Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định việc chào bán trái phiếu ra công chúng đối với doanh nghiệp dự án PPP (đối tác công tư), với mục tiêu tạo thêm kênh huy động vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng lớn nhưng vẫn kiểm soát chặt rủi ro cho nhà đầu tư.
Theo dự thảo, trái phiếu do doanh nghiệp dự án PPP phát hành ra công chúng phải là trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và bắt buộc có bảo đảm thanh toán. Trường hợp doanh nghiệp chưa đủ điều kiện vận hành, khai thác công trình, trái phiếu phải được bảo lãnh thanh toán toàn bộ gốc và lãi bởi ngân hàng, tổ chức tài chính hoặc đơn vị bảo lãnh đủ điều kiện.
Dự thảo cũng yêu cầu trái phiếu hoặc tổ chức bảo lãnh thanh toán phải được xếp hạng tín nhiệm bởi tổ chức độc lập, trừ một số trường hợp đặc biệt có bảo lãnh thanh toán toàn phần.
Một điểm đáng chú ý là doanh nghiệp dự án PPP sẽ không bị ràng buộc điều kiện về thời gian hoạt động tối thiểu hay yêu cầu có lãi như doanh nghiệp thông thường. Bộ Tài chính cho rằng mô hình PPP có đặc thù riêng khi được thành lập chỉ để triển khai một dự án cụ thể, thời gian đầu tư kéo dài và cần lượng vốn lớn ngay từ đầu.
Tuy nhiên, để được phát hành trái phiếu ra công chúng, doanh nghiệp phải có hợp đồng dự án PPP đã ký đúng quy định pháp luật, đồng thời đảm bảo tổng mức huy động vốn không vượt quá giới hạn vay vốn trong hợp đồng dự án PPP.
Dự thảo cũng quy định khá chặt về tài sản bảo đảm. Với các dự án đã đủ điều kiện vận hành, doanh nghiệp có thể dùng tài sản, quyền sử dụng đất hoặc quyền kinh doanh công trình hạ tầng để bảo đảm cho trái phiếu. Các tài sản này phải được thẩm định giá và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật.
Nguồn tiền thu được từ phát hành trái phiếu chỉ được dùng cho dự án PPP hoặc cơ cấu lại nợ của chính doanh nghiệp dự án PPP. Trong thời gian chưa giải ngân, doanh nghiệp chỉ được gửi ngân hàng hoặc đầu tư vào các tài sản an toàn như trái phiếu Chính phủ, chứng chỉ tiền gửi.
Để bảo vệ nhà đầu tư, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp phát hành không được chia cổ tức hoặc phân phối lợi nhuận nếu chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn. Đồng thời, tiền phục vụ thanh toán trái phiếu phải được quản lý tách biệt với các dòng tiền khác.
Một nội dung khác được siết chặt là công bố thông tin. Doanh nghiệp PPP sẽ phải định kỳ công bố tiến độ triển khai dự án, kết quả xếp hạng tín nhiệm cũng như các sự kiện có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ trái phiếu.
Các thông tin bất thường liên quan đến tài sản bảo đảm hoặc dòng tiền dự án phải được công bố trong vòng 24 giờ.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Việt Nam và Ấn Độ chia sẻ kinh nghiệm về ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa

Tại Hội đàm, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman đã nhiệt liệt chào mừng Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cùng đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam tới thăm Bộ Tài chính Ấn Độ, nhấn mạnh đây là cơ hội để hai bên trao đổi về tình hình kinh tế vĩ mô, định hướng chính sách tài khóa, cải cách thể chế cũng như các định hướng tăng cường hợp tác kinh tế - tài chính giữa hai nước.
Cảm ơn sự đón tiếp trọng thị của Bộ trưởng Nirmala Sitharaman, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao quan hệ hữu nghị truyền thống với Ấn Độ – một trong những đối tác chiến lược toàn diện quan trọng của Việt Nam tại khu vực.
Quan hệ hai nước có nền tảng lịch sử lâu dài, được thiết lập từ năm 1972, không ngừng được củng cố, nâng cấp, đặc biệt kể từ khi hai bên thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 9/2016. Trên nền tảng đó, hợp tác kinh tế – tài chính ngày càng trở thành một trụ cột quan trọng, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của mỗi nước.
Đặc biệt, nhân dịp chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ theo lời mời của Tổng thống và Thủ tướng Ấn Độ, hai bên đã thống nhất nâng cấp quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Ấn Độ lên thành "Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường", mở ra giai đoạn hợp tác mới sâu sắc và thực chất hơn giữa hai nước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Việt Nam đánh giá cao vai trò và vị thế của Ấn Độ như một trong những nền kinh tế lớn, năng động hàng đầu thế giới, với thế mạnh nổi bật về công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo, công nghiệp dược phẩm và năng lượng. Những thành tựu phát triển của Ấn Độ trong thời gian qua là nguồn cảm hứng và kinh nghiệm quý báu đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá cao và mong muốn học hỏi từ Ấn Độ về các bài học thành công ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách chính sách thuế hiệu quả, thúc đẩy đầu tư công và hình thành năng lực tự chủ chiến lược trong một số ngành lĩnh vực thiết yếu của bền kinh tế.
Tại hội đàm, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đã dành thời gian chia sẻ về tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua và những định hướng lớn thời gian tới để đạt tốc độ tăng trưởng trên 10%.
Về hợp tác kinh tế - đầu tư giữa Việt Nam và Ấn Độ, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Việt Nam nhận thấy tiềm năng hợp tác giữa hai nước vẫn còn rất lớn và chưa được khai thác tương xứng. Mặc dù số lượng dự án tương đối nhiều, quy mô bình quân còn khiêm tốn, cho thấy dư địa để hai bên nâng tầm hợp tác theo hướng chiến lược, dài hạn và có chiều sâu hơn.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng mong muốn mở rộng đầu tư sang Ấn Độ – một thị trường quy mô lớn với hơn 1,4 tỷ dân, tuy nhiên hiện nay quy mô đầu tư của Việt Nam sang Ấn Độ còn khiêm tốn. Việt Nam đề nghị hai bên tiếp tục trao đổi nhằm cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp hai nước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn mong muốn hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác theo hướng thực chất, hiệu quả hơn, trong đó: tiếp tục phát huy các cơ chế hợp tác hiện có, tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật; đồng thời thúc đẩy kết nối thị trường, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hướng tới xây dựng môi trường tài chính minh bạch, ổn định và hiệu quả hơn.
Xem xét giao các cấp kỹ thuật triển khai có biện pháp cụ thể để chia sẻ kinh nghiệm thành công, tăng cường năng lực lẫn nhau trên những lĩnh vực mà cả hai bên có thế mạnh và có nhu cầu ưu tiên, như cải cách chính sách thuế, đặc biệt là đối với khu vực doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, và thúc đẩy đầu tư công theo hướng tăng cường cả về quy mô và hiệu quả.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman ấn tượng trước những quan tâm nghiên cứu sâu của Đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam với nền kinh tế Ấn Độ. Đồng thời chia sẻ cho Đoàn những kinh nghiệm, ưu tiên phát triển của Ấn Độ trong giai đoạn tới
Trước những chia sẻ của Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết bà đặc biệt ấn tượng trước sự quan tâm và nghiên cứu sâu của phía Việt Nam đối với kinh tế Ấn Độ, nhất là các chính sách thúc đẩy đầu tư công, cải cách thuế và hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cũng đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam, cho rằng nhiều nội dung cải cách của Việt Nam có tính tương đồng cao với các ưu tiên phát triển của Ấn Độ hiện nay, như cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiểm soát lạm phát gắn với duy trì tăng trưởng.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho rằng việc duy trì cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát luôn là thách thức lớn đối với các nền kinh tế đang phát triển. Theo đó, Ấn Độ hiện vẫn duy trì mục tiêu kiểm soát lạm phát quanh mức 4%, qua đó tạo dư địa để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng đầu tư công dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Narendra Modi.
Chia sẻ kinh nghiệm của Ấn Độ về đầu tư công, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết sau đại dịch COVID-19, Chính phủ Ấn Độ đã lựa chọn đầu tư công là động lực chủ yếu để phục hồi kinh tế. Theo đó, quy mô đầu tư công của Ấn Độ hiện đã tăng mạnh từ khoảng 2.000 tỷ Rupee/năm lên hơn 12.000 tỷ Rupee/năm, tập trung vào các lĩnh vực như đường bộ, cảng biển, đường sắt, sân bay, hạ tầng số, bệnh viện và hạ tầng xã hội.
Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ cũng chia sẻ về nền tảng số PM Gati Shakti – hệ thống đánh giá, điều phối và lựa chọn các dự án đầu tư công trên cơ sở phân tích liên kết vùng, khả năng tạo việc làm, tác động tới doanh nghiệp vừa và nhỏ, logistics và hiệu quả kinh tế tổng thể.
Theo Bộ trưởng, mỗi dự án đầu tư công đều phải trải qua hàng nghìn tiêu chí đánh giá liên quan đến khả năng kết nối hạ tầng, tác động lan tỏa tới nền kinh tế và khả năng tạo việc làm trước khi được phê duyệt, qua đó bảo đảm tính liên kết và hiệu quả đầu tư.
Bày tỏ quan tâm đối với mô hình này, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đề nghị phía Ấn Độ chia sẻ kinh nghiệm và khả năng hỗ trợ Việt Nam tiếp cận nền tảng PM Gati Shakti để phục vụ công tác quản lý và lựa chọn dự án đầu tư công. Bộ trưởng Nirmala Sitharaman khẳng định sẽ chuyển đề nghị này tới các cơ quan liên quan của Ấn Độ nhằm nghiên cứu khả năng hỗ trợ Việt Nam xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế.
Hai Bộ trưởng cũng trao đổi sâu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME). Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết Ấn Độ đã thực hiện nhiều cải cách mạnh mẽ nhằm đơn giản hóa thủ tục thuế, trong đó cho phép doanh nghiệp nhỏ kê khai thuế hoàn toàn điện tử mà không cần xác nhận của kiểm toán viên; đồng thời áp dụng ngưỡng miễn đăng ký thuế GST đối với các doanh nghiệp có doanh thu nhỏ.
Ấn Độ hiện nay cũng đã đẩy mạnh số hóa toàn diện trong quản lý thuế và tài chính công, hướng tới mô hình "không tiếp xúc trực tiếp", trong đó hầu hết quy trình kê khai, xử lý hồ sơ và quản lý thuế đều được thực hiện trên nền tảng số.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Bảo vệ người tiêu dùng trước “ma trận” hàng giả trên sàn thương mại điện tử

Sự bùng nổ của thương mại điện tử những năm gần đây đang mở ra một "xa lộ" mua sắm mới cho người tiêu dùng và tạo thêm cơ hội kinh doanh cho hàng triệu cá nhân, doanh nghiệp. Chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại, người mua có thể tiếp cận vô số sản phẩm, từ mỹ phẩm, thời trang đến thực phẩm, thiết bị điện tử.
Nhưng cùng với tốc độ tăng trưởng của kinh tế số, một mặt tối khác cũng đang phình to: hàng giả, hàng nhái, hàng không rõ nguồn gốc và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường trực tuyến.
Điều đáng nói, nếu trước đây hàng giả chủ yếu len lỏi ở chợ truyền thống hay những cửa hàng nhỏ lẻ, thì nay chúng xuất hiện công khai trên các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, livestream bán hàng, thậm chí núp bóng những gian hàng có lượt tương tác cao, hình ảnh chuyên nghiệp và quảng cáo bắt mắt.
Là người thường xuyên mua sắm online, chị Thu Cúc từng tin rằng chỉ cần chọn gian hàng có hình ảnh đẹp, nhiều lượt mua là có thể yên tâm xuống tiền. Nhưng trải nghiệm gần đây khiến chị thay đổi hoàn toàn suy nghĩ.
Chị kể đã đặt mua một chiếc váy thiết kế từ một shop trên sàn thương mại điện tử S., nơi đăng tải hình ảnh sản phẩm rất bắt mắt với người mẫu chuyên nghiệp, mẫu mã giống các thương hiệu cao cấp. Tuy nhiên, khi nhận hàng, chiếc váy thực tế lại khác hoàn toàn.
"Chất liệu vải rất xấu, kiểu dáng không giống mẫu, đường may cẩu thả, màu sắc cũng khác. Sau đó tôi mới phát hiện shop đã lấy toàn bộ hình ảnh từ một thương hiệu khác để quảng cáo", chị nói.
Điều khiến chị tiếc nuối không chỉ là số tiền bỏ ra, mà còn là cảm giác bị đánh lừa ngay trên một nền tảng mua sắm lớn. Dù thất vọng, chị cũng không thực hiện thủ tục khiếu nại hay hoàn hàng vì ngại mất thời gian.
Câu chuyện của chị Thu Cúc không còn là trường hợp cá biệt. Trên các hội nhóm tiêu dùng, không khó để bắt gặp những phản ánh kiểu "ảnh mạng một kiểu, hàng thật một kiểu"; mỹ phẩm gắn mác hàng ngoại nhưng không có tem phụ; thực phẩm chức năng giá rẻ bất thường; hay những món đồ không ai chứng minh được nguồn gốc.
Ranh giới giữa hàng thật và hàng giả trên không gian mạng đang trở nên mờ nhòe hơn bao giờ hết, khi người tiêu dùng chỉ có thể đánh giá sản phẩm qua vài bức ảnh, vài dòng mô tả và những lời quảng cáo đầy hấp dẫn.
Chia sẻ với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Đăng Sinh – Chủ tịch Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam cho rằng buôn lậu, hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang có xu hướng dịch chuyển rất mạnh lên môi trường số.
Theo ông Sinh, nếu trước đây hàng giả chủ yếu tiêu thụ qua chợ truyền thống hoặc các đại lý nhỏ lẻ thì nay các đối tượng tận dụng livestream, tài khoản ảo, quảng cáo trên nền tảng số, dịch vụ chuyển phát nhanh và trung gian thanh toán để giao dịch.
"Có thể thấy hàng giả hiện nay không còn xuất hiện theo kiểu nhỏ lẻ như trước mà đã hình thành những chuỗi hoạt động có tổ chức, tận dụng rất mạnh môi trường thương mại điện tử và mạng xã hội để tiêu thụ hàng hóa vi phạm", ông Sinh nhận định.
Điều đáng lo ngại là hàng giả đang len lỏi vào nhiều nhóm hàng thiết yếu như mỹ phẩm, thực phẩm, gia vị, hàng tiêu dùng hằng ngày. Không chỉ làm giả bao bì, nhãn hiệu, nhiều đối tượng còn sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, tiềm ẩn nguy cơ trực tiếp với sức khỏe người tiêu dùng.
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, lực lượng chức năng đã bắt giữ, xử lý gần 44.000 vụ việc liên quan buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; khởi tố hình sự 1.464 vụ án với hơn 2.200 đối tượng.
Những con số này, theo ông Sinh, cho thấy áp lực kiểm soát trên môi trường thương mại điện tử đang ngày càng lớn.
Thực tế thời gian qua cũng ghi nhận nhiều vụ việc quy mô lớn bị phát hiện. Có những "công xưởng" sản xuất mỹ phẩm giả với hàng chục nghìn sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng. Nhiều đường dây bán hàng giả trên không gian mạng bị bóc gỡ với giá trị hàng hóa lên tới hàng chục tỷ đồng.
Đáng chú ý, các đối tượng hiện nay có thể nhanh chóng tạo tài khoản mới, xóa dấu vết giao dịch hoặc hoạt động xuyên biên giới, khiến việc truy vết trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Theo ông Sinh, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là cơ chế quản lý vẫn chủ yếu theo hướng "hậu kiểm", tức xử lý sau khi vi phạm đã xảy ra. Trong khi đó, môi trường số có tốc độ phát sinh giao dịch cực lớn, phương thức hoạt động thay đổi liên tục khiến cách quản lý truyền thống khó theo kịp.
"Cần chuyển từ tư duy xử lý sang phòng ngừa chủ động", ông Sinh nhấn mạnh.
Ông cho rằng pháp luật cần đi trước một bước, công nghệ phải giữ vai trò trung tâm và dữ liệu cần trở thành nền tảng quản trị trong cuộc chiến chống hàng giả trên không gian mạng.
Dưới góc độ pháp lý, Thạc sỹ, Luật sư Nguyễn Đức Thịnh - Công ty Luật TNHH Fanci nhận định, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên các sàn thương mại điện tử đang ngày càng phổ biến và phức tạp hơn trước.
Nếu như trước đây hàng giả, hàng nhái chủ yếu xuất hiện ở chợ truyền thống hay các cửa hàng nhỏ lẻ, thì nay chỉ cần một gian hàng online, tài khoản mạng xã hội hoặc một phiên livestream, hàng hóa vi phạm đã có thể tiếp cận lượng lớn người tiêu dùng trong thời gian rất ngắn.
Theo ông Thịnh, các hành vi phổ biến hiện nay gồm sử dụng trái phép nhãn hiệu, bán hàng giả mạo thương hiệu, sao chép bao bì, kiểu dáng hoặc dùng hình ảnh hàng chính hãng để quảng cáo nhưng giao hàng kém chất lượng, không rõ nguồn gốc. Đáng lo ngại hơn, môi trường số tạo điều kiện để người vi phạm hoạt động với chi phí thấp, tốc độ lan truyền nhanh và khả năng ẩn danh cao.
"Một gian hàng bị gỡ hôm nay có thể xuất hiện lại ngày mai dưới tên khác, tài khoản khác", ông nói.
Cũng theo Luật sư Thịnh, các đối tượng hiện liên tục thay đổi thủ đoạn để "qua mặt" sàn thương mại điện tử và cơ quan chức năng. Phổ biến nhất là sử dụng hình ảnh, logo, bao bì của thương hiệu thật để tạo niềm tin, nhưng khi giao hàng lại là hàng giả hoặc hàng nhái. Nhiều gian hàng còn cố tình "né" kiểm duyệt bằng cách viết biến dạng tên thương hiệu, dùng các cụm từ như "like auth", "hàng loại 1", "hàng xuất dư", "hàng nội địa"… đánh vào tâm lý thích hàng giá rẻ nhưng vẫn muốn giống hàng thật của người tiêu dùng.
Ngoài ra, nhiều đối tượng chia nhỏ hoạt động qua nhiều tài khoản bán hàng, nhiều số điện thoại, nhiều tài khoản nhận tiền và kho trung gian khác nhau. Khi bị phản ánh hoặc khóa gian hàng, họ nhanh chóng lập tài khoản mới, đổi tên sản phẩm hoặc chuyển sang nền tảng khác để tiếp tục hoạt động.
Đặc biệt, hình thức livestream, bán hàng qua hội nhóm kín, tin nhắn riêng hay thông qua KOL/KOC đang khiến việc truy vết và thu thập chứng cứ khó khăn hơn rất nhiều.
Từ thực tế đó, ông Thịnh cho rằng giải pháp không thể chỉ dừng ở việc kiểm soát khâu đăng tải sản phẩm. Theo ông, cần siết quản lý toàn bộ hệ sinh thái giao dịch số, từ xác thực danh tính người bán, kiểm soát dữ liệu giao dịch, dòng tiền, kho hàng cho tới lịch sử vi phạm. Các sàn thương mại điện tử cũng phải nâng cao trách nhiệm quản trị rủi ro, thay vì chỉ đóng vai trò trung gian hưởng lợi từ giao dịch.
"Không thể bắt sàn chịu trách nhiệm thay cho mọi hành vi của người bán, nhưng cũng không thể để sàn chỉ hưởng lợi mà thiếu cơ chế kiểm soát tối thiểu", ông nhấn mạnh.
Theo luật sư Thịnh, điểm mấu chốt hiện nay không nằm ở việc thiếu chế tài xử phạt. Hệ thống pháp luật đã có đầy đủ quy định xử phạt hành chính, buộc tiêu hủy hàng hóa, bồi thường thiệt hại, thậm chí xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, hiệu quả răn đe trên môi trường số vẫn còn hạn chế bởi người vi phạm có thể nhanh chóng xóa dấu vết, đổi tài khoản và tái lập gian hàng mới chỉ sau thời gian ngắn.
"Vấn đề không chỉ là tăng mức phạt, mà phải làm cho việc vi phạm trở nên không còn có lợi", ông Thịnh nhấn mạnh. Theo đó, cơ quan chức năng cần truy được nguồn hàng, dòng tiền, kho hàng và tài khoản bán hàng; khóa được các gian hàng tái phạm; đồng thời công khai hành vi vi phạm và xử lý nghiêm các đường dây có tổ chức, quy mô lớn, thu lợi bất chính đáng kể.
Bên cạnh trách nhiệm của sàn và cơ quan quản lý, ông Thịnh cũng cho rằng người tiêu dùng phải trở thành "lá chắn" đầu tiên để tự bảo vệ mình trên môi trường số. Người mua cần cảnh giác với các sản phẩm giá rẻ bất thường, ưu tiên gian hàng chính hãng hoặc đã được xác thực, không nên tin hoàn toàn vào quảng cáo trên livestream hay mạng xã hội.
Đồng thời, cần lưu lại đầy đủ chứng cứ giao dịch như hình ảnh sản phẩm, tin nhắn, mã đơn hàng và video mở hàng để làm căn cứ khi phát sinh tranh chấp.
Theo Luật sư Nguyễn Đức Thịnh, trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển quá nhanh, chống hàng giả không còn là nhiệm vụ riêng của cơ quan chức năng mà đòi hỏi sự phối hợp đồng thời từ sàn thương mại điện tử, doanh nghiệp, nền tảng số và chính người tiêu dùng.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Từ ngày mai (15.5), theo thông báo của Tổng công ty dầu VN (PVOil), xăng sinh học E10 sẽ được bán trên toàn hệ thống gần 1.000 cửa hàng xăng dầu của doanh nghiệp (DN) này, sớm hơn nửa tháng so với lộ trình chung. Công ty CP xăng dầu dầu khí Sài Gòn (PVOil Sài Gòn) cũng cho biết sẽ ngừng bán xăng khoáng RON 95-III từ ngày 15.5. Như vậy, xăng E10 RON 95-III sẽ chính thức thay thế hoàn toàn xăng khoáng RON 95-III tại hệ thống cửa hàng của đơn vị này.
Sở dĩ có được kết quả này là bởi sau thời gian thí điểm tại Hà Nội và Hải Phòng từ đầu tháng 8.2025, đến nay xăng sinh học E10 RON 95-III nhận được nhiều phản hồi tích cực từ khách hàng, cũng như đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật và vận hành ổn định trên các phương tiện.
Khảo sát thị trường những ngày gần đây cho thấy, các cửa hàng xăng dầu của Tập đoàn xăng dầu VN (Petrolimex) tại TP.HCM cũng đồng loạt niêm yết giá bán xăng E10, cho thấy sản phẩm này đang được mở rộng trên toàn hệ thống.
Cụ thể, từ 0 giờ ngày 13.5, Petrolimex chính thức áp dụng giá bán xăng sinh học E10 RON 95-V trên toàn hệ thống cửa hàng, đại lý và điểm nhượng quyền thương mại với giá 24.630 đồng/lít tại vùng 1 và 25.120 đồng/lít tại vùng 2. Trong khi đó, xăng E10 RON 95-III có giá lần lượt 23.730 đồng/lít và 24.200 đồng/lít. So với xăng khoáng cùng loại, giá xăng E10 thấp hơn khoảng 620 - 630 đồng/lít.
Đại diện Petrolimex Sài Gòn khẳng định, DN đã chủ động chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất và kế hoạch triển khai nhằm bám sát lộ trình chuyển đổi sang xăng sinh học của Chính phủ. Công ty đã hoàn tất nâng cấp năng lực phối trộn tại Tổng kho xăng dầu Nhà Bè, bảo đảm đáp ứng toàn bộ nhu cầu khu vực phía nam khi chuyển đổi từ xăng khoáng sang xăng sinh học. Đối với 138 cửa hàng xăng dầu trực thuộc tại TP.HCM, Petrolimex Sài Gòn đã xây dựng kế hoạch chuyển đổi chi tiết cho từng điểm bán để đảm bảo tiến độ.
Ông Văn Tấn Phụng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP thương mại dầu khí Đồng Nai, xác nhận hệ thống gồm 18 cửa hàng bán lẻ và hơn 30 đại lý của Dầu khí Đồng Nai cũng đã sẵn sàng triển khai bán xăng E10 từ ngày 15.5. "Từ ngày 15.5 đến hết 30.5, DN sẽ bán song song xăng E10 và xăng khoáng. Từ ngày 1.6, xăng khoáng sẽ chính thức ngừng kinh doanh trên toàn hệ thống theo đúng chủ trương của Chính phủ và lộ trình quy định tại Thông tư 50 của Bộ Công thương. Thực tế, lúc đầu nhiều cửa hàng bán lẻ lo ngại phải đầu tư thêm hạ tầng, bồn bể để kinh doanh loại xăng mới. Tuy nhiên, sau khi Bộ KH-CN cho biết không cần súc rửa bồn chứa mà có thể nhập hàng về bán ngay, áp lực chi phí đối với DN bán lẻ đã giảm đáng kể", ông Phụng nói.
Tương tự, để chuẩn bị cho việc kinh doanh đại trà xăng E10 theo lộ trình của Bộ Công thương, PVOil đã nâng cấp hệ thống kho bồn, đầu tư thêm các dây chuyền phối trộn và chuyển đổi hạ tầng pha chế từ xăng E5 sang E10. Đơn vị này cũng đầu tư bổ sung hệ thống đường ống, xuất nhập nhằm đáp ứng nhu cầu trong hệ thống và sẵn sàng cung ứng cho các đầu mối khác khi cần. Nguồn ethanol (E100) hiện được PVOil mua trong nước và nhập khẩu từ Mỹ, Brazil…, còn xăng nền chủ yếu lấy từ hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Dung Quất. Bên cạnh đó, DN cũng đã nâng cấp sức chứa ethanol tại các kho đầu nguồn để phục vụ vai trò đầu mối nhập khẩu và trung tâm phân phối ethanol cho khu vực lân cận.
Đại diện PVOil tự tin, hệ thống pha chế xăng E10 của tổng công ty hiện cơ bản hoàn thiện và dự kiến đạt tổng công suất 4 triệu m³/năm vào cuối năm nay. Việc chủ động nâng công suất và đa dạng nguồn cung sẽ góp phần ổn định thị trường và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
DN sẵn sàng, người tiêu dùng cũng quan tâm nhiều hơn về xăng E10 khi được biết sẽ chính thức sử dụng từ ngày 1.6 tới. Anh Hoàng Hùng, ngụ P.Tăng Nhơn Phú (TP.HCM), trước đây từng sử dụng xăng E5 và "không nhận thấy khác biệt đáng kể so với xăng khoáng RON 95-III". Tuy nhiên, sau khi cây xăng quen trên tuyến đường anh đi làm ngừng bán E5, anh quay lại dùng xăng RON 95-III. "Nếu cây xăng gần nhà bán xăng E10 RON 95-III thì tôi dùng ngay, cũng không có gì băn khoăn. Quan trọng nhất vẫn là sự thuận tiện khi đổ xăng trên các tuyến đường đi lại hằng ngày", anh Hùng nói.
Tương tự, anh Nguyên, ngụ P.Tân Định (TP.HCM), vừa thử đổ xăng E10 cho xe máy, chạy thử veo veo và chưa phát hiện điều gì bất thường. Dù từng nghe một số ý kiến cho rằng xe chạy bằng xăng E10 không "bốc" bằng xăng khoáng, nhưng trải nghiệm thực tế anh Nguyên nhận xét không có khác biệt rõ rệt. "Đi lại trong thành phố cũng không cần tốc độ cao nên xăng E10 với tôi vẫn hoàn toàn bình thường. Tôi nghĩ có thể yên tâm sử dụng", anh chia sẻ.
Dù vậy, trao đổi với Thanh Niên, nhiều ý kiến vẫn còn tâm lý "vừa chờ đợi, vừa nghe ngóng". Ông Hy Nguyễn, ngụ P.Tân Hòa (TP.HCM), nói rằng khi thị trường chỉ còn bán xăng E10 thì người dân gần như không còn lựa chọn nào khác, phải sử dụng. Hơn nữa, xăng sinh học thân thiện môi trường luôn được người tiêu dùng ủng hộ. Tuy nhiên ông Hy đánh giá, mức giá hiện nay chưa tạo được sức hút đủ lớn. "Xăng E10 nên rẻ hơn đáng kể so với xăng khoáng thì mới hợp lý", ông nói.
Tương tự, bà Ngọc An, ngụ P.Hòa Hưng (TP.HCM), cho biết gia đình có 5 người đều sử dụng xe máy, trung bình mỗi tháng chi khoảng 1 triệu đồng tiền xăng. Với mức chênh lệch hiện nay khoảng 620 - 630 đồng/lít, tương đương giảm khoảng 2,5%, mức tiết kiệm là chưa đáng kể. "Khi các cây xăng bán đồng loạt xăng sinh học thì gia đình tôi sẽ chuyển sang sử dụng. Nhưng nếu giá thấp hơn nữa, giúp tiết kiệm chi phí rõ hơn thì loại xăng thân thiện môi trường này sẽ được người dân đón nhận cởi mở hơn", bà An nói và cho rằng cơ quan quản lý nên xem xét chính sách giá để khuyến khích người dân chuyển đổi.
Ông Lê Trung Tính, Chủ tịch Hiệp hội Ô tô vận tải TP.HCM, đánh giá xăng sinh học không chỉ có giá thấp hơn mà còn góp phần giảm ô nhiễm môi trường và khí thải tại các đô thị lớn. Tại nhiều quốc gia, xăng E10 đã được sử dụng phổ biến từ lâu, thậm chí nâng lên E15 hoặc E20 nhằm tăng hiệu quả bảo vệ môi trường. Tuy nhiên ông Tính nhận xét, công tác truyền thông hiện vẫn chưa đủ mạnh, khiến nhiều người tiêu dùng còn tâm lý e ngại, đặc biệt với các phương tiện đời cũ.
"Người dân quan tâm nhất là xe cũ có bị ảnh hưởng hay không, mức độ tương thích như thế nào. Vì vậy, Bộ Công thương cần có cẩm nang hướng dẫn sử dụng xăng E10 rõ ràng để giải tỏa băn khoăn cho người tiêu dùng", ông Lê Trung Tính nói và đề xuất, cơ quan quản lý cũng nên tính đến lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn, như duy trì song song xăng khoáng và xăng sinh học trong giai đoạn đầu để người dân có thời gian thích nghi, đặc biệt với các phương tiện cũ.
Trong vai trò là Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Đồng Nai, ông Văn Tấn Phụng đánh giá chính sách chuyển đổi năng lượng từ xăng khoáng sang xăng sinh học là bước ngoặt lớn của Chính phủ. Điều này liên quan đến nền kinh tế và những điều khoản mà Chính phủ đã cam kết với quốc tế trong chuyển đổi xanh. Vì thế, DN và người tiêu dùng tất nhiên rất ủng hộ.
"Đây là chủ trương lớn, nhưng khi áp dụng thì có thể phát sinh những điều không mong muốn. Không thể nói làm được và thành công ngay, nhưng quan điểm của tôi là vừa làm vừa điều chỉnh. Nếu có gì chưa ổn, phải điều chỉnh ngay trong vòng 3 tháng đầu triển khai thì chính sách lớn, có ý nghĩa này mới thành công được", ông Phụng đề nghị và nói thêm, VN là nước nông nghiệp, nhưng nếu nghĩ rằng nguồn ethanol của VN sẽ không thiếu thì cũng chưa đúng bởi các loại bắp, đậu… dùng sản xuất ethanol thì hiện tại trong nước để cung ứng cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn chưa đủ, chúng ta phải nhập khẩu rất nhiều. "Với xăng E10, quan trọng là kỹ thuật phối trộn và khi đã bán đại trà luôn thì đừng để đứt nguồn. Điều chúng tôi lo ngại nhất là có thể bị nghẽn cục bộ trong cung ứng, dù tổng năng lực toàn hệ thống là đủ. Kế đó là giá cả, người tiêu dùng kỳ vọng mức giá xăng E10 tốt hơn hiện nay, thấp hơn xăng khoáng từ 1.000 - 1.500 đồng/lít, chứ không phải hơn 600 đồng/lít", ông Phụng nói.
Đồng quan điểm, PGS-TS Nguyễn Thường Lạng (ĐH Kinh tế quốc dân) nhấn mạnh, xăng E10 phải tạo được lợi thế về giá để được người tiêu dùng đón nhận rộng rãi và có chính sách tốt cho DN triển khai nhanh và hiệu quả. Để hạ giá thành, cần có những chính sách đồng bộ. Ở góc độ người tiêu dùng, nhà điều hành có cơ chế điều tiết hoặc hỗ trợ giá trong giai đoạn đầu, như giảm các loại thuế bảo vệ môi trường, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng. Theo đó, cơ quan quản lý có thể cân nhắc miễn thuế thu nhập DN trong 5 năm đầu, sau đó giảm dần theo lộ trình khoảng 10 năm để tạo động lực đủ dài cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, chi phí logistics - từ vận chuyển, lưu kho đến phân phối - cần được hạ xuống, nhằm kéo giảm giá thành. Các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất cũng cần được triển khai để khuyến khích DN mở rộng đầu tư. Một yếu tố khác là cơ chế dự trữ và điều tiết thị trường. Trong đó, việc nâng năng lực dự trữ xăng dầu sẽ giúp ổn định nguồn cung trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời giảm áp lực điều hành trong ngắn hạn. Song song, nhà điều hành cần hoàn thiện hệ thống phân phối, mở rộng mạng lưới bán lẻ và có chính sách thương mại phù hợp để thúc đẩy tiêu thụ xăng sinh học…
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh: Quá trình chuyển dịch cơ cấu năng lượng là xu thế mang tính khách quan và tất yếu. Các nguồn năng lượng truyền thống như than đá, dầu mỏ đã được khai thác ở mức cao trong thời gian dài và đang dần tiến tới giới hạn. Không chỉ đối diện nguy cơ cạn kiệt, việc phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch còn kéo theo hệ lụy lớn về môi trường, đặc biệt là phát thải khí nhà kính và biến đổi khí hậu, những vấn đề đã trở thành mối quan tâm chung của toàn cầu.
Đối với VN, đây được xem là thời điểm thuận lợi để thúc đẩy mạnh mẽ các dạng năng lượng mới như điện gió, điện mặt trời, năng lượng sinh học, hydrogen hay amoniac. Tuy nhiên, để nhiên liệu sinh học thực sự phát triển, đặc biệt là xăng E10, cần có những chính sách đủ mạnh và đồng bộ. Đặc biệt xăng E10 cần có mức giá thấp hơn và đủ lớn so với xăng khoáng để kích thích người tiêu dùng chuyển đổi. Khi mức chênh lệch hấp dẫn, người dân sẽ chủ động lựa chọn, hình thành thói quen tiêu dùng mới và quá trình chuyển dịch này sẽ được đẩy nhanh.
Tin Gốc: Thanh Niên

