Vài tháng sau khi Covid-19 bùng phát tại Mỹ năm 2020, Matthew Haines, cũng như nhiều chủ nhà khác tại Mỹ, được thông báo rằng ông không thể trục xuất những người thuê không chịu trả tiền nhà.
Lệnh cấm này do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) ban hành vào tháng 9/2020, nhằm bảo vệ những người thuê nhà không đủ khả năng chi trả tiền nhà trong đại dịch.
Đây là một trong những chính sách gây tranh cãi nhất tại Mỹ trong thời Covid-19 và chỉ chấm dứt vào tháng 7/2021, sau khi Tòa án Tối cao Mỹ phán quyết rằng CDC không có thẩm quyền áp đặt lệnh cấm nếu không được quốc hội cho phép.
Haines và hơn 1.500 chủ sở hữu bất động sản khác sau đó đệ đơn kiện chính phủ liên bang, cho rằng lệnh cấm đuổi người thuê nhà đã khiến họ mất nguồn thu đáng kể nhưng không được bồi thường.
Theo đơn kiện, mức thiệt hại của các nguyên đơn dao động từ vài nghìn USD đến hơn 14,5 triệu USD. Sau khi thua kiện vào năm 2022 tại Tòa án Khiếu nại Liên bang chuyên về dàn xếp các khoản bồi thường từ chính phủ, nhóm chủ nhà thắng ở cấp phúc thẩm và hiện đàm phán dàn xếp với Bộ Tư pháp Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump.
Họ hy vọng có thể được bồi thường tổng cộng khoảng 1,5 tỷ USD. Bộ Tư pháp Mỹ không bình luận về các vụ kiện đang diễn ra.
“Chúng tôi cần lên tiếng khi một cơ quan như CDC đơn phương cho rằng họ có quyền can thiệp vào hoạt động kinh doanh của chúng tôi”, Haines, chủ ba khu nhà cho thuê với 240 căn hộ tại Arlington và Irving, bang Texas, nói.
Ngoài lệnh cấm đuổi người thuê nhà của liên bang, 43 bang và nhiều thành phố tại Mỹ cũng áp dụng các biện pháp tương tự. Một số lệnh cấm kéo dài lâu hơn do chính quyền bang và địa phương có thẩm quyền quản lý rộng hơn so với các cơ quan liên bang.
Các chủ nhà cho rằng biện pháp này đã gây thiệt hại nặng nề cho hoạt động kinh doanh của họ. Do không thu được tiền thuê nhà, nhiều người phải vay nợ, sa thải nhân viên, hoãn sửa chữa nhà cửa, thậm chí bán tài sản cho thuê.
Dù lệnh cấm đã kết thúc 5 năm, các chủ nhà nói họ vẫn chịu ảnh hưởng, khi quá trình trục xuất người thuê không chịu trả tiền nhà mất nhiều thời gian hơn và việc xét duyệt người thuê mới trở nên khắt khe hơn, đặc biệt với các hồ sơ có rủi ro cao. Ngày càng nhiều chủ nhà cũng rời bỏ thị trường cho thuê.
Haines kể rằng ngay khi đại dịch bùng phát, ông đã biết mình sẽ gặp khó khăn. Nhiều người thuê nhà mất việc, nên ông không ép họ ký hợp đồng mới và cố gắng linh hoạt với những người không thể trả tiền nhà. Nhưng khi lệnh cấm trục xuất có hiệu lực, nó trở thành mối đe dọa lớn nhất ông từng đối mặt trong 30 năm làm bất động sản.
Một khảo sát của Hội đồng Nhà cho thuê Quốc gia (NRHC), được công bố sau khi lệnh cấm liên bang kết thúc, cho thấy một nửa số chủ nhà bị người thuê “quịt tiền”, trong khi 1/3 đã bán hoặc dự định bán bất động sản. Theo đơn kiện, lệnh cấm và tình trạng tồn đọng các vụ kiện nhằm buộc người thuê rời khỏi nhà khiến chủ sở hữu thiệt hại khoảng 57 tỷ USD, với hơn 10 triệu người thuê chậm trả tiền chỉ trong 4 tháng đầu áp dụng chính sách trên.
“Những biện pháp y tế công cộng như thế này có thể xuất phát từ mục đích tốt”, Creighton Magid, luật sư của nhóm, nói. “Nhưng khi chính phủ áp đặt một lệnh cấm như vậy, gánh nặng tài chính phải do chính phủ chịu, chứ không phải trút lên vai chủ sở hữu bất động sản”.
Liz Leone, chủ 52 căn hộ cho thuê tại Las Vegas, cho biết lệnh cấm gần như khiến bà phải rời khỏi ngành cho thuê nhà. Bà nói mình mất hơn 250.000 USD và phải vay 60.000 USD từ Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ Mỹ để cầm cự. Khoản nợ này hiện vẫn chưa được trả hết.
Trong khi đó, các tổ chức bảo vệ người thuê nhà cho rằng lệnh cấm là “phao cứu sinh” với nhiều gia đình Mỹ. Họ nói chính sách này giúp hàng triệu người không mất chỗ ở trong đại dịch, đồng thời góp phần làm chậm tốc độ lây lan của virus.
Dulcee Barnes, 28 tuổi, là một trong những người được hưởng lợi từ chính sách này. Cô và hai bạn cùng phòng mất việc tại nhà hàng ở Miami trong đại dịch, chậm trả tiền thuê hai tháng và có thể đã bị đuổi khỏi nhà nếu không có lệnh cấm.
“Chính sách đó cho chúng tôi thời gian để thở và không phải sống trong nỗi sợ thu dọn đồ đạc trong 24 giờ rồi ngủ trong ôtô hoặc trên ghế nhà người quen”, Barnes nói.
Những người ủng hộ người thuê nhà cũng cho rằng các chủ nhà đã được hỗ trợ thông qua 46,5 tỷ USD tiền trợ cấp thuê nhà khẩn cấp của liên bang. Eric Dunn, giám đốc phụ trách kiện tụng của National Housing Law Project, nói nhiều chủ nhà vẫn có thể thu tiền thuê hoặc bán bất động sản trong thời gian lệnh cấm có hiệu lực.
Theo nghiên cứu của Eviction Lab thuộc Đại học Princeton công bố hồi tháng 4, phần lớn khoản hỗ trợ này được chuyển tới những khu vực có nhiều vụ kiện trục xuất người thuê trước đại dịch.
Tuy nhiên, phía chủ nhà cho rằng khoản hỗ trợ này không đủ bù thiệt hại. Họ nói các chương trình trợ cấp thường vướng thủ tục rườm rà, giải ngân chậm và vận hành kém hiệu quả. Một số bang như Arkansas và Nebraska thậm chí không nhận toàn bộ nguồn tiền liên bang.
Nhiều chủ nhà cũng phàn nàn rằng một số người thuê lợi dụng lệnh cấm để sống miễn phí trong các căn hộ cho thuê. “Họ mua ôtô mới và không phải trả tiền thuê nhà, trong khi tôi vẫn lái chiếc xe 18 năm tuổi”, Leone nói.
Rick Jones, phó chủ tịch Tập đoàn Dịch vụ Quản lý, công ty sở hữu 4.000 căn hộ tại Virginia, cho biết nhiều đơn vị cho thuê hiện chấp nhận để căn hộ trống thay vì nhận người thuê có nguy cơ chậm thanh toán tiền nhà cao.
Haines cũng siết chặt xét duyệt hồ sơ và từ chối một số người thu nhập thấp mà trước đây ông có thể cân nhắc cho thuê. Ông nói quá trình đuổi người thuê vi phạm hiện mất nhiều tháng hơn trước, khiến chủ nhà không còn muốn mạo hiểm.
“Chính sách đó gây hại nhiều hơn cho người thu nhập thấp”, Haines nói. “Đó là nhóm trước đây chúng tôi có thể cho thuê, nhưng nay đơn giản là chúng tôi không thể chấp nhận rủi ro nữa”.
Trọng tâm của cuộc đua này không chỉ là chế tạo robot hình người, mà là phát triển các mô hình đóng vai trò như "bộ não" giúp robot cảm nhận, suy luận, dự đoán và hành động trong cuộc sống thực tế, theo tờ South China Morning Post.
Cuộc đua nóng lên sau khi Spirit AI, một công ty khởi nghiệp của Trung Quốc, ngày 3.6 tuyên bố mô hình Spirit v1.6 của họ trở thành mô hình đầu tiên của Trung Quốc đứng đầu bảng xếp hạng toàn cầu RoboArena. Mô hình này đạt 1.924 điểm, vượt Cosmos3-Nano-Policy của NVIDIA, vốn đạt 1.881 điểm. RoboArena là chuẩn đánh giá hiệu quả của các chính sách/thuật toán robot đa năng trong chuyển đổi thành hành động thực tế.
Không chỉ trên RoboArena, các công ty Trung Quốc cũng đang tạo dấu ấn ở nhiều bảng xếp hạng khác. WorldScape-0.2 của Công ty công nghệ Manifold AI dẫn đầu các chuẩn WorldArena và WorldScore, vượt qua một số dự án đến từ NVIDIA và Google (Mỹ). AgiBot, tập đoàn robot lớn của Trung Quốc, dẫn đầu mảng mô phỏng nhận thức với GenieEnvisioner-Sim2.0-2B, trong khi doanh nghiệp công nghệ cao DexForce nổi bật ở mảng xử lý dữ liệu huấn luyện.
Sự vươn lên của Trung Quốc phản ánh lợi thế ngày càng rõ về dữ liệu, chuỗi cung ứng và nguồn vốn. Theo Viện Brookings, AI hiện thân là một ưu tiên trong kế hoạch 5 năm mới nhất của Trung Quốc, đồng thời là mục tiêu quan trọng của quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia trị giá 138 tỉ USD mới được thành lập. Chính quyền tại các trung tâm công nghệ như Bắc Kinh và Thâm Quyến cũng đã hỗ trợ xây dựng các "nhà máy dữ liệu" nhằm thu thập dữ liệu huấn luyện robot. Bên cạnh đó, Trung Quốc có nền tảng công nghiệp mạnh trong nhiều lĩnh vực liên quan như xe điện, điện thoại thông minh, pin và cảm biến. Theo số liệu chính thức, đến cuối năm 2024, nước này có hơn 451.700 công ty robot thông minh, tăng 206% so với năm 2020.
Tại Mỹ, các tập đoàn công nghệ cũng đang tăng tốc. Tesla đặt mục tiêu sản xuất khoảng 5.000 robot hình người Optimus trong năm nay. Các công ty robot hàng đầu của Mỹ như Physical Intelligence và Google DeepMind cũng đang tiên phong trong việc xây dựng các mô hình nền tảng cho robot. Không chỉ các "ông lớn công nghệ" Mỹ, công ty khởi nghiệp như Figure AI và 1X Technologie cũng đều đầu tư mạnh vào robot và AI hiện thân nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động và "hiện thực hóa" tham vọng thương mại, theo Channel NewsAsia.
Trong bối cảnh Mỹ và Trung Quốc đều có những bước tiến và lợi thế riêng về phát triển AI robot, giới quan sát cho rằng rất khó xác định bên nào đang dẫn đầu. Giới phân tích cho rằng các doanh nghiệp Mỹ có thể gặp khó khăn hơn trong việc mở rộng quy mô sản xuất so với đối thủ Trung Quốc. Trong khi đó, Mỹ hiện vẫn có lợi thế lớn về phần mềm, chip và các mô hình AI nền tảng.
Các sĩ quan Sở Cảnh sát thành phố Senatobia, bang Mississippi, chiều 14/6, nhận được tin báo về một vụ trộm cắp tại siêu thị Walmart. Khi đến bãi đỗ xe của siêu thị, họ phát hiện hai người lớn bế theo một trẻ nhỏ đang chạy ra ôtô.
Theo Cục Điều tra Mississippi (MBI), các sĩ quan đã yêu cầu tài xế chiếc xe dừng lại, nhưng người này vẫn lái xe lao về phía họ và suýt đâm trúng một người. Một cảnh sát sau đó nổ súng vào phương tiện.
Tài xế lái xe tới bệnh viện gần đó, nơi các bác sĩ xác nhận bé trai một tuổi đã tử vong, cơ quan điều tra cho biết.
Trong tuyên bố ngày 16/6, luật sư Ben Crump cho biết nạn nhân là bé Kohen Wiley, một tuổi, ở trong xe cùng mẹ và một người bạn của gia đình khi sự việc xảy ra.
Ông Crump cho biết người mẹ chưa bị cáo buộc bất kỳ tội danh nào, và đã cố nói với cảnh sát rằng có trẻ nhỏ trong xe. "Tuy vậy, họ vẫn nổ súng khiến em bé thiệt mạng", ông Crump nói, thêm rằng người bạn đi cùng cũng bị thương nặng trong vụ nổ súng. Luật sư này cho hay gia đình sẽ tìm kiếm công lý cho bé Wiley.
Sở Cảnh sát Senatobia chưa phản hồi đề nghị bình luận vào ngày 16/6. Trong bài đăng Facebook hai ngày trước, cơ quan này cam kết minh bạch hoàn toàn về sự việc. "Khi các thông tin được xác minh, chúng tôi sẽ công bố nhiều nhất có thể", bài đăng có đoạn.
Marquell Bridges, nhân viên hoạt động cộng đồng đang hỗ trợ gia đình nạn nhân, ngày 16/6 nói rằng mẹ của bé Wiley "không trộm đồ tại Walmart, cũng không chứng kiến hay tiếp tay cho bất kỳ hành vi phạm pháp nào".
"Chỉ ít phút trước đó, cô ấy còn vui đùa với con trên đường ra xe, không phải đang bỏ chạy sau một vụ trộm", ông nói, kêu gọi cảnh sát công bố video từ camera gắn trên người các sĩ quan và camera giám sát của siêu thị.
Ông Sean Tindell, lãnh đạo Sở An toàn Công cộng Mississippi, cho biết các video và bằng chứng liên quan sẽ chỉ được công bố sau khi cuộc điều tra hoàn tất và hồ sơ được chuyển tới Văn phòng Tổng chưởng lý để xem xét khả năng truy tố.
Ông từ chối thảo luận chi tiết vụ nổ súng, kêu gọi công chúng kiên nhẫn để các điều tra viên có thể làm việc với các nhân chứng mà không lo bị đe dọa hay gây sức ép.
Tuy nhiên, vụ nổ súng đã châm ngòi các cuộc biểu tình ở thành phố Senatobia, buộc cảnh sát phải sử dụng hơi cay để giải tán đám đông tại một số địa điểm.
Trong tuyên bố ngày 16/6, chính quyền Senatobia gọi cái chết của bé Wiley là "bi kịch đau lòng", cho biết sẽ hợp tác đầy đủ với cuộc điều tra độc lập của MBI.
"Chúng tôi hiểu cảm xúc đang dâng cao và vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp. Trong thời gian điều tra, chúng tôi đề nghị cộng đồng tránh suy đoán và lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng", tuyên bố nêu.
Thủ tướng Đức Friedrich Merz ngày 27/4 cho rằng Mỹ không có chiến lược rõ ràng trong cuộc tấn công phối hợp cùng Israel nhằm vào Iran, đồng thời đánh giá Tehran đang tỏ ra trên cơ Washington trong những nỗ lực đàm phán sau đó.
"Cả một quốc gia đang bị giới lãnh đạo Iran làm cho bẽ mặt, đặc biệt bởi Vệ binh Cách mạng Hồi giáo. Tôi hy vọng điều này sẽ sớm kết thúc", ông nói.
Đây là bình luận gay gắt nhất liên quan đến chiến sự Iran được đưa ra bởi Thủ tướng Merz, người trong những tháng qua đã nhiều lần cố gắng làm hài lòng Tổng thống Mỹ Donald Trump nhằm tránh gây rạn nứt trong nội bộ NATO.
Ông Trump hồi đầu tháng 4 đã khiến các đồng minh châu Âu, trong đó có Đức, bất bình khi mô tả NATO là "hổ giấy" và khẳng định đang nghiêm túc cân nhắc rút Mỹ khỏi liên minh này vì họ không tham gia cuộc chiến ở Trung Đông.
Telegraph khi đó tiết lộ ông Trump đang cân nhắc việc cải tổ NATO nhằm trừng phạt các thành viên không đáp ứng yêu cầu tăng ngân sách quốc phòng mà ông đưa ra. Các nguồn tin am hiểu vấn đề cho biết người đứng đầu Nhà Trắng cũng xem xét rút lính Mỹ khỏi Đức, động thái mà ông đã nêu ra kể từ khi trở lại nắm quyền vào năm ngoái.
Trong bối cảnh đó, tuyên bố của Thủ tướng Merz được xem như "giọt nước tràn ly", theo Sam Kiley, bình luận viên về các vấn đề quốc tế của Independent.
Phẫn nộ trước lời chỉ trích này, ông Trump đã hiện thực hóa lời đe dọa giảm số lượng binh sĩ đồn trú tại Đức. Nhà Trắng ngày 1/5 thông báo Mỹ sẽ rút 5.000 binh sĩ đồn trú khỏi Đức. Ông còn cảnh báo Mỹ có thể giảm binh sĩ đồn trú tại Italy và Tây Ban Nha, những quốc gia bị ông chỉ trích vì không tham gia nỗ lực "loại bỏ mối đe dọa hạt nhân Iran".
"Nhìn xem, sao tôi lại không nên làm thế chứ? Italy chẳng giúp được gì cho chúng tôi, còn Tây Ban Nha thì quá tệ hại", ông Trump nói.
Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius ngày 2/5 nói rằng việc Mỹ rút bớt binh sĩ cho thấy châu Âu phải gánh vác trách nhiệm lớn hơn đối với an ninh của chính mình và "Đức đang đi đúng hướng" khi mở rộng lực lượng vũ trang, mua sắm trang thiết bị nhanh chóng và ở quy mô lớn hơn, cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng.
Theo ông Pistorius, gần 40.000 binh sĩ Mỹ đang đóng quân tại Đức. "Sự hiện diện của binh lính Mỹ ở châu Âu, đặc biệt ở Đức, nhằm đáp ứng lợi ích của chúng ta và của chính Mỹ. Tuy nhiên, việc Mỹ rút quân khỏi châu Âu, bao gồm cả Đức, là điều có thể dự đoán được", ông cho hay.
Trong khi các đòn đáp trả ngoại giao qua lại vẫn tiếp diễn, trên thực địa, NATO vẫn chuẩn bị triển khai cuộc tập trận đa quốc gia "Sword 26" tại châu Âu, với sự tham gia của 5.000 binh sĩ Mỹ cùng 10.000 quân từ các nước đồng minh, diễn tập từ vùng Baltic tới biển Đen. Hiện chưa rõ quyết định rút quân của ông Trump sẽ ảnh hưởng thế nào tới cuộc tập trận.
Đại tướng không quân Mỹ Alexus Grynkewich, người giữ chức Tư lệnh Tối cao NATO tại châu Âu, hồi tháng 3 nói trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ rằng các căn cứ then chốt ở châu Âu giúp bảo toàn lựa chọn quân sự của Tổng thống trong trường hợp nổ ra khủng hoảng và cho phép triển khai nhanh chóng cũng như duy trì các lực lượng đủ khả năng chiến đấu.
"Chúng ta cần NATO", tướng Grynkewich nhấn mạnh.
Tuy nhiên, ông Trump đã không tham vấn các đồng minh NATO trước khi cùng Israel tấn công Iran, nhưng giận dữ khi họ từ chối tham gia cuộc chiến hay điều tàu chiến đến eo biển Hormuz.
Thủ tướng Merz cùng các lãnh đạo châu Âu khác đã nhiều lần nói rằng NATO là liên minh phòng thủ, trong đó các thành viên bảo vệ lẫn nhau khi bị tấn công, không phải một tổ chức tấn công các nước khác. Tuy nhiên, sự khác biệt này dường như không được ông Trump và nội các chú ý.
Mỹ đóng vai trò thiết yếu trong hệ thống phòng thủ của châu Âu. Các căn cứ Mỹ tại châu Âu cũng là nền tảng để Washington triển khai sức mạnh quân sự toàn cầu. Các nước châu Âu tỏ ra dè dặt với chiến dịch tại Iran, nhưng đó không phải là chiến trường duy nhất mà quân đội Mỹ đang hoặc có thể tác chiến.
"Việc liên tục công kích đồng minh NATO là phản tác dụng và gây tổn hại đến người Mỹ", hạ nghị sĩ Cộng hòa Don Bacon đăng trên X, đồng thời nhấn mạnh hai căn cứ không quân lớn ở Đức giúp Mỹ có thể triển khai nhanh chóng lực lượng tới ba châu lục. "Chúng ta đang tự bắn vào chân mình".
Mỹ triển khai các hoạt động quân sự tại châu Phi từ căn cứ ở châu Âu, cũng như từng tiến hành chiến dịch tại Libya, Iraq và Syria từ đây. Việc triển khai quân Mỹ tới khu vực Sahel bất ổn ở Bắc Phi gần như không thể nếu thiếu mạng lưới căn cứ NATO.
Hiện 90.000 binh sĩ Mỹ đóng tại châu Âu, chủ yếu tập trung tại Đức. Đây là nơi đặt tổng hành dinh của Bộ tư lệnh châu Âu (USEUCOM) thuộc quân đội Mỹ, cũng như một trong những trung tâm điều trị y tế hàng đầu của nước này, cùng nhiều cơ sở bảo dưỡng và kho vũ khí cho không quân Mỹ.
Hạm đội 6 của hải quân Mỹ đóng tại thành phố Naples của Italy, với gần 13.000 quân nhân. Khoảng 3.800 binh sĩ đóng tại Tây Ban Nha, cửa ngõ cho các chiến dịch tại châu Âu và xa hơn.
Ông Trump từng dọa "khai trừ" Tây Ban Nha khỏi NATO, điều không nằm trong quyền hạn của ông, và làm suy yếu lập trường của Anh về quần đảo Falkland. Trước khi phát động cuộc chiến vào Iran, ông còn nhiều lần bày tỏ ý định kiểm soát đảo Greenland thuộc Đan Mạch, quốc gia thành viên NATO, và thể hiện tham vọng tương tự với Canada.
Tổng thống Mỹ không phải lúc nào cũng hiện thực hóa lời đe dọa. Những người chỉ trích mô tả ông "luôn rút lui vào phút chót", trong khi người đứng đầu Nhà Trắng cho rằng sự khó đoán của mình là lợi thế khi đối phó với các nước như Iran.
Thủ tướng Merz và một số lãnh đạo đang thể hiện lập trường cứng rắn hơn với ông Trump, trong khi các nước như Anh sử dụng "quyền lực mềm", thậm chí thông qua Vua Charles III, để giảm bớt những phát ngôn gây tranh cãi của Tổng thống Mỹ. Nhưng thách thức đặt ra là ông Trump thường hướng những chỉ trích gay gắt nhất tới đồng minh, trong khi hiếm khi công kích đối thủ. Hiện giới lãnh đạo phương Tây vẫn tiếp tục nỗ lực để ông lắng nghe họ nhiều hơn, theo bình luận viên Kiley.