Trong Quy hoạch tổng thể Hà Nội tầm nhìn 100 năm trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội, thành phố định hướng sau năm 2030 sẽ có 198 cụm công nghiệp với diện tích 7.296 ha. Trong đó, Hà Nội giữ nguyên quy mô 73 cụm công nghiệp, mở rộng và quy hoạch 71 cụm, phát triển mới 54 cụm tiềm năng.
Thành phố tiếp tục di dời khu công nghiệp ô nhiễm khỏi trung tâm, thay thế bằng công trình hạ tầng xã hội đô thị; chuyển đổi các cụm công nghiệp thuộc ranh giới dự án đô thị thể thao quốc tế Hà Nội; đồng thời ưu tiên phát triển cụm công nghiệp chuyên ngành, gắn với các làng nghề truyền thống.
Trong tổng số 198 cụm công nghiệp được quy hoạch, Hà Nội xác định lộ trình thực hiện cụ thể cho từng nhóm nhằm bảo đảm tính kế thừa và phát triển bền vững:
Giữ nguyên quy mô: 73 cụm công nghiệp hiện hữu.
Mở rộng và quy hoạch lại: 71 cụm công nghiệp để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất.
Phát triển mới: 54 cụm công nghiệp tiềm năng tại các khu vực ngoại vi.
Định hướng phát triển sẽ ưu tiên các cụm công nghiệp chuyên ngành, gắn liền với lợi thế của các làng nghề truyền thống. Đáng chú ý, một số cụm công nghiệp nằm trong phạm vi dự án Đô thị thể thao quốc tế Hà Nội sẽ được chuyển đổi chức năng để phù hợp với định hướng phát triển không gian đô thị trong tương lai.
Quy hoạch mới phân bổ không gian công nghiệp theo mô hình các cực tăng trưởng, tạo động lực phát triển kinh tế cho từng khu vực cụ thể của Hà Nội:
Cực phía Bắc và Tây Bắc
Khu vực Sóc Sơn – Đông Anh, Hà Nội được định hướng trở thành trung tâm công nghiệp đầu mối quốc tế gắn với logistics. Bên cạnh các khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động như Nội Bài, Sóc Sơn, Đông Anh, Quang Minh và Thăng Long, thành phố sẽ bổ sung KCN Tiến Thắng cùng quỹ đất dự trữ quy mô hàng trăm héc-ta. Tại khu vực Ba Vì, Hà Nội, quy hoạch mới ghi nhận KCN Ba Vì với quy mô khoảng 310ha.
Cực phía Đông và phía Nam
Phía Đông thành phố sẽ tập trung vào công nghiệp hỗ trợ phục vụ xuất khẩu với trọng tâm là KCN Sài Đồng và phát triển mới KCN Phù Đổng (khoảng 370ha). Trong khi đó, khu vực phía Nam sẽ hình thành vùng công nghiệp hỗ trợ quy mô lớn với các dự án như KCN Bắc Phú Xuyên, Phụng Hiệp II, Khu hỗ trợ Nam Hà Nội và Xuân Dương.
Cực phía Tây
Khu vực này được định vị là trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thử nghiệm sản phẩm. Ngoài các KCN công nghệ cao như Hòa Lạc, Thạch Thất – Quốc Oai và Phú Nghĩa, thành phố dự kiến bổ sung KCN Phú Nghĩa II với quy mô khoảng 389ha.
Định hướng phát triển công nghiệp mới của Hà Nội cũng song hành với kế hoạch di dời các cơ sở sản xuất không còn phù hợp khỏi khu vực đô thị trung tâm.
Trước đó, tại Kỳ họp thứ 28 diễn ra vào cuối tháng 11, HĐND TP.Hà Nội đã thông qua nghị quyết ban hành danh mục các cơ sở phải di dời nhằm thực hiện Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.
Theo danh mục được phê duyệt, 57 cơ sở thuộc diện phải di dời, bao gồm 42 cơ sở sản xuất công nghiệp và 15 trụ sở cơ quan, đơn vị.
Trong nhóm doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có nhiều thương hiệu hoạt động lâu năm như Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, Công ty Bia Việt Hà, Công ty Sứ Viglacera Thanh Trì và Cụm công nghiệp Lai Xá.
Bên cạnh đó, danh sách các cơ quan, đơn vị phải di dời còn có Công ty CP Dây và Cáp điện Thượng Đình Cadisun, Công ty CP In Khoa học Kỹ thuật, Công ty CP Xây lắp và Cơ khí Cầu đường, Công ty CP Xây dựng Lắp máy Điện nước Hà Nội và Bệnh viện Đa khoa tư nhân Tràng An…
Việc mở rộng mạng lưới cụm công nghiệp, kết hợp với kế hoạch di dời các cơ sở sản xuất khỏi khu vực nội đô, được kỳ vọng sẽ góp phần tái cấu trúc không gian phát triển công nghiệp của Thủ đô theo hướng hiện đại, giảm áp lực cho khu vực trung tâm, đồng thời tạo thêm dư địa phát triển các cực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực thu hút đầu tư trong giai đoạn tới.
Trong báo cáo vừa gửi Chính phủ, Bộ Xây dựng cho biết: Cả nước đang có khoảng 2.801 km đường cao tốc đã và đang được phân kỳ đầu tư. Trong đó, khoảng 2.107 km (548 km đường 2 làn xe; 1.559 km đường 4 làn xe hạn chế) đã đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật; 694 km (105 km đường 2 làn xe; 589 km đường 4 làn xe hạn chế) đang thi công xây dựng.
Đối với 653 km các đoạn tuyến cao tốc 2 làn xe đã và đang được nghiên cứu đầu tư, nhu cầu vốn để mở rộng khoảng 80.007 tỉ đồng, trong đó nguồn vốn (ngân sách Nhà nước, nhà đầu tư) đã xác định khoảng 49.534 tỉ đồng; nhu cầu vốn ngân sách Trung ương cần bổ sung trong giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 30.473 tỉ đồng.
Qua kết quả nghiên cứu của các địa phương, chủ đầu tư, nhu cầu vốn để mở rộng các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế theo quy mô quy hoạch (4 - 8 làn xe) khoảng 414.580 tỉ đồng.
Khẳng định việc đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc phân kỳ là cần thiết, song, Bộ Xây dựng cho rằng sẽ khó khăn khi triển khai mở rộng ngay, đồng loạt các tuyến cao tốc đã được phân kỳ 4 làn xe hạn chế như: phải thi công lại một số hạng mục mới hoàn thành (thảm lại mặt đường; dịch chuyển dải phân cách giữa, lưới chống chói; lắp đặt lại tôn lượn sóng, cọc tiêu, biển báo, đào mái taluy…
Mặt khác, các tuyến cao tốc đầu tư công sẽ thu phí hoàn vốn nếu việc điều tiết giao thông hợp lý thì việc tính toán thời điểm mở rộng các cao tốc phân kỳ có thể xem xét vào thời điểm thích hợp.
Trường hợp đầu tư mở rộng bằng phương thức PPP, Bộ Xây dựng cho rằng nếu áp dụng thu phí đồng loạt các tuyến cao tốc có thể tác động đáng kể đến chi phí logistics của nền kinh tế nên cần có thời gian nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng để cân nhắc hình thức đầu tư bảo đảm hiệu quả nhất, đặc biệt trên các tuyến quan trọng như cao tốc Bắc - Nam phía Đông.
Ngoài ra, các tuyến cao tốc phân kỳ đầu tư 4 làn xe hạn chế đã được thiết kế đáp ứng nhu cầu vận tải từ 6 - 10 năm hoặc lớn hơn. Trường hợp yêu cầu mở rộng đáp ứng quy chuẩn đường cao tốc, các tuyến có quy mô quy hoạch 6 - 8 làn xe sẽ được xem xét mở rộng ngay lên quy mô quy hoạch để tránh việc mở rộng nhiều lần (tránh việc mở rộng thêm 2 dải dừng xe khẩn cấp liên tục, thời gian sau tiếp tục mở rộng lên quy mô quy hoạch). Khi đó, việc mở rộng các tuyến cao tốc 4 làn hạn chế lên quy mô 6 - 8 làn theo quy hoạch sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải trong dài hạn.
Từ thực tế trên, Bộ Xây dựng kiến nghị cần ưu tiên mở rộng ngay các tuyến cao tốc 2 làn xe lên quy mô cao tốc hoàn chỉnh để bảo đảm an toàn giao thông, tránh ùn tắc gây tắc nghẽn lưu thông hàng hóa, hành khách, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương.
"Trong quá trình nghiên cứu đầu tư mở rộng, các địa phương cần rà soát, tính toán kỹ lưỡng phương án đầu tư mở rộng để bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí," Bộ Xây dựng lưu ý.
Với các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế, cần giao các cơ quan chủ quản/cơ quan có thẩm quyền tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng dự án, tính toán đầy đủ chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội và chỉ quyết định đầu tư khi việc đầu tư mở rộng bảo đảm hạch toán hiệu quả.
Trên cơ sở đó, trước mắt, đối với đoạn tuyến cao tốc đang đầu tư PPP, Bộ Xây dựng, UBND các tỉnh/thành phố Hà Nội, Lạng Sơn, Lâm Đồng nghiên cứu chi tiết phương án đầu tư, xác định tổng mức đầu tư, phương án tài chính, cơ cấu nguồn vốn (vốn ngân sách địa phương, ngân sách Trung ương, vốn huy động của nhà đầu tư) để mở rộng các tuyến cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng, Dầu Giây - Tân Phú - Bảo Lộc - Liên Khương, Vành đai 4 Hà Nội bảo đảm hạch toán hiệu quả, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Đối với các đoạn tuyến đầu tư công, mức độ ưu tiên sẽ được xác định cụ thể đối với từng dự án trên cơ sở kết quả kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả tài chính, trong đó nghiên cứu toàn diện các yếu tố về: dự báo nhu cầu vận tải, hiện trạng đoạn tuyến, điều kiện thi công, khả năng huy động vốn...
Bộ Xây dựng kiến nghị cấp có thẩm quyền giao Bộ Tài chính xem xét, cân đối vốn ngân sách Trung ương đối với các dự án đầu tư mở rộng có nghiên cứu chi tiết, bảo đảm hạch toán hiệu quả làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư mở rộng các đoạn tuyến.
Ngày 5.5, Bộ Tài chính công bố bảng tổng hợp, giải trình ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định của Nghị định 68/2026 về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Trong đó, UBND tỉnh Nghệ An đề xuất Ban soạn thảo xem xét việc quy định ngưỡng doanh thu áp dụng cho từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Lý do tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của từng nghề, lĩnh vực kinh doanh là khác nhau. Bên cạnh đó, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung thêm quy định về xác định doanh thu của hộ kinh doanh có hành vi chia tách thành nhiều hộ kinh doanh (căn cứ vào các yếu tố: địa điểm kinh doanh, ngành nghề,mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh, dòng tiền và các dấu hiệu liên kết khác) nhằm hạn chế việc lợi dụng kẽ hở chính sách để tránh thuế.
Trả lời góp ý này, Bộ Tài chính cho biết, luật Thuế Thu nhập cá nhân quy định 1 mức doanh thu không chịu thuế thu nhập cá nhân; tại luật Thuế giá trị gia tăng cũng chỉ quy định 1 mức doanh thu để xác định đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Việc quy định 1 mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, không chịu thuế giá trị gia tăng đã thực hiện ổn định thời gian qua. Quy định này đảm bảo thống nhất, công bằng một cách tương đối cho các đối tượng nộp thuế. Mức miễn thuế là mức doanh thu phát sinh từ đầu nên chênh lệch về thu nhập ở mức này giữa các ngành nghề, lĩnh vực là không lớn. Khi doanh thu đến mức chịu thuế, thu nhập giữa các ngành nghề/lĩnh vực có sự chênh lệch lớn thì luật Thuế thu nhập cá nhân và luật Thuế giá trị gia tăng đã có quy định mức thuế suất khác nhau để điều tiết cho phù hợp với từng loại hình. Cụ thể, đối với lĩnh vực phân phối, cung cấp hàng hóa thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 0,5%, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 1%; đối với lĩnh vực dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 2%,tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 5%; đối với lĩnh vực sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1,5%, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 3% và đối với hoạt động kinh doanh khác tỷ lệ này lần lượt là 1% và 2%.
Bộ Tài chính nhấn mạnh: thay vì quy định mức doanh thu miễn thuế khác nhau, đối với từng ngành nghề/lĩnh vực, luật đã quy định tỷ lệ thuế tính trên doanh thu (%) khác nhau cho từng nhóm ngành. Việc quy định 1 mức doanh thu, không phân biệt theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đảm bảo thống nhất và cũng tương đồng với kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
Quý I.2026 đánh dấu bước ngoặt lớn của Masan High-Tech Materials khi doanh nghiệp ghi nhận doanh thu đạt 2.993 tỉ đồng, tăng 115% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 537 tỉ đồng, mức lợi nhuận ròng theo quý cao nhất từ trước đến nay. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ mảng vonfram với doanh thu đạt 2.445 tỉ đồng, tăng tới 218% so với quý I.2025.
Đà tăng trưởng được kỳ vọng tiếp tục nối dài sang quý II. Theo ước tính sơ bộ dựa trên kết quả tháng 4, lợi nhuận quý II.2026 của MSR có thể đạt khoảng 690 tỉ đồng. Từ nửa cuối năm, triển vọng còn tích cực hơn khi sản lượng quặng xử lý phục hồi và tăng mạnh từ quý III sau điều chỉnh giấy phép khai thác bổ sung 28 triệu tấn.
Tuy nhiên, khác với mặt bằng giá APT hiện đang dao động trong khoảng 2.000 - 3.000 USD/mtu, doanh nghiệp xây dựng kế hoạch năm 2026 dựa trên kịch bản thận trọng hơn, với giả định giá khoảng 1.200 USD/mtu.
Trên cơ sở đó, MSR đặt mục tiêu doanh thu năm 2026 đạt khoảng 16.000 - 20.300 tỉ đồng, tương ứng mức tăng gần gấp 3 lần so với năm trước. Lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 1.700 - 2.500 tỉ đồng, tương đương mức tăng trưởng từ 150 đến 220 lần so với năm 2025.
Đà tăng mạnh của giá vonfram đang tạo điều kiện thuận lợi để MSR cải thiện biên lợi nhuận, trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu chịu tác động từ các chính sách kiểm soát khai thác và xuất khẩu của Trung Quốc. Giá ammonium paratungstate (APT), sản phẩm vonfram trung gian, tăng gấp 10 lần, từ khoảng 315 USD/mtu đầu năm 2025 lên hơn 3.100 USD/mtu đầu năm 2026.
Khi giá bán tăng, khả năng tạo dòng tiền của doanh nghiệp cũng được cải thiện đáng kể. Tại Đại hội đồng cổ đông MSR 2026, ban lãnh đạo cho biết, cứ mỗi 100 USD tăng thêm so với mức giá giả định 1.164 USD/mtu sẽ giúp doanh thu MSR tăng khoảng 50 triệu USD và lợi nhuận sau thuế tăng thêm khoảng 10 triệu USD.
Xa hơn, trong giai đoạn 2027 - 2033, lợi nhuận của MSR có thể vượt 500 triệu USD mỗi năm ngay cả khi giả định giá APT chỉ ở mức 1.500 USD.
MSR bước vào giai đoạn hội tụ nhiều yếu tố hỗ trợ. Triển vọng tăng trưởng dài hạn được củng cố trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu đối với khoáng sản chiến lược gia tăng mạnh, nhờ làn sóng đầu tư vào AI, bán dẫn và thiết bị điện tử, những lĩnh vực đòi hỏi vật liệu có độ bền, chịu nhiệt và độ chính xác cao.
Đáng chú ý, phần lớn chi phí vận hành và đầu tư cố định đã được thiết lập từ trước. Vì vậy, khi sản lượng và giá bán cùng tăng, phần doanh thu gia tăng có thể chuyển hóa thành lợi nhuận với tốc độ nhanh hơn. Nếu hoàn thành mục tiêu doanh thu hơn 20.300 tỉ đồng trong năm 2026, MSR sẽ nâng quy mô hoạt động lên gần gấp 3 lần so với giai đoạn trước.
Theo ban lãnh đạo chia sẻ: "Nếu giá APT duy trì ở mức 1.500 USD/mtu, công ty dự kiến đạt trạng thái tiền mặt ròng dương vào cuối năm 2027 hoặc thận trọng hơn là đầu năm 2028."
MSR cũng đang tiến gần hơn tới kế hoạch chuyển niêm yết từ UPCoM sang HOSE, bước đi có thể cải thiện thanh khoản, mở rộng tệp nhà đầu tư và tạo điều kiện để thị trường phản ánh đầy đủ hơn giá trị doanh nghiệp.
Khi chuỗi cung ứng khoáng sản chiến lược toàn cầu bước vào giai đoạn tái định hình, những doanh nghiệp sở hữu nguồn tài nguyên và năng lực chế biến sâu như MSR đang có cơ hội vươn lên vị thế mới. Trong bối cảnh đó, giai đoạn hiện tại có thể đánh dấu bước chuyển từ tăng trưởng chu kỳ sang tăng trưởng mang tính cấu trúc, mở ra dư địa phát triển dài hạn và bền vững hơn.