Khách du lịch, người mua sắm và nhân viên văn phòng đi lại trên những con phố đông đúc ở London đều đang trở thành một phần của quy trình kiểm tra danh tính kỹ thuật số. Các camera liên tục quét khuôn mặt họ để đối chiếu với danh sách theo dõi của cảnh sát, giúp tìm ra kẻ phạm tội. Công nghệ này dự kiến ngày càng được triển khai rộng rãi, dù những người chỉ trích cho rằng nó gây khó chịu khi biến tất cả người đi đường thành “nghi phạm tiềm năng”.
Công nghệ “đột phá” giúp phát hiện tội phạm
Lindsey Chiswick, Giám đốc Sở Cảnh sát Thủ đô (Met Police), người phụ trách công nghệ nhận diện khuôn mặt trực tiếp (LFR) tại Anh, cho biết công nghệ này mang đến tác động “đột phá” với công tác an ninh tại London, giúp xác định những người bị nghi ngờ phạm tội.
Phát biểu tại chiến dịch gần đây ở Victoria, trung tâm London, Chiswick dẫn chứng việc một kẻ ấu dâm bị phát hiện khi đang đi bộ trên phố và nắm tay bé gái 8 tuổi. “Hắn lẽ ra không được đi riêng với một bé gái như vậy. Hậu quả là giờ hắn phải quay lại nhà tù”, bà nói.
Theo Reuters, Anh từ lâu đã nằm trong số những nước sử dụng camera giám sát nhiều nhất thế giới tại không gian công cộng. Người London có thể bị ghi hình đến vài trăm lần mỗi ngày khi di chuyển quanh thành phố.
Hiện tại, Anh cũng là một trong những quốc gia châu Âu đi đầu trong việc đưa công nghệ LFR vào hoạt động an ninh. Công nghệ này chuyển đổi khuôn mặt thành dữ liệu sinh trắc học và đối chiếu với danh sách theo dõi gồm khoảng 17.000 người, chủ yếu tổng hợp từ hình ảnh trong quá trình bắt giữ.
Chiswick cho biết, trong số hơn 3 triệu khuôn mặt được quét trong 12 tháng tính đến tháng 9 năm ngoái, cảnh sát xác định hệ thống chỉ tạo ra 10 cảnh báo sai. “Chưa từng có vụ bắt giữ nào dựa trên cảnh báo sai”, bà cho biết.
Theo Guardian, 13 lực lượng cảnh sát ở Anh và xứ Wales đã hoặc đang sử dụng LFR. Sở Cảnh sát Thủ đô là đơn vị sử dụng nhiều nhất, triển khai hệ thống từ năm 2020 và tăng tốc đáng kể hai năm qua. Tính riêng từ đầu 2026 đến nay, 1,7 triệu lượt quét đã dẫn đến 44 vụ bắt giữ.
Bài toán cân bằng giữa an ninh và quyền tự do
Brian Plastow, tiến sĩ sinh trắc học tại Scotland, cảnh báo LFR không hiệu quả như cảnh sát tuyên bố. Trong cuộc thăm dò ý kiến do công ty nghiên cứu thị trường Opinium (Anh) thực hiện trên 2.000 người trưởng thành tháng trước, gần 1/3 phản đối việc các nhà bán lẻ sử dụng nhận diện khuôn mặt và 62% lo ngại công nghệ này có thể khiến mọi người gặp rắc rối vì những việc họ không làm.
Hồi tháng 2, Ian Clayton, chuyên gia về sức khỏe và an toàn đã nghỉ hưu tại Chester, bị yêu cầu rời khỏi cửa hàng Home Bargains sau khi hệ thống nhận diện khuôn mặt đánh dấu ông là kẻ trộm. Clayton sau đó phát hiện mình bị nhầm lẫn với một kẻ trộm vặt mà ông vô tình đứng cạnh trong lần ghé cửa hàng trước đó.
“Chúng tôi liên tục bị ghi hình và đưa vào các hệ thống, nhưng như vậy có nên không? Điều đó giống như bị theo dõi vô cớ, khiến tôi cảm thấy dễ bị tổn thương, bị phơi bày và có phần bất lực. Giờ tôi cực kỳ cảnh giác với camera”, Clayton chia sẻ trên Guardian.
Các nhà hoạt động bảo vệ quyền tự do dân sự lập luận, vấn đề không chỉ nằm ở độ chính xác mà còn ở nguyên tắc, cho rằng LFR cho phép cảnh sát rà quét một lượng lớn người dân mà không cần bất kỳ nghi ngờ cá nhân nào. Theo tổ chức về quyền tự do dân sự Big Brother Watch (Anh), điều này dẫn đến nguy cơ bình thường hóa việc giám sát hàng loạt nơi công cộng.
“Chúng ta đang đứng trước nguy cơ trở thành quốc gia của những người bị theo dõi, bị giám sát ngay lúc bước ra khỏi cửa nhà, với những hậu quả nghiêm trọng liên quan đến quyền riêng tư, tự do ngôn luận và tự do hội họp”, Jasleen Chaggar, chuyên gia chính sách và pháp lý cấp cao tại Big Brother Watch, nhận định.
Theo Paul Fyfe, cựu bảo vệ từng làm việc với hệ thống camera Facewatch, nhân viên đôi khi đưa tên người dân vào danh sách theo dõi dù họ chưa bị bắt quả tang ăn cắp vặt hay có hành vi bạo lực. “Nếu bị ai đó làm bực mình, quấy rối hoặc đe dọa, cách dễ nhất để trả đũa là đăng tải thông tin của họ lên hệ thống”, Fyfe nói. Kết quả, nhân viên bảo vệ tại những cửa hàng khác sử dụng cùng phần mềm sẽ nhận được thông báo mỗi khi khách hàng này bước vào.
Tuy nhiên, Nick Fisher, CEO Facewatch, cho biết công ty không ghi nhận các báo cáo về việc hệ thống bị lạm dụng. Theo đó, công ty đặt ra những quy tắc nghiêm ngặt về cách thức sử dụng hệ thống, nhiều biện pháp bảo vệ và kiểm soát cũng được tích hợp sẵn. Các nhà bán lẻ phải đáp ứng tiêu chuẩn bằng chứng trước khi gửi báo cáo, và mọi báo cáo đều được con người xem xét trước khi thêm vào cơ sở dữ liệu. Nếu không đáp ứng yêu cầu, báo cáo sẽ bị từ chối.
Tháng trước, thẩm phán Tòa án Tối cao Anh bác bỏ đơn yêu cầu xem xét lại do Big Brother Watch đệ trình, kết luận việc sử dụng LFR là hợp pháp. Chính phủ cũng đang xây dựng khung pháp lý mới.
Trong khi đó, Chiswick khẳng định Sở Cảnh sát Thủ đô đã chứng minh họ có khả năng vận hành LFR một cách có trách nhiệm, đồng thời cho biết 80% người dân trong các cuộc khảo sát hàng quý ủng hộ việc sử dụng công nghệ này ở London. Bà giải thích: “Người dân muốn tội phạm biến mất khỏi đường phố. Họ muốn những kẻ lẩn trốn và bị truy nã trong thời gian dài, đôi khi hoạt động dưới danh tính giả, phải trở lại nhà tù”.
Theo Xinhua, Trung Quốc liên tục phá kỷ lục về tàu chở ôtô lớn nhất thế giới trong vài năm qua. Cuối tháng 4/2025, danh hiệu này thuộc về tàu BYD Shenzhen với sức chứa 9.200 xe tiêu chuẩn. Chưa đầy một tháng sau, tàu Anji Ansheng với sức chứa 9.500 xe thực hiện chuyến đi đầu tiên từ Thượng Hải đến châu Âu. Hiện tại, danh hiệu này thuộc về Glovis Leader, tàu chở ôtô đầu tiên trên thế giới có sức chứa vượt 10.000 xe.
Tàu Glovis Leader do công ty Đóng tàu Quốc tế Quảng Châu thuộc Tập đoàn Đóng tàu Nhà nước Trung Quốc (CSSC) và công ty Thương mại Đóng tàu Trung Quốc chế tạo. Tàu được bàn giao cho công ty vận tải Hàn Quốc HMM hôm 28/4, sau đó sẽ do công ty logistics Hàn Quốc Hyundai Glovis vận hành.
Được phân loại là tàu chuyên chở ôtô và xe tải, Glovis Leader dài 230 m, rộng 40 m, có mớn nước thiết kế 10,5 m và tốc độ hành trình 35 km/h. Tàu gồm 14 boong chứa xe và có thể chở nhiều loại hàng hóa như xe điện, xe chạy bằng hydro, xe tải hạng nặng. Ngoài ra, tàu trang bị hệ thống quản lý thông minh giúp giám sát điều hướng, máy móc và hàng hóa, qua đó nâng cao an toàn vận hành.
Theo CGTN, hệ thống đẩy nhiên liệu kép sử dụng khí tự nhiên hóa lỏng của Glovis Leader đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải cấp Tier III nghiêm ngặt nhất của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO). Đáng chú ý, tàu trang bị máy phát điện trục nam châm vĩnh cửu độc lập công suất 1.450 kW do viện nghiên cứu thuộc CSSC phát triển, cho phép tàu sản xuất điện trong lúc di chuyển, giúp giảm đáng kể mức tiêu thụ năng lượng. Kết hợp với việc tối ưu hóa thiết kế thân tàu, sử dụng công nghệ thu hồi nhiệt thải và hệ thống điện cao áp trên bờ, tàu đạt hiệu quả năng lượng rất cao.
Tàu chở ôtô là loại phương tiện có yêu cầu kỹ thuật khắt khe, đặt ra những thách thức liên quan đến cấu trúc thép mỏng nhiều tầng, an toàn cháy nổ, hệ thống bốc dỡ hàng hóa kiểu roll-on/roll-off và thiết kế độ ổn định cao. Zhou Xuhui, Tổng giám đốc công ty Đóng tàu Quốc tế Quảng Châu, cho biết họ đã vượt qua nhiều thách thức kỹ thuật then chốt thông qua việc đóng hàng loạt tàu chở ôtô, đồng thời hiệu quả sản xuất cũng tăng đáng kể.
Tại chương trình, ông Trần Đức Định - Trưởng Phòng Công nghệ thông tin Sở Y tế TP.HCM - đánh giá “Smart Hospital Connect 2026” là chương trình ý nghĩa đối với ngành y tế thành phố, góp phần tăng cường sự kết nối giữa Hội Tin học y tế, Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp và đội ngũ công nghệ thông tin trong ngành.
Đây là cơ hội để các đơn vị cùng đồng hành, tiếp nối các mục tiêu chuyển đổi số y tế, phát huy hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh, hướng đến lợi ích thiết thực cho người dân và người bệnh.
Ông Nguyễn Hữu Trọng - Tổng thư ký Hội Tin học y tế, Trưởng Văn phòng đại diện phía Nam - cho biết nhu cầu chuyển đổi số trong ngành y tế hiện nay là yêu cầu cấp bách.
Xuất phát từ thực tế đó, Hội Tin học y tế nhận thấy cần thiết phải xây dựng một cộng đồng công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế để các đơn vị có thể hỗ trợ lẫn nhau và cùng phát triển.
Cũng theo ông Trọng, chuyển đổi số y tế là một quá trình rất khó khăn và phức tạp. Nguồn ngân sách đầu tư cho công nghệ trong y tế còn hạn chế, điều này khiến nhiều đơn vị gặp khó trong việc duy trì tính ổn định, lâu dài và bền vững của các dự án chuyển đổi số.
“Kể cả những ứng dụng đã triển khai cũng cần được nhìn lại xem đã thực sự an toàn hay chưa”, ông nói.
Ông Trọng dẫn chứng thời gian gần đây đã xuất hiện một số bệnh viện bị xâm nhập hệ thống, bị tấn công an ninh mạng. Chỉ khi những sự cố như vậy xảy ra, nhiều đơn vị mới nhận thấy rõ sự cần thiết của việc có một cộng đồng chuyên môn đủ mạnh để hỗ trợ lẫn nhau kịp thời.
Ngoài ra văn phòng Hội Tin học y tế cũng mong muốn thành lập ban liên lạc hội viên, mở rộng kết nạp hội viên mới, không chỉ gói gọn trong phạm vi công việc chuyên môn mà còn hướng đến sự gắn kết trong đời sống để cùng nhau chung sức và đồng hành.
Từ phía hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, bà Lê Thị Bé Ba - Phó giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP.HCM - cho biết lễ ra mắt văn phòng đại diện Hội Tin học y tế TP.HCM là sự kết nối quan trọng giữa các giải pháp công nghệ, bệnh viện, chuyên gia, nhà quản lý và các dự án đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện để các ý tưởng được triển khai thực tế tại cả khu vực công và bệnh viện tư.
“Chúng tôi kỳ vọng đây không chỉ là điểm kết nối trong phạm vi ngành y tế mà còn là nơi cùng nhau xây dựng các giải pháp thực thi cụ thể, đưa đổi mới sáng tạo từ ý tưởng đến thực tiễn”, bà Bé Ba chia sẻ.
Công nghệ DVD từng được coi là một bước đột phá khi nhận được nhiều lời khen ngợi từ những người yêu thích công nghệ. Sau đó, sự xuất hiện của đĩa Blu-ray đã mang đến một bước tiến mới cho video tại nhà. Tuy nhiên, cả hai định dạng này đã dần nhường chỗ cho các dịch vụ phát trực tuyến và tải xuống nội dung kỹ thuật số.
Nhưng có một câu hỏi đặt ra là: Tại sao không hãng phim nào thử bán phim trên USB hoặc các định dạng nhỏ tương tự trước khi phát trực tuyến trở nên phổ biến? Đây là một ý tưởng có vẻ hợp lý, bởi ổ đĩa flash, thẻ SD và USB đều có kích thước nhỏ gọn, đặc biệt khi người tiêu dùng cũng đã quen thuộc với chúng. Việc cung cấp phim và chương trình truyền hình dưới dạng USB có thể giúp giảm kích thước bao bì và mang lại sự tiện lợi cho người dùng.
Câu trả lời bắt nguồn từ việc sản xuất các định dạng phim khiến việc đưa chúng vào USB chưa bao giờ được thử nghiệm rộng rãi. Cụ thể, vào khoảng năm 2008, khi DVD và Blu-ray vẫn là lựa chọn chính, chi phí sản xuất một đĩa DVD chỉ khoảng 0,5 USD, trong khi một đĩa Blu-ray có giá dưới 2 USD và có dung lượng lưu trữ lên đến 50 GB. Ngược lại, chi phí sản xuất một chip nhớ flash vào thời điểm đó lên tới 2,5 USD mỗi GB, khiến việc cung cấp phim ở định dạng này trở nên quá đắt đỏ cho người tiêu dùng.
Ngoài ra, lo ngại về vi phạm bản quyền cũng khiến các công ty ngần ngại khi cung cấp định dạng lưu trữ qua USB, vì việc bảo vệ nội dung trên USB phức tạp hơn so với DVD và Blu-ray. Kết quả là, các nhà sản xuất nhận thấy việc bán một sản phẩm đắt hơn nhưng kém an toàn hơn là không hợp lý.
Điều thú vị là mặc dù việc cung cấp phim trên USB chưa trở thành xu hướng phổ biến, một số công ty nhỏ như Video StoreAge đang thử nghiệm với mô hình này, cung cấp các bộ phim độc lập qua định dạng USB. Tuy nhiên, kết quả của những nỗ lực này vẫn còn chưa rõ ràng.
Trong khi chờ đợi, nếu có những đĩa DVD và Blu-ray cũ mà muốn số hóa để tiện lợi hơn trong việc xem, hãy tìm hiểu cách biến bộ sưu tập thành dịch vụ phát trực tuyến riêng, với tất cả nội dung yêu thích có sẵn trên nền tảng duy nhất. Cách làm này có thể mang lại trải nghiệm giải trí dễ dàng hơn cả việc sử dụng USB.