Ngày đầu tháng 6, cửa biển Lý Hòa, xã Đông Trạch, bị một dải cát dài khoảng 1,6 km, rộng gần 100 m, cao gần 2 m chắn ngang. Luồng cho tàu thuyền qua lại giờ chỉ còn sâu nửa mét nước, rộng hơn 15 m.
Mỗi chiều, ông Hồ Sĩ Quang, chủ tàu cá công suất 15 CV, phải đứng hàng giờ bên cửa biển quan sát con nước trước khi quyết định cho tàu xuất bến. Điều khiến ông lo nhất không phải sóng gió ngoài khơi mà là đoạn luồng chật hẹp, nông ngay trước cửa biển.
Trong khi lái tàu len lỏi qua dòng nước chảy, ông Quang đứng phía đuôi tàu quan sát màu nước để xác định vị trí còn đủ độ sâu. Chỉ cần lệch hướng, tàu có thể mắc cạn. “Nhiều hôm nước triều xuống, tàu không thể vào được, tôi phải neo ngoài biển, rất nguy hiểm nếu gặp thời tiết xấu”, ông nói.
Theo ông Quang, tình trạng cửa biển bị cát bồi lấp đã kéo dài nhiều năm. Mỗi lần chính quyền thuê máy móc nạo vét, luồng lạch chỉ thông thoáng được vài ngày rồi lại bị cát lấp kín sau những đợt gió chướng.
“Phương án này giống như muối bỏ bể, tiền của bỏ ra nhưng hiệu quả không cao”, ngư dân 45 tuổi nói, mong muốn nhà nước đầu tư xây kè để giải quyết tận gốc tình trạng bồi lấp.
Cửa biển Lý Hòa là nơi ra vào của hơn 210 tàu cá dài 6-12 m và hơn 100 tàu cá nhỏ dưới 6 m. Khi luồng bị bồi lấp, nhiều tàu không thể ra khơi khai thác thủy sản. Một số chủ tàu phải thuê máy cẩu đưa tàu vượt qua bãi cát, phát sinh thêm chi phí trong khi giá nhiên liệu và chi phí đánh bắt ngày càng tăng.
Đối với các tàu lớn dài khoảng 12 m, việc ra vào gần như không thể. Nhiều chủ tàu buộc phải đưa phương tiện về neo đậu tại âu thuyền Thanh Khê, cách khoảng 6 km, hoặc vào phường Đồng Hới, cách khoảng 20 km, làm tăng chi phí đi lại, vận chuyển ngư cụ.
Không chỉ ảnh hưởng đến nghề cá, cửa biển bị bịt kín còn khiến nước trong sông Lý Hòa khó thoát ra biển. Khoảng 50 ha lúa bị ngập úng, 20 ha không thể gieo trồng đúng thời vụ. Hơn 200 ha nuôi trồng thủy sản cũng bị ảnh hưởng do nguồn nước tù đọng.
Đầu năm nay, xã Đông Trạch chi 200 triệu đồng thuê bốn máy múc đào hàng nghìn mét khối cát, mở một cửa biển tạm dài khoảng 100 m, rộng 30 m nhằm tiêu úng cho đồng ruộng và tạo lối cho tàu cá ra vào.
Sau đó, UBND tỉnh Quảng Trị tiếp tục bố trí 700 triệu đồng để nạo vét bằng máy hút cát, tạo luồng rộng 50 m, dài 200 m và sâu 4 m. Tuy nhiên, chỉ sau vài đợt gió chướng, toàn bộ luồng vừa hình thành tiếp tục bị cát bồi lấp.
Không chỉ bị bồi lấp phía cửa biển, khu vực bờ nam sông Lý Hòa đang bị xâm thực mạnh. Nhiều diện tích rừng phòng hộ bị cuốn xuống sông, nguy cơ sạt lở tiếp tục uy hiếp nhà dân ven bờ.
Ông Võ Hải Quân, Chủ tịch xã Đông Trạch, cho biết giải pháp nạo vét hiện nay chỉ mang tính tạm thời. Từ đầu năm đến nay địa phương đã hai lần nạo vét với tổng kinh phí 900 triệu đồng nhưng nguy cơ cửa biển bị bịt kín trở lại vẫn hiện hữu. Hàng trăm ngư dân thấp thỏm nhìn con nước mỗi ngày, đối mặt nguy cơ mất an toàn và giảm sinh kế.
“Xã đề nghị tỉnh và các sở ngành nghiên cứu phương án chỉnh trị dòng chảy, xây dựng kè tại cửa sông Lý Hòa để chống sạt lở, điều tiết dòng chảy giữa sông và biển, đồng thời kết hợp khoang thông thuyền bảo đảm tàu cá ra vào an toàn”, ông nói.
UBND tỉnh Quảng Trị đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu phương án chỉnh trị tổng thể cửa sông Lý Hòa, gồm xây dựng kè hướng dòng, đê chắn cát hoặc các giải pháp kỹ thuật phù hợp nhằm ổn định dòng chảy, hạn chế bồi lấp, bảo đảm tiêu thoát lũ và an toàn cho tàu thuyền.
Cửa biển Lý Hòa là một trong 5 cửa sông chính ở phía bắc tỉnh Quảng Trị. Năm 2022, cửa biển từng bị cát bồi lấp, tỉnh Quảng Bình cũ đầu tư 14 tỷ đồng để nạo vét, khơi thông luồng lạch. Tuy nhiên, sau mùa mưa lũ cùng năm, cửa biển lại bị cát lấp kín như cũ.
Tại tọa đàm Nhìn lại một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp do Báo Quân đội nhân dân tổ chức ngày 25/6, các chuyên gia cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là trách nhiệm của cấp xã tăng mạnh nhưng quyền hạn và điều kiện thực thi chưa theo kịp.
Theo ông Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở đảng, Ban Tổ chức Trung ương, sau khi bỏ cấp huyện và sắp xếp đơn vị hành chính, cấp xã trở thành cấp trực tiếp thực thi, gần dân nhất và giải quyết hầu hết công việc liên quan đến đời sống người dân cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, nhiều xã, phường hiện có địa bàn rộng hơn, dân số đông hơn, cơ cấu dân cư đa dạng hơn và phải quản lý đồng thời nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, làng nghề..., trong khi phần lớn nhiệm vụ của cấp huyện trước đây đã được chuyển xuống.
"Dù phải giải trình trước người dân về tiến độ dự án, chất lượng dịch vụ công, hồ sơ đất đai hay chính sách an sinh, cấp xã lại chưa có đủ dữ liệu, nguồn lực và công cụ để xử lý dứt điểm", ông Hà nói.
Áp lực đối với chính quyền cơ sở càng lớn khi biên chế không tăng tương ứng với khối lượng công việc. Khoảng 80% cán bộ, công chức cấp xã hiện nay là nhân sự từ các xã cũ trước khi sắp xếp. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên, họ phải đảm nhiệm thêm hơn 80% công việc chuyển từ cấp huyện, trong khi nhiều người chưa được đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu mới.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Việt Nga, Phó đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng, cho biết nhiều địa phương còn thiếu cán bộ có chuyên môn sâu trong các lĩnh vực như đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài chính, công nghệ thông tin, chuyển đổi số và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đây đều là những lĩnh vực phát sinh nhiều công việc và tác động trực tiếp đến chất lượng phục vụ người dân.
Các chuyên gia cho rằng việc phân cấp hiện nay còn thiếu đồng bộ. Nhiều nhiệm vụ đã giao cho cấp xã nhưng thẩm quyền quyết định chưa được chuyển giao tương xứng; có trường hợp hướng dẫn thực hiện chưa rõ ràng, có trường hợp thiếu dữ liệu, kinh phí hoặc nhân lực để triển khai. Hệ quả là nhiều công việc vẫn phải xin ý kiến cấp trên hoặc xử lý kéo dài, làm giảm hiệu quả của mô hình mới.
Từ thực tế đó, ông Nguyễn Đức Hà đề xuất việc phân cấp, phân quyền cần được thiết kế đồng bộ theo nguyên tắc giao nhiệm vụ phải đi đôi với giao quyền, giao quyền phải đi đôi với bổ sung nguồn lực, đồng thời tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
Theo ông, những lĩnh vực liên quan đến kỷ luật ngân sách, quy hoạch, tài sản công hoặc lợi ích liên vùng vẫn nên do cấp tỉnh quyết định. Ngược lại, các công việc gắn trực tiếp với đời sống người dân, cần xử lý nhanh và cấp xã có đủ năng lực thực hiện thì nên mạnh dạn phân cấp hoặc ủy quyền.
Đồng tình với quan điểm này, bà Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng phân cấp cần dựa trên năng lực thực hiện, điều kiện của từng địa phương, đặc thù vùng miền và khả năng kiểm soát quyền lực, thay vì áp dụng đồng loạt. Bà cũng kiến nghị bố trí nhân sự và nguồn lực theo "độ khó quản trị" của từng địa bàn; đổi mới đào tạo cán bộ theo vị trí việc làm; tăng cường hạ tầng số, hoàn thiện dữ liệu dùng chung và thiết lập cơ chế hỗ trợ nghiệp vụ thường xuyên từ cấp tỉnh cho cấp xã.
Ngày 20.4, Trường đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM phối hợp Nhóm nghiên cứu quốc tế về sông Mekong (IMRWG) tổ chức Gặp gỡ IMRWG 2026. Các chuyên gia nhận định Nam bộ (đặc biệt TP.HCM và Đồng bằng sông Cửu Long) đang gặp nhiều thách thức như: biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, áp lực đô thị hóa và TP.HCM sụt lún.
Trong báo cáo "Sụt lún đất ở TP.HCM và Đồng bằng sông Cửu Long" của Phó giáo sư - tiến sĩ (PGS-TS) Lê Trung Chơn (Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển bền vững, Trường đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM), cho biết nghiên cứu sử dụng công nghệ InSAR từ vệ tinh Sentinel-1 cho thấy mức độ sụt lún ở TP.HCM diễn ra không đồng đều, với nhiều "điểm đỏ" ghi nhận tốc độ lún lên đến 5 cm/năm.
Qua công nghệ InSAR kết hợp PS/DS (giai đoạn 2015-2025) cho thấy, khu vực TP.HCM sụt lún nặng gồm: huyện Nhà Bè, huyện Bình Chánh, quận 7, quận Bình Tân, quận 8 (cũ)...
Trong khi đó, các khu vực phía bắc TP.HCM như Củ Chi có mức độ ổn định hơn.
Điểm đáng chú ý của nghiên cứu là việc kết hợp dữ liệu phản xạ mạnh (PS) và phản xạ yếu (DS), giúp tạo mật độ dữ liệu cực lớn, theo dõi sụt lún chi tiết đến từng khu phố, thậm chí từng pixel trên bản đồ số.
Theo các chuyên gia, TP.HCM sụt lún không chỉ do yếu tố tự nhiên hay khai thác nước ngầm mà còn chịu tác động từ "tải trọng động" của hạ tầng đô thị.
Các công trình lớn như metro, đường cao tốc có thể làm gia tăng áp lực lên nền đất yếu, đẩy nhanh quá trình lún.
Trao đổi với PV Báo Thanh Niên, tiến sĩ Nghiêm Văn Sơn (nhà khoa học cao cấp thuộc NASA Jet Propulsion Laboratory) cho biết sụt lún là hiện tượng phổ biến tại các vùng châu thổ, đặc biệt ở những đô thị phát triển trên nền đất yếu (đất ngập nước được cải tạo hoặc đất được lấn ra từ biển). Điều này sẽ gây ra các vấn đề đối với cơ sở hạ tầng.
Việc khai thác nước ngầm sâu tạo ra các khoảng trống dưới lòng đất, khiến nền đất bị sụt lún và có thể mang tính vĩnh viễn.
Ông Sơn cũng nhấn mạnh nguy cơ lớn đến từ hiện tượng lún không đồng đều, khi một khu vực lún nhanh hơn khu vực khác có thể gây hư hại hệ thống hạ tầng ngầm như đường ống.
Theo tiến sĩ Sơn, thực tế tình trạng này không chỉ diễn ra tại TP.HCM mà còn xuất hiện ở nhiều đô thị lớn trên thế giới như Los Angeles (Mỹ) hay Bangkok (Thái Lan), nơi có điều kiện địa chất và quá trình đô thị hóa tương tự.
Từ thực trạng trên, PGS-TS Lê Trung Chơn đề xuất giải pháp thích ứng cho phát triển bền vững TP.HCM và Đồng bằng sông Cửu Long, cụ thể:
Chiều 21/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với ban Chính sách và chiến lược Trung ương về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu ở Việt Nam.
Ông đánh giá thời gian qua nhiều ngành như thép, xi măng, vật liệu xây dựng, hóa chất cơ bản, phân bón, nhựa, cao su, dệt sợi, gỗ công nghiệp phát triển nhanh; nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, một số doanh nghiệp đã đầu tư tổ hợp quy mô lớn.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Việt Nam có tiềm năng lớn về đất hiếm, bauxite, titan, vonfram, graphit, cát trắng, đá vôi. Một số lĩnh vực vật liệu mới, vật liệu xanh, tái chế, bán dẫn, điện tử, pin, năng lượng tái tạo, y sinh và composite cũng bắt đầu được quan tâm.
Tuy nhiên, công nghiệp vật liệu vẫn phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu; có sản lượng nhưng chưa mạnh về chất lượng cao; có tài nguyên nhưng chế biến sâu còn yếu; có ngành quy mô lớn nhưng phát thải cao, tiêu hao nhiều năng lượng và tài nguyên.
Ông cho rằng Việt Nam không thiếu tài nguyên nhưng thiếu công nghệ lõi, năng lực chế biến sâu, doanh nghiệp đầu đàn và hệ sinh thái nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định, thương mại hóa đủ mạnh để hình thành chuỗi giá trị vật liệu quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh cần xác định công nghiệp vật liệu là ngành nền tảng, chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển có trọng tâm, không dàn trải.
Theo định hướng này, công nghiệp vật liệu phải chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng trong nước; lấy khoa học công nghệ, tiêu chuẩn, nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp Việt Nam làm trụ cột phát triển.
Ông yêu cầu phát triển ngành theo hướng xanh, bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, phù hợp các cam kết quốc tế nhưng bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia. Đảng ủy Chính phủ được giao xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trong thời gian sớm nhất.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, chiến lược phải có tư duy dài hạn, mục tiêu rõ, lộ trình khả thi và phân công trách nhiệm cụ thể; không làm theo kiểu tổng hợp chung chung mà phải xác định rõ phát triển nhóm vật liệu nào, làm chủ đến đâu, cơ quan nào chủ trì, doanh nghiệp nào dẫn dắt và nguồn lực từ đâu. Trên cơ sở đó, các cơ quan xây dựng danh mục vật liệu chiến lược quốc gia, bản đồ phụ thuộc nhập khẩu và bản đồ năng lực trong nước.
Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng sản phẩm cụ thể, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, chính sách sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích công bằng giữa nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi ý trước mắt ưu tiên 5 nhóm gồm vật liệu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu mới và vật liệu xây dựng thế hệ mới.
Các cơ quan được giao rà soát tiềm năng, trữ lượng, hiện trạng khai thác, công nghệ chế biến, rủi ro môi trường và khả năng hình thành chuỗi giá trị đối với đất hiếm, bauxite, titan, vonfram, graphit, cát trắng, đá vôi cùng các khoáng sản quan trọng khác.
"Mục tiêu là không thất thoát tài nguyên, không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường; đồng thời không để nguồn lực nằm im vì thiếu chính sách, công nghệ hoặc phối hợp", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ.
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương được giao hoàn thiện báo cáo trình Bộ Chính trị ban hành kết luận, làm cơ sở để Chính phủ xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.