Hồ sơ dự thảo Nghị định quy định về hoạt động thông tin, báo chí của cơ quan báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam (thay thế Nghị định 88/2012) đang được Bộ Tư pháp thẩm định.
“Mọi hoạt động thông tin, báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam chỉ được phép tiến hành sau khi có sự chấp thuận của các cơ quan có thẩm quyền và tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam; phối hợp với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi diễn ra hoạt động”, dự thảo nêu rõ.
Cơ quan báo chí nước ngoài có nhu cầu lập Văn phòng thường trú tại Việt Nam gửi hồ sơ trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính, trực tuyến hoặc thư điện tử đến Bộ Ngoại giao hoặc qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Trong thời hạn 40 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Ngoại giao sẽ cấp giấy phép lập Văn phòng thường trú tại Việt Nam cho cơ quan báo chí nước ngoài nếu được chấp thuận.
Trưởng văn phòng thường trú là người đứng đầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về toàn bộ hoạt động của văn phòng cũng như các thành viên của văn phòng.
Văn phòng thường trú được phép đặt trụ sở thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi có sự đồng ý của Bộ Ngoại giao.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến chấp thuận của Bộ Ngoại giao bằng văn bản giấy hoặc văn bản điện tử, phóng viên thường trú của Văn phòng thường trú đến Bộ Ngoại giao trao thư bổ nhiệm của cơ quan báo chí nước ngoài và nhận giấy phép lập Văn phòng thường trú tại Việt Nam.
Việc cấp, gia hạn, từ chối cấp hoặc hủy thị thực, thẻ tạm trú đối với phóng viên thường trú được thực hiện theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
Phóng viên thường trú được xem xét cấp, gia hạn thị thực hoặc thẻ tạm trú sau khi được Bộ Ngoại giao cho phép hoặc tiếp tục hưởng quy chế phóng viên thường trú tại Việt Nam.
Dự thảo nêu, phóng viên thường trú được Bộ Ngoại giao cấp thẻ phóng viên thường trú, có thời hạn phù hợp với thời hạn thị thực nhập – xuất cảnh của phóng viên.
Khi phóng viên thường trú kết thúc thời gian hoạt động tại Việt Nam, Văn phòng thường trú thông báo cho Bộ Ngoại giao bằng văn bản giấy hoặc văn bản điện tử ít nhất 15 ngày làm việc trước khi phóng viên chấm dứt hoạt động và nộp lại Thẻ phóng viên nước ngoài cho Bộ Ngoại giao trước khi phóng viên xuất cảnh Việt Nam.
Ngoài ra, phóng viên nước ngoài (không thường trú) có yêu cầu hoạt động thông tin, báo chí tại Việt Nam gửi một bộ hồ sơ đề nghị trực tuyến, qua dịch vụ bưu chính, trực tiếp hoặc thư điện tử đến Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự… ít nhất 10 ngày làm việc trước ngày dự định vào Việt Nam. Trong trường hợp được chấp thuận, Bộ Ngoại giao sẽ đồng thời cấp giấy phép hoạt động báo chí (bản điện tử) cho phóng viên không thường trú.
Sau khi nhập cảnh Việt Nam, phóng viên nước ngoài cần tuân thủ theo hướng dẫn của các cơ quan chức năng được Bộ Ngoại giao chấp thuận, chủ trì đón và hướng dẫn phóng viên.
Cơ quan chức năng được Bộ Ngoại giao chấp thuận chịu trách nhiệm hướng dẫn phóng viên không thường trú hoạt động đúng mục đích và chương trình đã được cấp phép.
Khi hoạt động thông tin, báo chí tại Việt Nam, phóng viên không thường trú mang theo giấy phép hoạt động báo chí cho phóng viên không thường trú (bản điện tử hoặc bản in từ bản điện tử) do Bộ Ngoại giao cấp và hộ chiếu (bản chính), hoạt động theo đúng mục đích và chương trình đã được ghi trong giấy phép.
30 hãng thông tấn báo chí nước ngoài đang hoạt động
Tại hồ sơ gửi tới Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao cho biết hiện có 30 hãng thông tấn báo chí nước ngoài mở 31 Văn phòng thường trú báo chí tại Việt Nam, bao gồm 42 phóng viên nước ngoài thường trú và 44 trợ lý báo chí người Việt Nam.
Ngoài ra, từ năm 2012 đến nay, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp đón 2.882 đoàn với 30.244 phóng viên nước ngoài không thường trú từ các nước vào Việt Nam để hoạt động thông tin báo chí ngắn hạn; chương trình, địa điểm tác nghiệp đa dạng trải dài trên hầu hết các địa phương.
“Các sản phẩm truyền thông của phóng viên nước ngoài ngày càng khách quan, cân bằng hơn, phản ánh đa dạng về tình hình Việt Nam. Báo chí nước ngoài quan tâm phản ánh các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, gần đây là công cuộc sáp nhập, tinh gọn, phòng chống tham nhũng; chính sách đối ngoại, phát triển kinh tế – xã hội; môi trường đầu tư, văn hóa, du lịch, ẩm thực, góp phần quảng bá tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam tới bạn bè quốc tế”, Bộ Ngoại giao đánh giá.
Chiều 1.6, Thủ tướng Lê Minh Hưng, Trưởng đoàn Kiểm tra, giám sát số 4 của Bộ Chính trị chủ trì hội nghị thông qua dự thảo Báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát (đợt 2) của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng.
Theo Thủ tướng, Hải Phòng là một trong những tỉnh, thành phố đã đạt được nhiều kết quả tích cực, có nhiều bài học kinh nghiệm tốt cần được đánh giá và nhân rộng.
Đặc biệt, thành phố đã chủ động cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính cao hơn nhiều yêu cầu của Trung ương. Theo đó, Trung ương yêu cầu cắt giảm 30%, nhưng Hải Phòng đã chủ động cắt giảm tới 50%; thời gian tuân thủ hiện vẫn đang tiếp tục được rà soát cắt giảm thêm.
"Trung ương xây dựng thể chế, chính sách, địa phương thực thi, nhưng môi trường kinh doanh có được cải thiện, có thu hút được nhà đầu tư hay không, phụ thuộc rất nhiều vào thủ tục hành chính ở địa phương và năng lực thực thi của các sở ngành, của các xã phường", Thủ tướng nhấn mạnh.
Về tăng trưởng kinh tế, Hải Phòng có tốc độ tăng trưởng GRDP liên tục đạt hai con số trong nhiều năm, riêng năm 2025 xấp xỉ đạt 11,9%, xếp thứ 2 cả nước. Quý 1/2026, kinh tế ước tăng 11,21%, tuy chưa đạt mục tiêu kịch bản đề ra (12%) nhưng đây vẫn là con số rất cao, đứng thứ 3 cả nước và dẫn đầu 6 thành phố trực thuộc Trung ương.
Đặc biệt, Hải Phòng nằm trong nhóm 5 địa phương có chất lượng điều hành kinh tế tốt nhất cả nước theo đánh giá của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Thủ tướng nêu rõ, bên cạnh những kết quả tích cực, cần nhìn nhận thẳng thắn những khó khăn, thách thức, hạn chế và những vấn đề cần hoàn thiện.
Về tăng trưởng kinh tế, người đứng đầu Chính phủ cho rằng, Hải Phòng hoàn toàn có thể khai thác tốt hơn nữa tiềm năng và lợi thế, đạt kết quả tăng trưởng kinh tế tốt hơn; đồng thời cần đánh giá kỹ lưỡng hơn về sự bền vững trong thu ngân sách.
"Hải Phòng chắc chắn phải là một trong những tỉnh, thành phố đi đầu và đóng góp cho cả nước trong đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng theo Nghị quyết 57", Thủ tướng nhấn mạnh. Cùng với đó, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, gắn với chuỗi cung ứng và chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cho doanh nghiệp trong nước…
Về thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026 từ 13 - 14% với Hải Phòng, Thủ tướng nêu rõ, cần tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết 226 của Quốc hội thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.Hải Phòng, đồng thời chủ động phối hợp với các bộ ngành Trung ương mạnh dạn đề xuất sửa đổi để tạo cơ chế rất mạnh cho Hải Phòng phát triển.
Thủ tướng cũng lưu ý, khẩn trương bàn giao mặt bằng triển khai dự án nhiệt điện khí Hải Phòng; phát triển mạnh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp trọng điểm như Tiên Lãng 1, Nam Đình Vũ, Khu công nghiệp và khu phi thuế quan Xuân Cầu…
Cùng đó, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhất là các dự án đường sắt qua địa bàn, cảng hàng không quốc tế Cát Bi (nhà ga T2), đường bộ cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đường kết nối Đông Tây của Hải Phòng. Phát huy thế mạnh cảng biển, xây dựng hệ thống logistics, kinh tế biển hiện đại, có kết nối cao trong nước và quốc tế, sớm hoàn thiện thủ tục xây dựng bến cảng tại khu cảng Lạch Huyện…
Thủ tướng cũng cho rằng, Hải Phòng cần triển khai hiệu quả chương trình nhà ở xã hội, đặc biệt là nhà ở cho thuê theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Phát triển tốt nguồn nhân lực và có cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao...
Tại tọa đàm giới thiệu kết quả nghiên cứu "Đánh giá nhanh thực trạng cung ứng dịch vụ công trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp" ngày 12/5, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong (MDRI) đã công bố báo cáo thực hiện trên gần 5.000 người dân toàn quốc, với hỗ trợ kỹ thuật của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP).
Theo báo cáo, phần lớn người dân đánh giá tích cực việc tinh gọn bộ máy và xóa bỏ tầng nấc hành chính trung gian. Trong các thay đổi được khảo sát, phương án không tổ chức cấp huyện nhận nhiều đánh giá tích cực liên quan khả năng tiếp cận dịch vụ công và liên hệ chính quyền.
Tuy vậy, nghiên cứu cũng ghi nhận nhiều trải nghiệm chưa thuận lợi trong giai đoạn chuyển tiếp, đặc biệt ở cấp xã, nơi đang tiếp nhận thêm khối lượng công việc lớn hơn trước.
Phát biểu tại tọa đàm, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cho rằng chất lượng dịch vụ công không chỉ nằm ở việc "đúng quy trình". "Một hệ thống tốt không phải là không bao giờ có vướng mắc mà là phát hiện sớm các vướng mắc, phản ứng nhanh, sửa sai kịp thời và không để người dân phải gánh chi phí vì sự thiếu đồng bộ", ông nói.
Khảo sát cho thấy trải nghiệm làm thủ tục hành chính tại cấp xã nhìn chung ở mức khá tích cực, với điểm hài lòng trung bình 4,1 trên thang 5; khoảng 94% người dân cho biết nhận kết quả đúng hẹn và hơn 91% đánh giá cán bộ "thạo việc".
Tuy nhiên, cơ chế một cửa vẫn chưa thực sự thông suốt ở một số lĩnh vực, đặc biệt là đất đai. Khoảng 26,27% người làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho biết vẫn phải đi qua nhiều cửa hoặc gặp nhiều người mới hoàn thành thủ tục; chỉ 71,1% nhận kết quả đúng hẹn và 12% phải sử dụng "cò" hoặc trung gian hỗ trợ, cao hơn 10 điểm phần trăm so với thủ tục hành chính khác.
Bên cạnh áp lực hồ sơ tăng lên, cấp xã còn đối mặt thách thức lớn về chuyển đổi số. Từ 1/7/2025, Cổng Dịch vụ công quốc gia trở thành đầu mối duy nhất cung cấp dịch vụ công trực tuyến thay cho các cổng cấp tỉnh. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy chỉ 21,8% người dân từng sử dụng cổng này sau thời điểm chuyển đổi. Khoảng 27% gặp khó khăn trong quá trình sử dụng và gần 34% lo ngại về bảo mật dữ liệu cá nhân.
Khoảng cách số giữa các nhóm dân cư cũng hiện rõ. Tỷ lệ sử dụng Cổng Dịch vụ công quốc gia ở nhóm thu nhập cao nhất đạt 41,18%, trong khi nhóm thu nhập thấp nhất chỉ 6,88%. Ở nhóm 18-34 tuổi, tỷ lệ sử dụng là 40,86%, cao gần 4 lần nhóm trên 60 tuổi.
Nghiên cứu tại Hưng Yên cho thấy nhiều cán bộ cấp xã phải trực tiếp hướng dẫn người dân đăng nhập VNeID, kê khai hồ sơ hoặc thực hiện thủ tục trực tuyến do nhiều người lớn tuổi, lao động phổ thông chưa quen thao tác số. Một số nơi còn xảy ra tình trạng hệ thống chậm, lỗi xác thực OTP hoặc dữ liệu chưa đồng bộ.
Đặc biệt, nhóm người khuyết tật đang gặp nhiều rào cản trong tiếp cận dịch vụ công số. Chỉ 6,4% người khuyết tật cho biết từng sử dụng Cổng Dịch vụ công quốc gia, thấp hơn nhiều so với mức 21,8% của nhóm không khuyết tật.
Theo UNDP, quá trình cải cách chỉ thực sự hiệu quả nếu lấy người dân làm trung tâm và bảo đảm khả năng tiếp cận của các nhóm yếu thế. "Cốt lõi của cải cách là đưa chính quyền gần dân hơn, nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ ngay từ cấp cơ sở", bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, nói.
Báo cáo cũng ghi nhận nhiều áp lực đối với các dịch vụ công thiết yếu khác. Sau ngày 1/7/2025, khoảng 34,47% người được hỏi cho biết khám chữa bệnh tại bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố, trong khi tỷ lệ đến trạm y tế xã, phường chỉ 1,4%.
Trong giáo dục tiểu học công lập, tình trạng lớp đông và thiếu hạ tầng hỗ trợ học sinh khuyết tật vẫn là điểm yếu. Gần 30% người được hỏi cho biết trường học không có đường dốc hoặc tay vịn cho học sinh đi xe lăn.
Theo nhóm nghiên cứu, chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp "không chỉ là thay đổi về tổ chức mà là sự tái cấu trúc toàn diện cách thức vận hành của hệ thống hành chính". Điều này đồng nghĩa hiệu quả cải cách sẽ phụ thuộc lớn vào năng lực thực thi của cấp cơ sở, nơi đang phải gánh thêm trách nhiệm và kỳ vọng phục vụ người dân trong bối cảnh nhân lực, hạ tầng số và cơ chế phối hợp chưa hoàn toàn đồng bộ.
Ngày 11-4, ông Đỗ Tâm Hiển - Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi - cho biết đoàn công tác của tỉnh do ông dẫn đầu đã tiếp thu nhiều kinh nghiệm quan trọng trong thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế và cải cách hành chính tại Hải Phòng.
Quảng Ngãi - Hải Phòng có nhiều điểm tương đồng. Cả hai địa phương đều sở hữu các khu kinh tế trọng điểm quốc gia, gồm Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi) và Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng).
Tuy nhiên trong khi Hải Phòng duy trì tăng trưởng kinh tế hai con số suốt 10 năm liên tiếp và dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Quảng Ngãi vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tạo quỹ đất sạch.
"Tỉnh muốn trao đổi, thẳng thắn học hỏi những cách làm hay tại Hải Phòng để ứng dụng tại Quảng Ngãi, giải quyết những "nút thắt", giúp tăng tốc kinh tế biển, nơi có lợi thế không thua gì Hải Phòng", ông Hiển nói.
Tại buổi làm việc, ông Trần Văn Quân - Phó chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng - nhấn mạnh thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển mới với định hướng thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường và phát triển bền vững.
Đột phá chiến lược là xây dựng khu thương mại tự do, tạo lợi thế cạnh tranh trong thu hút dòng vốn quốc tế.
Một trong những mô hình nổi bật được đoàn công tác Quảng Ngãi quan tâm là Khu công nghiệp Nam Đình Vũ - khu công nghiệp lấn biển quy mô hơn 1.300ha, hiện đã thu hút khoảng 1,6 tỉ USD vốn FDI.
Khu công nghiệp này hội tụ nhiều yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư như hạ tầng đồng bộ, kết nối cảng biển, ưu đãi thuế và định hướng phát triển công nghiệp xanh.
Theo ông Đỗ Tâm Hiển, đây là mô hình thực tiễn quan trọng để tỉnh nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù trong quá trình xây dựng Trung tâm Lọc hóa dầu và Năng lượng quốc gia tại Dung Quất.
Bên cạnh đó đoàn công tác cũng khảo sát cảng container quốc tế Hateco Hải Phòng, cảng nước sâu hiện đại có diện tích 73ha, cầu bến dài 900m, có thể tiếp nhận cùng lúc hai tàu container trọng tải đến 200.000 DWT. Đây là cửa ngõ quan trọng kết nối hàng hóa Việt Nam với các tuyến vận tải biển quốc tế.
Trong khi đó hệ thống cảng biển tại Dung Quất dù đã phục vụ tốt công nghiệp nặng nhưng vẫn cần tiếp tục đầu tư mở rộng, nâng cao năng lực khai thác.
Lãnh đạo Quảng Ngãi bày tỏ mong muốn thu hút các nhà đầu tư lớn tham gia phát triển hạ tầng cảng biển, hình thành chuỗi logistics đồng bộ.
Một nội dung quan trọng khác là cải cách hành chính. Ông Đỗ Tâm Hiển đánh giá cao quy trình xử lý công việc chuyên nghiệp, nhanh gọn của chính quyền Hải Phòng, yếu tố then chốt giúp cải thiện môi trường đầu tư. Đây cũng là điểm mà Quảng Ngãi xác định cần tập trung cải thiện trong thời gian tới.
Chuyến công tác được kỳ vọng không chỉ dừng lại ở việc học hỏi kinh nghiệm, mà còn mở ra cơ hội hợp tác lâu dài giữa hai địa phương có vị trí chiến lược về kinh tế biển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
"Có nhiều cách làm hay từ Hải Phòng mà Quảng Ngãi cần học hỏi để phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đây là chuyến công tác quý giá, học hỏi để "điều trị trúng đích" những vấn đề tỉnh còn hạn chế. Cảm ơn lãnh đạo TP Hải Phòng đã thẳng thắn chia sẻ", ông Hiển nói.