Dù đã gần 100 tuổi, bác sĩ Đông y Li Liangcai tại Từ Tây, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc vẫn khám bệnh 4 ngày mỗi tuần. Theo Nhân dân Nhật báo, ông đã hành nghề hơn 70 năm sau khi tốt nghiệp Học viện Y học Cổ truyền Thượng Hải năm 1948.
Ở tuổi nhiều người đã nghỉ ngơi, bác sĩ Li vẫn duy trì lịch làm việc đều đặn, mỗi ngày tiếp nhận hơn 30 bệnh nhân. Dù mái tóc đã bạc trắng, ông vẫn tràn đầy năng lượng nhờ ba bí quyết sống khỏe cốt lõi.
Thói quen đầu tiên được ông coi trọng là sinh hoạt đúng giờ. Trong nhiều thập kỷ, bác sĩ Li thức dậy lúc 6 giờ sáng, vận động nhẹ bằng một vài động tác thái cực quyền, ăn sáng rồi đến phòng khám Đông y của Trung tâm Y tế thị trấn Quan Hải Vệ, thành phố Từ Khê.
Ông bắt đầu khám bệnh lúc 8 giờ, nghỉ ngơi vào khoảng 10 giờ và uống một ly sữa để bổ sung năng lượng.
Đến 11 giờ, ông về nhà ăn trưa, vận động nhẹ nhàng rồi dành thời gian cho một giấc ngủ ngắn để hồi phục sức khỏe. Theo ông, giấc ngủ ngắn giữa ngày giúp cơ thể phục hồi sau nhiều giờ tập trung. Buổi chiều, ông ăn tối sớm, vận động nhẹ, xem tin tức rồi đi ngủ đúng giờ.
Thói quen thứ hai là ăn uống điều độ. Nguyên tắc của bác sĩ Li là ăn đa dạng nhưng không ăn quá nhiều. Do mắc một số bệnh mạn tính như tăng huyết áp và tiểu đường, ông hạn chế thực phẩm nhiều dầu mỡ, nhiều muối và nhiều đường. Ngay cả trong các buổi gặp mặt, ông cố gắng tránh không ăn quá đà.
Dù ăn uống tiết chế, ông vẫn chú ý cân bằng dinh dưỡng. Bữa ăn của ông có thể có hải sản, trứng và các món thanh đạm.
Để làm phong phú thêm thực đơn hàng ngày, bác sĩ còn tự sáng chế ra món canh bổ dưỡng 10 thành phần để giới thiệu cho mọi người xung quanh, với các nguyên liệu như đậu đỏ, bách hợp, hạt sen và mộc nhĩ đen. Ông cho hay món canh này không chỉ ngon miệng mà còn hỗ trợ tiêu hóa.
Bí quyết cuối cùng của bác sĩ Li Liangcai nằm ở việc tu dưỡng tâm tính để luôn giữ được sự bình thản và điềm tĩnh trong tâm hồn. Phòng khám của ông tràn ngập những bức trướng và món quà tri ân từ bệnh nhân treo kín các bức tường.
Cuộc sống của bác sĩ Li khá giản dị. Hai niềm vui lớn nhất của ông là chăm sóc vườn tược và thăm khám cho người bệnh. Ngay cả khi từng bị ngã gãy xương đòn, ông vẫn trở lại phòng khám sau khi sức khỏe cho phép.
Khi được hỏi về động lực tiếp tục làm việc ở tuổi 99, bác sĩ Li nói việc giúp người bệnh giảm đau là niềm hạnh phúc lớn nhất của ông. Chừng nào sức khỏe còn cho phép và bệnh nhân còn cần, ông vẫn muốn tiếp tục công việc quen thuộc của mình.
Ngày 3.6, Trung tâm Y tế Đô Lương (Nghệ An) cho biết, đơn vị này đang kiểm tra, đánh giá nguy cơ và triển khai các biện pháp phòng, chống bệnh dại sau khi ghi nhận một trường hợp tử vong ở xã Bạch Hà (Nghệ An) bị chó nghi mắc bệnh dại cắn và tử vong. Nạn nhân là ông N.V.V. (69 tuổi, ngụ xã Bạch Hà).
Theo xác minh ban đầu của Trung tâm Y tế Đô Lương, khoảng 5 tháng trước, ông V. bị chó nhà cắn. Sau đó 5 ngày, con chó chết nhưng ông V. không đến cơ sở y tế để tiêm vắc xin phòng dại mà tự ý mua thuốc nam của một thầy lang tại xã Văn Kiều (Nghệ An) về nhà sắc uống.
Sau một thời gian uống thuốc nam, ông V. xuất hiện các biểu hiện: nôn, sợ nước, kích thích và được đưa đến bệnh viện cấp cứu, điều trị. Tuy nhiên, bệnh nhân đã tử vong vào sáng 3.6.
Sau khi tiếp nhận thông tin, Trung tâm Y tế Đô Lương đã cử cán bộ phối hợp với chính quyền địa phương rà soát các trường hợp có nguy cơ phơi nhiễm và đẩy mạnh tuyên truyền các biện pháp phòng, chống bệnh dại.
Theo Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Nghệ An, tỉnh này hiện có trên 306.400 con chó được nuôi tại các hộ gia đình, tuy nhiên chỉ khoảng 50 - 55% trên tổng đàn được tiêm phòng dại.
Thời gian gần đây, tại Nghệ An xuất hiện nhiều vụ chó nuôi thả rông bị bệnh dại tấn công, cắn bị thương nhiều người dân.
Ngành y tế khuyến cáo bệnh dại có tỷ lệ tử vong gần như 100% khi đã phát bệnh, nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa bằng tiêm vắc xin sau phơi nhiễm. Người dân khi bị chó, mèo cắn, cào hoặc liếm vào vết thương hở cần đến cơ sở y tế để được tư vấn và tiêm phòng dại kịp thời.
Đây không phải là điều bất thường mà thường là dấu hiệu cho thấy cách tập sai. Khi tập sai phương pháp, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách tăng tiết các hoóc môn căng thẳng và làm tăng đường huyết, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Vì vậy, điều quan trọng không phải là tập nhiều mà là tập đúng. Với người tiểu đường hay tiền tiểu đường, nếu tập nhiều mà đường huyết không hạ thì có thể do những nguyên nhân sau:
Không phải cứ tập càng nặng thì đường huyết càng giảm. Các bài tập cường độ cao như chạy nước rút, tập cường độ cao ngắt quãng (HIIT) hoặc nâng tạ nặng có thể làm đường huyết tăng tạm thời. Nguyên nhân là cơ thể tiết hoóc môn adrenaline và cortisol, kích thích gan đưa thêm đường glucose vào máu để cung cấp nhanh nguồn năng lượng cho vận động.
Ngược lại, các bài tập cường độ vừa như đi bộ nhanh, đạp xe hoặc bơi lội thường giúp giảm đường huyết hiệu quả hơn. Những hoạt động này cho phép cơ bắp sử dụng đường glucose một cách ổn định, không kích hoạt phản ứng stress mạnh. Vì vậy, nếu chỉ tập nặng mà không cân nhắc cường độ phù hợp, loại hình vận động thì có thể vô tình làm đường huyết tăng thay vì giảm.
Thời điểm tập cũng ảnh hưởng rõ rệt đến đường huyết. Khi tập lúc đói, đặc biệt là buổi sáng sớm, cơ thể dễ rơi vào trạng thái stress nhẹ và tăng tiết đường glucose vào máu. Điều này có thể khiến đường huyết tăng dù đang vận động.
Trong khi đó, vận động nhẹ như đi bộ sau bữa ăn lại giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn. Lúc này, lượng đường glucose trong máu đang tăng và cơ bắp có thể sử dụng trực tiếp để tạo năng lượng. Vì vậy, chỉ cần thay đổi thời điểm vận động, hiệu quả kiểm soát đường huyết đã có thể khác đi đáng kể.
Một sai lầm khác là tập dồn dập trong vài ngày rồi nghỉ dài. Hiệu quả của tập luyện đối với khả năng kiểm soát đường huyết chỉ kéo dài trong khoảng 1 - 3 ngày. Nếu không duy trì đều đặn, cơ thể sẽ nhanh chóng quay lại trạng thái ban đầu.
Vì vậy, tập đều mỗi tuần quan trọng hơn là tập thật nặng trong thời gian ngắn. Ngay cả những buổi tập nhẹ nhưng đều đặn cũng có thể mang lại hiệu quả kiểm soát đường huyết tốt hơn, theo Medical News Today.
Mới đây, bác sĩ Hung Yung-hsiang, chuyên gia ung thư tại Bệnh viện Đa khoa Tam Quân (Đài Loan), chia sẻ quá trình tìm ra căn bệnh ác tính cho nữ quản lý.
Theo đó, người bệnh đến phòng khám trong tình trạng thừa cân, phù nề chi dưới, mệt mỏi và ho kéo dài. Trước đó, cô thăm khám nhiều nơi nhưng các y bác sĩ chỉ chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày, do ảnh chụp X-quang phổi hoàn toàn bình thường.
Khai thác bệnh sử, bác sĩ Hung nhận thấy anh trai nữ quản lý từng mắc ung thư biểu mô tuyến phổi khi còn trẻ. Ông lập tức chỉ định cô chụp cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT). Kỹ thuật chụp chuyên sâu này giúp ông nhìn thấy rõ một tổn thương kích thước 1,5 cm ở ngay phổi phải của bệnh nhân.
Bác sĩ đánh giá người bệnh mang nhiều yếu tố nguy cơ khởi phát ung thư. Căng thẳng công việc kéo dài cùng tình trạng mất ngủ bào mòn sức khỏe nữ quản lý. Cô cũng ăn đồ ngọt và thực phẩm chế biến sẵn hàng ngày để giải tỏa áp lực tâm lý. Ê kíp y tế lập tức phẫu thuật cắt bỏ khối u cho người phụ nữ kịp thời.
Nhằm ngăn chặn tế bào ác tính tái phát sau ca mổ, bác sĩ yêu cầu cô thay đổi triệt để nếp sinh hoạt. Người bệnh phải chuyển sang dùng thực phẩm tự nhiên, loại bỏ đồ ngọt và ngừng thức khuya. Bệnh nhân tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định y khoa suốt hai năm qua, duy trì thể trạng ổn định và không xuất hiện dấu hiệu khối u quay lại.
Ung thư phổi chia làm hai dạng chính là ung thư phổi tế bào nhỏ, chiếm 15% và ung thư phổi không tế bào nhỏ, 85%. Trong đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ là một trong những bệnh ung thư thường gặp tại châu Á.
Loại không tế bào nhỏ ở giai đoạn sớm có tỷ lệ khỏi bệnh cao, 92% sống 5 năm nếu khối u kích thước dưới một cm, 1% sống sau 5 năm nếu di căn xa. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân thường vào viện khi bệnh ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV).
Chẩn đoán và điều trị sớm ung thư phổi vẫn là thách thức lớn đối y bác sĩ. Nhóm nguy cơ cao như tuổi trên 50, hút thuốc lá nhiều năm; người làm việc trong môi trường tiếp xúc với hóa chất độc hại, các chất phóng xạ hoặc trong gia đình có nhiều người mắc ung thư..., cần khám sức khỏe định kỳ để phòng ngừa bệnh.
Hiện, điều trị nhắm trúng đích là một trong những phương pháp điều trị mới trong điều trị nội khoa trên bệnh nhân ung thư phổi. Phương pháp này có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với các hóa trị, xạ trị và phẫu thuật để thời gian sống, giảm bớt các tác dụng phụ cho người bệnh.