Phân tích của chúng tôi dựa trên tệp dữ liệu số báo danh từ 080163xx đến 080166xx (sau đây gọi là tệp CTQ). Đây là tệp dữ liệu chứa hầu hết kết quả thi của thí sinh (TS) Trường THPT chuyên Tuyên Quang. Những bài viết trước chúng tôi đã phản ánh sự bất thường về phổ điểm môn toán và tiếng Anh trong tệp dữ liệu này, lợi thế điểm thi môn toán với các TS có điểm tổ hợp C00 trong xét tuyển ĐH ra sao. Trong bài viết này chúng tôi đi sâu phân tích vào lợi thế các môn thi đó ảnh hưởng thế nào tới việc xét tuyển các tổ hợp truyền thống có môn toán hoặc tiếng Anh như A00, A01, B00, D01.
Tệp dữ liệu CTQ gồm 328 TS (trong đó có 6 TS tự do dự thi để xét tuyển ĐH). Mỗi em đủ điều kiện tham gia xét tuyển bằng rất nhiều tổ hợp môn khác nhau, nhưng điểm số cao nhất của 328 TS này được gom trong 16 tổ hợp. Trong đó, C03 là tổ hợp có nhiều TS đạt điểm cao nhất, với 72 em trên tổng số 113 TS đủ điều kiện (Báo Thanh Niên đã có bài phân tích riêng về hiện tượng này).
Trong số 5 tổ hợp truyền thống, duy nhất có C00 (văn, sử, địa) hoàn toàn vắng bóng trong danh sách tổ hợp cao nhất dù cũng có 22 em đủ điều kiện xét tổ hợp này. Số còn lại thì có 3 tổ hợp lọt vào nhóm dẫn đầu, cụ thể: A00 (60/62 em), A01 (43/73), B00 (30/33 em). D01 tuy có nhiều nhất số em đủ điều kiện (197 em) nhưng chỉ có 21 TS đạt điểm cao nhất. Khi phân tích tính cạnh tranh của tất cả những em đạt tổ hợp cao nhất với 4 tổ hợp A00, A01, B00, D01 chúng tôi nhận thấy TS tệp dữ liệu CTQ có vị thế cao vượt trội.
Theo quy chế tuyển sinh, nếu một ngành sử dụng nhiều tổ hợp để xét tuyển thì hệ thống tuyển sinh chung sẽ tự động chọn tổ hợp mang lại điểm cao nhất cho mỗi TS. Vì thế chúng tôi đã quét dữ liệu hơn 1,2 triệu TS trên cả nước để chọn ra tổ hợp cao nhất cho mỗi em, sau đó lọc những em từ 27 điểm trở lên. Có 8.228 em đạt mốc điểm tinh hoa này. Tệp CTQ dù chỉ 328 em nhưng đã đóng góp vào nhóm tinh hoa đó 184 em (đạt 56,1%). Trong đó 182 em dùng tổ hợp có môn toán, trong số này có 99 em được 10 điểm môn toán.
Với tổ hợp D01, cả nước chỉ có 0,2% TS đạt từ 27 điểm trở lên. Nhưng ở nhóm 328 CTQ, tỷ lệ này lên tới 10,7% (cao gấp 53 lần cả nước). Điểm trung bình D01 của nhóm này là 25,15 (cả nước là 19,02). Với tổ hợp A01, tỷ lệ đạt mốc 27 trở lên của cả nước là 0,8%. Tại nhóm 328 CTQ, tỷ lệ đó vọt lên mức 28,8%!
Chỉ cần tổ hợp đó có môn toán thì điểm toán sẽ trở thành trụ cột kéo điểm tổng của TS tệp dữ liệu CTQ lên chạm trần cả nước, bất chấp các môn thành phần khác của một số em chỉ ở mức khá. Khi mổ xẻ điểm trung bình của từng môn thành phần trong các tổ hợp của nhóm 328 em CTQ, chúng tôi nhận thấy có sự mất cân đối.
Chẳng hạn, trong tệp CTQ có 21 em đạt 27 điểm trở lên ở tổ hợp A01, các em có điểm trung bình các môn lý và tiếng Anh đều chưa đến 9 (8,75 và 8,96), nhưng toán gần kịch trần (9,85), giúp tổng điểm xét tuyển A01 của cả nhóm đạt mức 27,56 điểm. Qua đó cho thấy môn toán đóng vai trò là động lực kéo điểm chính cho nhóm TS A01 của CTQ. Đáng chú ý, có tới 15 trên tổng số 21 em đạt điểm 10 ở môn toán.
Xét tổ hợp D01 ở cả hai nhóm TS đạt từ 25 điểm và từ 27 điểm trở lên, điểm toán vẫn là “đầu kéo” chủ lực, đều có mức điểm trung bình áp đảo (9,65 và 9,81). Đặc biệt, sự trợ giúp của điểm tiếng Anh đã khiến nhiều em bứt phá từ nhóm giỏi (từ 25 điểm) lên nhóm xuất sắc (từ 27 điểm). Ngoài việc duy trì môn toán gần 10, điểm trung bình tiếng Anh của nhóm tinh hoa này đã nhảy vọt từ 8,46 lên 9,08 điểm.
Có 33 TS CTQ đủ điều kiện xét bằng tổ hợp B00. Trong đó chỉ có 1 em có điểm toán là 8,75, còn lại cả 32 em đều 9 điểm toán trở lên. Đặc biệt có 20 em đạt điểm 10 (60,6%).
Lưu ý, cả nước có 47.200 em đủ điều kiện xét tổ hợp B00 nhưng chỉ 343 em đạt điểm 10 toán, nghĩa là TS B00 trong tệp CTQ chiếm 5,8% điểm 10 TS B00 cả nước. Nhưng tổ hợp B00 cao không chỉ nhờ môn toán mà còn bởi phổ điểm môn sinh của nhóm em này cao vọt lên từ mốc 9,29, đặc biệt có 15 em đạt từ 9,75 điểm trở lên (trong đó 4 em điểm 10).
Có một hiện tượng trớ trêu là 1 TS tuy đạt điểm 10 toán nhưng hóa chỉ được 6,85, sinh 6,75, nên tổng 3 môn chỉ 23,6, thấp nhất trong nhóm 33 em thi B00. Trừ trường hợp này, phần lớn các em B00 ở tệp CTQ được hưởng lợi ích nhờ điểm toán xuất sắc: 20 em đạt từ 28,25 điểm trở lên. Sở dĩ chúng tôi chọn mốc 28,25 điểm để thống kê bởi đây là mốc của tốp 1% điểm B00 cao nhất nước (504 em). Nghĩa là cứ 10 em CTQ thi B00 thì 6 em vào tốp 1% B00 của cả nước. Đây là mốc điểm có khả năng đỗ hầu hết vào ngành y khoa các trường ĐH có đào tạo y dược trong cả nước.
Xét ở các mốc cao hơn, TS B00 của tệp CTQ có 17 em đạt từ 28,5 điểm (cả nước có 367 em đạt); 10 em đạt từ 28,75 (cả nước là 250); và 4 em từ 29 điểm (cả nước là 170). Năm ngoái, điểm chuẩn ngành y khoa Trường ĐH Y Hà Nội là 28,13. Năm nay, phổ điểm tổ hợp B00 nhìn chung có tăng, nhưng chỉ tiêu ngành y khoa Trường ĐH Y Hà Nội lại tăng (từ 400 lên 450 chỉ tiêu). Do đó, điểm chuẩn ngành y khoa Hà Nội có thể chỉ tăng nhẹ, do đó dẫu có tăng lên thành 28,5 thì vẫn có 17 em CTQ có khả năng đỗ.
Bên cạnh B00, nhóm A00 cũng là một nhóm có sức cạnh tranh mạnh mẽ khi mà 100% em đủ điều kiện xét môn này đều đạt tổng điểm 25 trở lên (trong khi đó phần còn lại của cả tỉnh Tuyên Quang chỉ có 10,5% số em thi A00 vào top 25 điểm). Đặc biệt, trong nhóm 62 em A00 của CTQ có 47 em (75,8%) đạt từ 27 điểm trở lên. Đây là mức điểm có khả năng đỗ phần lớn các ngành của hầu hết trường tốp trên như ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Kinh tế quốc dân, Trường ĐH Công nghệ – ĐH Quốc gia Hà Nội… Có 15 em đạt từ 28 điểm trở lên. Với mức điểm này, theo dự báo của ĐH Bách khoa Hà Nội, chỉ 2 mã ngành các em có nguy cơ trượt là IT-ET10 và IT1 (được dự báo điểm chuẩn từ 28,5 trở lên); với 6 mã ngành được dự báo khung điểm chuẩn từ 27,5 – 28,5 thì khả năng đỗ – trượt của các em sẽ là 50/50. Với 60 mã ngành còn lại của ĐH Bách khoa Hà Nội, khả năng đỗ hoàn toàn nằm trong tầm tay của 15 TS này của tệp dữ liệu CTQ.
Cũng trong nhóm A00 của tệp dữ liệu CTQ có 1 em được 28,75 và 4 em được 28,5, đây sẽ là những đối thủ tranh suất đỗ trong nhóm tinh hoa đỉnh cao của những TS xét tuyển vào Trường ĐH Ngoại thương, các ngành số 1 của ĐH Bách khoa Hà Nội. Cả nước chỉ có 525 TS A00 đạt mốc này trong tổng số 175.241 TS dự thi (0,3%).
Ở môn thi đầu tiên, thí sinh làm bài thi môn ngữ văn - một trong ba môn thi bắt buộc của kỳ thi tuyển sinh lớp 10 công lập tại TPHCM. Thời gian làm bài 120 phút. Đề thi được phát lúc 7h55 và thí sinh bắt đầu làm bài từ 8h.
Theo cấu trúc tuyển sinh được Sở GD&ĐT TPHCM công bố, đề thi môn ngữ văn gồm hai phần với tổng điểm 10.
Phần 1 chiếm 5 điểm, gồm đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn. Trong đó, câu đọc hiểu được tính 3 điểm, câu viết đoạn văn chiếm 2 điểm.
Phần 2 chiếm 5 điểm còn lại, gồm đọc hiểu văn bản nghị luận hoặc văn bản thông tin và viết bài văn nghị luận xã hội. Ở phần này, câu đọc hiểu được tính 1 điểm, bài văn nghị luận xã hội được tính 4 điểm.
Theo Sở GD&ĐT TPHCM, đề thi được xây dựng theo định hướng tích hợp giữa đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực viết của học sinh. Nội dung phần viết có liên quan đến văn bản ở phần đọc hiểu nhằm đánh giá khả năng tiếp nhận, phân tích và vận dụng thông tin của thí sinh.
Căn cứ đánh giá chủ yếu dựa trên các yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với môn ngữ văn cấp THCS, tập trung vào kiến thức và kỹ năng ở lớp 8 và lớp 9.
Năm học 2025-2026, TPHCM có gần 170.000 học sinh lớp 9 hoàn thành chương trình THCS. Trong số này, 151.269 thí sinh đăng ký dự thi tuyển sinh vào lớp 10 các trường THPT công lập.
Đây là số lượng thí sinh dự thi cao nhất kể từ khi thành phố tổ chức kỳ thi tuyển sinh lớp 10.
Để đáp ứng quy mô của kỳ thi lớp 10 đầu tiên sau sáp nhập, Sở GD&ĐT TPHCM bố trí 242 điểm thi với tổng cộng 6.443 phòng thi trên địa bàn thành phố. Đồng thời, gần 18.000 cán bộ, giáo viên và nhân viên được huy động tham gia công tác coi thi, giám sát và phục vụ kỳ thi.
Đối với đội ngũ tham gia tổ chức thi, Sở yêu cầu quán triệt nguyên tắc "4 đúng", gồm đúng quy chế, đúng quy trình, đúng thời gian và đúng trách nhiệm.
Bên cạnh đó là yêu cầu thực hiện "3 không", gồm không lơ là chủ quan, không căng thẳng quá mức và không tự ý xử lý các tình huống phát sinh.
Sở GD&ĐT TPHCM ghi nhận 15 thí sinh tại 13 điểm thi có hoàn cảnh hoặc tình huống đặc biệt cần được hỗ trợ. Trong đó, 11 trường hợp được bố trí phòng thi riêng do liên quan đến tình trạng sức khỏe, nhằm đảm bảo điều kiện dự thi cho các em theo đúng quy định.
Năm nay, các trường THPT công lập trên địa bàn TPHCM tuyển khoảng 118.500 học sinh vào lớp 10. So với số lượng thí sinh đăng ký dự thi, khoảng 78% thí sinh sẽ có cơ hội trúng tuyển vào các trường công lập.
Sau khi hoàn thành bài thi môn ngữ văn trong sáng 1/6, các thí sinh sẽ tiếp tục dự thi môn ngoại ngữ vào chiều cùng ngày với thời gian làm bài 90 phút.
Sáng 2/6, thí sinh sẽ dự thi môn toán - môn thi cuối cùng trong ba môn bắt buộc của kỳ thi tuyển sinh lớp 10.
Đối với những thí sinh đăng ký dự tuyển vào các lớp chuyên hoặc lớp tích hợp, các em sẽ tiếp tục tham gia bài thi môn chuyên hoặc môn tích hợp tương ứng vào chiều 2/6.
Lịch thi lớp 10 cụ thể tại TPHCM:
Theo quy định tuyển sinh, điểm xét tuyển vào lớp 10 được tính bằng tổng điểm của ba bài thi gồm ngữ văn, toán và ngoại ngữ, cộng với điểm ưu tiên và điểm khuyến khích (nếu có).
Điều kiện để được đưa vào diện xét tuyển là thí sinh phải tham gia đầy đủ các bài thi theo quy định và không có bài thi nào bị điểm 0.
Sau khi kỳ thi kết thúc, từ ngày 3/6 đến ngày 9/6, Sở GD&ĐT TPHCM sẽ tổ chức chấm thi, tổng kết công tác chấm thi và thực hiện đối sánh kết quả. Sau giai đoạn này, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 của các trường THPT công lập cũng như kế hoạch tuyển bổ sung (nếu có).
Dân trí sẽ cập nhật đề thi và đáp án gợi ý các môn thi vào lớp 10 tại TPHCM ngay sau khi môn thi kết thúc.
Mời bạn đọc theo dõi đề thi và đáp án tuyển sinh lớp 10 năm 2026 của tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh, thành khác được cập nhật liên tục tại: Đề thi và đáp án thi lớp 10 năm 2026 của tất cả 34 tỉnh, thành.
Theo đó, điểm sàn của 12 trường trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là 19 điểm/3 môn thi tốt nghiệp, chưa nhân hệ số và đã bao gồm điểm ưu tiên khu vực, đối tượng.
Nghĩa là thí sinh đạt từ mức điểm trên mới được đăng ký xét tuyển vào 12 trường trực thuộc khối Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐH).
Riêng các ngành đào tạo giáo viên, pháp luật và sức khỏe, các trường thành viên sẽ xác định, công bố điểm sàn sau nhưng theo nguyên tắc không được thấp hơn mức chung của ĐH Quốc gia Hà Nội và Bộ GD&ĐT.
Với phương thức xét kết quả thi đánh giá năng lực HSA, điểm xét tuyển sẽ được quy đổi tương đương sang thang 30 và điểm sàn cũng là 19.
Đối với các phương thức xét tuyển khác như: Xét chứng chỉ quốc tế (SAT, A-Level, ACT); xét kết hợp hoặc thi năng khiếu, phỏng vấn kết hợp học bạ hoặc điểm thi tốt nghiệp, các trường thành viên cũng quy đổi tương đương, sau đó công bố cho thí sinh.
Năm nay, 12 trường thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội tuyển khoảng 22.000 sinh viên hệ đại học chính quy cho 166 ngành, chương trình đào tạo. Trong số này, hơn 17.000 sinh viên sẽ học tập tại cơ sở Hòa Lạc.
Việc công bố ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào là căn cứ quan trọng để các đơn vị đào tạo xây dựng mức điểm nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển theo từng ngành/chương trình đào tạo, bảo đảm chất lượng tuyển sinh và thực hiện đúng quy định hiện hành.
Theo quy định mới ban hành, lần đầu tiên Bộ GD&ĐT đưa yêu cầu về năng lực số và năng lực ngoại ngữ vào tiêu chuẩn đánh giá. Theo đó, giáo viên mầm non không chỉ đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo yêu cầu vị trí việc làm.
Thông tư quy định rõ hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp theo 3 hạng chức danh (hạng III, II, I), được thiết kế theo hướng phân hóa năng lực và vai trò. Giáo viên ở hạng cao hơn có vai trò dẫn dắt, hỗ trợ đồng nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tài liệu và lan tỏa các mô hình giáo dục.
Khả năng cá nhân hóa hoạt động giáo dục, vận dụng phương pháp tiên tiến và tham gia phát triển chuyên môn cũng là những yếu tố để đánh giá, xếp hạng giáo viên.
Về trình độ đào tạo, giáo viên mầm non hạng III và II phải có bằng cao đẳng sư phạm trở lên, trong khi hạng I yêu cầu tối thiểu trình độ cử nhân. Tất cả các hạng đều phải có chứng chỉ bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non.
Theo Bộ GDĐT, việc bổ sung các năng lực mới như năng lực số, ngoại ngữ và tự học, phát triển nghề nghiệp được xem là bước tiến nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập trong giáo dục mầm non, đồng thời cụ thể hóa các quy định của Luật Nhà giáo.
Thông tư quy định việc đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn mới sẽ là căn cứ quan trọng trong tuyển dụng, sử dụng và đào tạo giáo viên mầm non.
Trong giai đoạn chuyển tiếp, việc đánh giá giáo viên mầm non vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành đến hết năm học 2025-2026. Các chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp được cấp trước ngày 31/12/2026 được công nhận tương đương với chứng chỉ bồi dưỡng theo chuẩn mới.
Thông tư cũng quy định rõ, giáo viên đã được tuyển dụng trước thời điểm văn bản có hiệu lực nếu chưa có chứng chỉ theo chuẩn mới, thời hạn hoàn thiện là 12 tháng kể từ khi chương trình bồi dưỡng chính thức được triển khai.