty; ông Nguyễn Minh Đề – Thành viên HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc; bà Trần Thị Minh Việt – Kế toán trưởng.
Ngoài ra, ông Trịnh Ngọc Anh – Phó tổng giám đốc, Chủ tịch HĐQT CTCP Khoáng sản Tấn Phát bị điều tra về hành vi vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.
Hai lãnh đạo khác gồm ông Võ Hồng Quang – Thành viên HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc và ông Đặng Quốc Trường – Phó tổng giám đốc hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam.
Theo nghị quyết của Ban kiểm soát công bố cùng ngày, hiện có 4 thành viên HĐQT bị tạm giam, khiến số lượng thành viên HĐQT còn lại chỉ còn 1 người.
Diễn biến này xảy ra trong bối cảnh PC1 vừa ghi nhận giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất kể từ khi cổ phần hóa, đồng thời mở rộng nhanh sang nhiều lĩnh vực ngoài xây lắp điện truyền thống như năng lượng tái tạo, khai khoáng và bất động sản.
Trước thời điểm vụ án được công bố, PC1 từng xuất hiện trong kết luận thanh tra liên quan đến phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ do Thanh tra Chính phủ công bố vào tháng 2/2026.
Theo kết luận này, doanh nghiệp công bố thông tin chưa đầy đủ theo quy định, bao gồm thông tin cụ thể về mục đích phát hành, thời điểm giải ngân nguồn vốn từ phát hành trái phiếu, ngày dự kiến phát hành và thông tin về tài sản đảm bảo.
Ngoài ra, PC1 được xác định đã sử dụng khoảng 90 tỷ đồng từ một số lô trái phiếu không đúng phương án đã công bố hoặc chưa phù hợp quy định pháp luật.
Diễn biến này khiến vấn đề quản trị tài chính và kiểm soát dòng tiền tại doanh nghiệp tiếp tục thu hút sự chú ý của thị trường.
Trong thông báo gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM ngày 16/5, PC1 cho biết doanh nghiệp chưa thể công bố báo cáo tài chính quý I/2026 đúng thời hạn.
Nguyên nhân được doanh nghiệp đưa ra là các nhân sự liên quan đến việc lập, rà soát và phê duyệt báo cáo tài chính đang phối hợp làm việc với cơ quan điều tra và đã bị khởi tố, tạm giam.
Việc nhiều lãnh đạo chủ chốt đồng thời bị khởi tố khiến hoạt động quản trị và điều hành của doanh nghiệp đối mặt áp lực lớn, đặc biệt trong bối cảnh PC1 đang vận hành hệ sinh thái trải rộng ở nhiều lĩnh vực như xây lắp điện, năng lượng, khai khoáng và bất động sản.
Ngày sau thời gian này, cổ phiếu PC1 đã trải qua giai đoạn lao dốc mạnh trên thị trường chứng khoán. Từ vùng giá khoảng 31.000 đồng/cổ phiếu, mã này giảm xuống còn 17.650 đồng/cổ phiếu, kéo vốn hóa doanh nghiệp giảm hơn 5.700 tỷ đồng.
Dữ liệu giao dịch cho thấy làn sóng bán tháo diễn ra đồng loạt từ nhiều quỹ đầu tư lớn.
Tại thời điểm cuối tháng 3, có khoảng 24 quỹ đầu tư nắm giữ tổng cộng hơn 7 triệu cổ phiếu PC1. Tuy nhiên, đến cuối tháng 4, số lượng quỹ còn sở hữu cổ phiếu doanh nghiệp chỉ còn 10, với tổng lượng nắm giữ khoảng 1 triệu đơn vị.
Như vậy, chỉ trong chưa đầy một tháng, đã có 14 quỹ đầu tư rút khỏi PC1, bán ra hơn 6 triệu cổ phiếu, tương đương mức thu hẹp tỉ lệ sở hữu khoảng 84,6%.
Trong nhóm các tổ chức thoái vốn mạnh nhất, Công ty TNHH Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF) là đơn vị bán ra nhiều nhất. Thông qua 4 quỹ thành viên gồm VCBF-MGF, VCBF-BCF, VCBF-TBF và VCBF-AIF, tổ chức này đã bán toàn bộ khoảng 1,63 triệu cổ phiếu PC1.
Cụ thể, quỹ VCBF-MGF bán ra gần 750.000 cổ phiếu, VCBF-BCF thoái hơn 505.000 đơn vị, trong khi VCBF-TBF và VCBF-AIF lần lượt bán 190.000 và gần 189.000 cổ phiếu.
Dragon Capital cũng nằm trong nhóm thoái vốn mạnh khỏi PC1. Hai quỹ thành viên là DCDE và DCDS đã bán ra tổng cộng hơn 1 triệu cổ phiếu, với khối lượng lần lượt khoảng 663.000 và 457.000 đơn vị.
Làn sóng rút vốn còn ghi nhận sự tham gia của nhiều tổ chức tài chính khác như VinaCapital, Mirae Asset hay Eastspring Investments.
Trong đó, quỹ VinaCapital-VIBF bán toàn bộ hơn 455.000 cổ phiếu PC1, còn quỹ MAGEF thuộc Mirae Asset Việt Nam thoái gần 400.000 đơn vị. Quỹ ENF của Eastspring Investments cũng bán ra 200.000 cổ phiếu.
Ngoài ra, hàng loạt quỹ khác như PHVSF của Phú Hưng, TCSME của Techcom Capital, ABEF của An Bình cùng các quỹ VCAMBF và VCAMDF của Bản Việt cũng đồng loạt đưa PC1 ra khỏi danh mục đầu tư.
PC1 có tiền thân là Xí nghiệp Đường dây và Trạm, được thành lập năm 1963 với nhiệm vụ xây lắp các công trình truyền tải điện quốc gia.
Năm 1967, doanh nghiệp được tổ chức lại thành Công ty Xây lắp Đường dây và Trạm trực thuộc Cục Điện lực. Đến năm 1988, đơn vị đổi tên thành Công ty Xây lắp Điện 1 (PCC1), trực thuộc Bộ Năng lượng.
Sau quá trình cổ phần hóa năm 2005, doanh nghiệp chuyển sang mô hình công ty cổ phần.
Một trong những dấu mốc đáng chú ý của PC1 diễn ra năm 2009 khi doanh nghiệp mua lại Công ty Chế tạo cột thép mạ Đông Anh (DAST) từ Tập đoàn Hyundai của Hàn Quốc. Cùng năm, doanh thu lần đầu vượt mốc 1.000 tỷ đồng.
Theo báo cáo của Công ty Chứng khoán Beta, PC1 hiện là tổng thầu EPC hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực xây lắp đường dây và trạm biến áp với hơn 60 năm hoạt động.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp là đơn vị duy nhất tại Việt Nam có quy mô lớn trong thiết kế, chế tạo cột thép đơn thân 110kV, 220kV từ 1 đến 4 mạch và cột thép liên kết thanh đến 750kV.
Năm 2010, thời điểm ông Trịnh Văn Tuấn bắt đầu giữ vai trò Chủ tịch HĐQT, doanh thu doanh nghiệp đạt khoảng 1.230 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 104 tỷ đồng. Đây cũng là giai đoạn PC1 bắt đầu mở rộng sang lĩnh vực bất động sản và từng bước hình thành mô hình tập đoàn đa ngành.
Sau hơn 15 năm mở rộng hoạt động, quy mô kinh doanh của PC1 tăng mạnh.
Năm 2025, doanh thu hợp nhất đạt 13.085 tỷ đồng, tăng gần 30% so với năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 1.356 tỷ đồng, tăng 91% và là mức cao nhất kể từ khi doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. So với năm 2010, doanh thu của PC1 đã tăng hơn 10 lần, trong khi lợi nhuận cũng mở rộng đáng kể.
Trong cơ cấu doanh thu năm 2025, mảng xây lắp tiếp tục đóng vai trò chủ lực khi mang về khoảng 6.700 tỷ đồng, tăng 81% so với cùng kỳ. Đây vẫn là lĩnh vực cốt lõi của doanh nghiệp trong bối cảnh nhiều dự án điện truyền tải và hạ tầng năng lượng được triển khai trở lại.
Mảng bất động sản ghi nhận tăng trưởng đột biến với doanh thu đạt khoảng 774 tỷ đồng, trong khi năm 2024 chỉ ghi nhận khoảng 24 tỷ đồng. Các mảng kinh doanh công nghiệp và bán điện đều tăng trưởng tích cực. Ngược lại, doanh thu từ bán tinh quặng khoáng sản giảm 33,3%, còn khoảng 1.140 tỷ đồng.
Tại đại hội cổ đông thường niên năm 2026, doanh nghiệp thông qua kế hoạch doanh thu hợp nhất khoảng 15.618 tỷ đồng, tăng 19% so với năm trước. Kế hoạch lợi nhuận sau thuế khoảng 1.056 tỷ đồng.
Bên cạnh xây lắp điện, năng lượng là lĩnh vực được PC1 mở rộng mạnh trong những năm gần đây. Doanh nghiệp hiện vận hành 7 nhà máy thủy điện và đang xây dựng thêm 2 nhà máy với tổng công suất thủy điện khoảng 212 MW. Ngoài thủy điện, PC1 cũng vận hành cụm 3 nhà máy điện gió tại Quảng Trị với tổng công suất 144 MW. Các dự án này đủ điều kiện bán điện theo giá FIT.
Trong lĩnh vực khai khoáng, PC1 sở hữu 57,27% vốn tại CTCP Khoáng sản Tấn Phát – đơn vị triển khai dự án khai thác lộ thiên khoáng sản niken, đồng tại Cao Bằng. Dự án có tổng mức đầu tư giai đoạn 1 khoảng 1.700 tỷ đồng, công suất khai thác và chế biến khoảng 600.000 tấn quặng nguyên khai mỗi năm và đi vào sản xuất chính thức từ tháng 2/2023.
Ở lĩnh vực bất động sản, doanh nghiệp tập trung phát triển khu công nghiệp và các dự án nhà ở tại Hà Nội.
Theo cơ cấu cổ đông đến cuối năm 2025, ông Trịnh Văn Tuấn là cổ đông lớn duy nhất sở hữu trên 5% vốn điều lệ của PC1.
Ông Tuấn hiện nắm gần 88 triệu cổ phiếu PC1, tương đương 21,38% vốn điều lệ. Ông sinh năm 1962, có trình độ kỹ sư điện và thạc sĩ quản trị kinh doanh, gia nhập PC1 từ năm 2002 và từng đảm nhiệm nhiều vị trí quản lý cấp cao trước khi giữ vai trò Chủ tịch HĐQT.
Các thành viên trong gia đình ông Tuấn cũng sở hữu lượng cổ phiếu đáng kể tại doanh nghiệp.
Cụ thể, vợ ông là bà Lê Thị Thoi nắm hơn 7,7 triệu cổ phiếu, tương đương 1,88% vốn điều lệ. Con gái ông là bà Trịnh Khánh Linh đã mua thêm 4 triệu cổ phiếu trong tháng 11/2025, qua đó nâng tỉ lệ sở hữu lên gần 1% vốn. Trong khi đó, ông Trịnh Ngọc Anh hiện nắm gần 21.000 cổ phiếu PC1.
Theo đó, ông Phạm Hồng Hải đã có 2 năm đồng hành cùng OCB, giữ vai trò Tổng giám đốc trong giai đoạn ngân hàng chuyển mình, thực hiện định vị, tái cấu trúc chiến lược kinh doanh tổng thể và cơ cấu tổ chức, xác định lại phân khúc khách hàng mục tiêu, tiếp tục đẩy mạnh ngân hàng số và gia tăng trải nghiệm người dùng.
Chia sẻ về quyết định này, ông Phạm Hồng Hải cho biết: "OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới. Tôi tin rằng sự thay đổi này là thời điểm phù hợp – khi tổ chức đã sẵn sàng cho bước chuyển tiếp và bản thân tôi cũng sẵn sàng cho những thử thách mới."
Rời vị trí Tổng Giám đốc tại OCB, ông Phạm Hồng Hải khẳng định sẽ tiếp tục gắn bó với lĩnh vực tài chính – ngân hàng: "Tài chính vẫn là lĩnh vực tôi lựa chọn và theo đuổi lâu dài. Tôi tin với kinh nghiệm đã tích lũy, mình sẽ còn nhiều cơ hội để đóng góp, dù ở một vai trò khác".
Mới đây, OCB vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với tổng tài sản đạt 344.098 tỷ đồng, tăng 6,5% so với đầu năm và tăng 19% so với cùng kỳ năm ngoái. Huy động thị trường 1 đạt 232.284 tỷ đồng, tăng 5,1% so với đầu năm. Dư nợ tín dụng đạt 210.428 tỷ đồng, tăng 2,6% so với đầu năm và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tín dụng xanh toàn hàng tăng trưởng 15% so với cùng kỳ.
Tính đến 31/3/2026, tổng thu thuần của OCB đạt 2.722 tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Kết thúc quý I/2026, lợi nhuận trước thuế OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng ấn tượng này cho thấy rõ nét những dấu hiệu tích cực về nền tảng phát triển của OCB trong bối cảnh kinh tế vĩ mô còn nhiều biến động, thách thức.
Thực hiện chỉ đạo trên, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xây dựng đề án trình Chính phủ trong tháng 5 này. Nếu được thông qua, doanh nghiệp sẽ chỉ cần làm việc với một cơ quan duy nhất thay vì chạy đi chạy lại nhiều nơi như hiện nay.
Hiện tại, mỗi lô hàng xuất khẩu, doanh nghiệp phải làm việc với rất nhiều cơ quan khác nhau như hải quan, kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng, các tổ chức đánh giá sự phù hợp và phòng thử nghiệm.
Xong các thủ tục kiểm tra chuyên ngành nói trên mới quay lại làm việc tiếp với hải quan để thông quan hàng hóa. Các công đoạn mất rất nhiều thời gian, tiền bạc cùa doanh nghiệp.
Từ thực tế trên, Cục Hải quan đề xuất xây dựng mô hình mới theo hướng doanh nghiệp chỉ nộp một bộ hồ sơ trên hệ thống hải quan điện tử và Cơ chế một cửa quốc gia thay vì phải nộp cho nhiều cơ quan khác nhau như hiện nay.
Theo đó, cơ quan hải quan sẽ là đầu mối tiếp nhận hồ sơ kiểm tra chuyên ngành, phối hợp với các tổ chức đánh giá sự phù hợp, phòng thử nghiệm và căn cứ kết quả kiểm tra để thực hiện thông quan hàng hóa. Mô hình này sẽ giúp doanh nghiệp giảm số lần khai báo, giảm đầu mối tiếp xúc, rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí tuân thủ.
Với ngành hải quan, việc tập trung dữ liệu trên một hệ thống sẽ giúp cơ quan này xây dựng cơ chế quản lý rủi ro thống nhất, nâng cao hiệu quả giám sát và kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu.
Đây cũng là cách làm được tham khảo kinh nghiệm của Hải quan Trung Quốc. Từ năm 2018, Trung Quốc đã thực hiện việc hợp nhất nhiều chức năng kiểm tra chuyên ngành về cơ quan hải quan, bao gồm kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch y tế và kiểm tra an toàn thực phẩm.
Dự kiến, lộ trình triển khai đề án này chia làm 2 giai đoạn. Từ nay đến 2030, ưu tiên triển khai tại các cửa khẩu biên giới đường bộ với Trung Quốc; sau năm 2030 sẽ mở rộng ra các loại hình cửa khẩu khác như: đường sắt, đường biển và hàng không.
Trong diễn biến khác, từ ngày 1.6 tới, Cục Hải quan chính thức thí điểm mô hình thông quan tập trung tại Chi cục Hải quan khu vực III - Hải Phòng. Theo mô hình này, việc tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ sẽ tập trung tại một đầu mối duy nhất là Đội thông quan, thay vì phân tán tại nhiều đơn vị như hiện nay.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng quy mô lớn ngày càng gia tăng, bài toán huy động nguồn lực đang tạo áp lực đáng kể lên hệ thống tài chính.
Khi dư địa tín dụng ngân hàng dần thu hẹp và ngân sách Nhà nước còn hạn chế, việc phát triển thị trường trái phiếu - đặc biệt là trái phiếu công trình được kỳ vọng sẽ mở ra một kênh dẫn vốn mới, góp phần đa dạng hóa nguồn lực cho nền kinh tế.
Chia sẻ về cấu trúc nguồn vốn, ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings cho rằng, vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ nằm ở mục tiêu tăng trưởng, mà còn ở cách thức lựa chọn nguồn vốn phù hợp với đặc thù của các dự án dài hạn.
"Nếu tiếp tục phụ thuộc vào vốn ngắn hạn hoặc tín dụng ngân hàng để tài trợ cho đầu tư dài hạn, rủi ro sẽ gia tăng và tính bền vững của tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng", ông Thuân nhấn mạnh.
Trong bối cảnh đó, thị trường trái phiếu được đánh giá có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng vai trò, trở thành kênh dẫn vốn quan trọng cho các lĩnh vực nền tảng như hạ tầng, năng lượng hay logistics.
Theo ông Thuân, dù quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam đã đạt khoảng 11% GDP, cấu trúc phát hành vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Phần lớn lượng trái phiếu hiện nay tập trung vào khu vực tài chính, trong khi các lĩnh vực có nhu cầu vốn dài hạn lớn như hạ tầng lại chưa tận dụng hiệu quả kênh huy động này.
Ông Thuân bày tỏ kỳ vọng thị trường trái phiếu sẽ từng bước dịch chuyển, trở thành kênh dẫn vốn chủ lực cho các ngành nền tảng của nền kinh tế, thay vì tập trung quá nhiều vào khu vực tài chính như hiện nay.
Ở góc độ khác, bà Hoàng Thị Hiền - Trưởng nhóm Phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm & Nghiên cứu VIS Rating nhìn nhận, thị trường trái phiếu doanh nghiệp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc lấp đầy khoảng trống vốn dài hạn.
"Trong bối cảnh nguồn ngân sách Nhà nước còn thiếu hụt và kênh tín dụng ngân hàng gặp một số hạn chế, thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ là một kênh huy động vốn dài hạn quan trọng để bù đắp khoảng trống này", bà Hiền nhận định.
Bà Hiền phân tích, đặc thù của các dự án hạ tầng là vòng đời dài, thời gian thu hồi vốn chậm và dòng tiền phân bổ theo nhiều giai đoạn, khiến việc phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng - vốn có cấu trúc kỳ hạn ngắn trở nên kém phù hợp.
Do đó, việc phát triển trái phiếu hạ tầng không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn vốn mà còn góp phần giảm áp lực kỳ hạn cho hệ thống tài chính, đồng thời tạo điều kiện thu hút các dòng vốn dài hạn từ doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quang Thuân, mức độ tham gia của các nhà đầu tư tổ chức dài hạn tại Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế. Đây lại là nhóm nhà đầu tư phù hợp với các sản phẩm trái phiếu có kỳ hạn dài như trái phiếu công trình.
Đồng thời, tỉ lệ nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường trái phiếu Việt Nam mới chỉ ở mức khoảng 0,1%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Ông cho rằng việc nâng tỉ lệ này trong thời gian tới không chỉ giúp mở rộng quy mô thị trường mà còn góp phần nâng cao chuẩn mực minh bạch và quản trị.
Từ góc nhìn về điều kiện phát triển thị trường, bà Hoàng Thị Hiền nhấn mạnh, sức hấp dẫn của trái phiếu hạ tầng phụ thuộc lớn vào khung pháp lý và cơ chế triển khai. Những yếu tố như minh bạch dòng tiền, cơ chế bảo lãnh và phương án hoàn vốn có ý nghĩa quyết định đối với niềm tin của nhà đầu tư.
Bà cũng chỉ ra rằng, so với các thị trường phát triển trong khu vực như Hàn Quốc hay Nhật Bản, Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu trong việc hình thành và chuẩn hóa trái phiếu công trình.
Theo bà Hiền, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế phân bổ rủi ro. Khi các rủi ro như xây dựng, pháp lý hay lưu lượng chưa được phân định rõ ràng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư, phần lớn rủi ro sẽ dồn về phía nhà đầu tư tài chính, làm giảm sức hấp dẫn của công cụ này.
Để khắc phục, bà cho rằng cấu trúc trái phiếu hạ tầng cần được thiết kế theo hướng phân tách rủi ro, minh bạch hóa dòng tiền và tăng cường kỷ luật thị trường, đồng thời gắn với cơ chế kiểm soát dòng tiền riêng và thứ tự ưu tiên thanh toán rõ ràng.
Bên cạnh đó, bà Hoàng Thị Hiền cũng nhấn mạnh vai trò của xếp hạng tín nhiệm độc lập ở cấp độ từng công cụ trái phiếu, giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác hơn mức độ rủi ro của từng dự án.
Đây được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng phát hành và thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển theo chiều sâu.
Ở góc nhìn dài hạn, bà Hiền nhận định nếu được phát triển đúng hướng, trái phiếu hạ tầng không chỉ là một sản phẩm tài chính đơn lẻ mà có thể trở thành trụ cột thứ hai bên cạnh tín dụng ngân hàng.
Quan điểm này cũng tương đồng với đánh giá của ông Nguyễn Quang Thuân khi cho rằng thị trường trái phiếu cần đóng vai trò lớn hơn trong việc cung ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Với việc từng bước hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư dài hạn, trái phiếu công trình được kỳ vọng sẽ trở thành công cụ hiệu quả để huy động nguồn lực xã hội cho các dự án hạ tầng chiến lược.