Bộ Tài chính vừa có bảng giải trình dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thuế bảo vệ môi trường, giá trị gia tăng (VAT), tiêu thụ đặc biệt với các mặt hàng xăng dầu.
Cơ quan soạn thảo đồng ý với đề xuất của Bộ Công Thương về bổ sung dầu hỏa, mazut vào diện không chịu thuế VAT, bảo vệ môi trường. Hai mặt hàng này không được đề xuất giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, do không thuộc diện chịu thuế.
Hiện thuế bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt với các loại thuế với xăng (trừ ethanol), dầu diesel và nhiên liệu bay là 0, theo Quyết định 482 của Thủ tướng. Trong khi đó, dầu hỏa, mazut vẫn chịu thuế bảo vệ môi trường 1.000 đồng một lít, kg và VAT 10%.
Theo Bộ Công Thương, dầu hỏa chiếm tỷ trọng rất nhỏ (0,1%) trong tổng lượng xăng dầu tiêu thụ của nền kinh tế, nhưng khoảng 40% sản lượng mặt hàng này được sử dụng để thắp sáng tại các khu vực vùng sâu, xa.
Trong bối cảnh chiến sự xảy ra ở Trung Đông, giá dầu hỏa tăng rất cao, hiện là 35.380 đồng một lít, đắt hơn 83% so với cuối tháng 2. Trong hơn tháng qua, giá mặt hàng này có thời điểm vượt 40.000 đồng – mức kỷ lục ghi nhận từ trước đến nay.
Còn dầu mazut, mặt hàng này chiếm tỷ trọng 1,5% trong tổng lượng xăng dầu tiêu thụ, nhưng là nguyên liệu đầu vào sản xuất trong các ngành công nghiệp, vận tải như sản xuất điện (nhiệt điện), lò hơi công nghiệp, lò nung xi măng, gạch, thép, quá trình hóa dầu. Đây cũng là nguyên liệu chính cho tàu thủy, tàu chở hàng, tàu dầu cỡ lớn.
Tương tự dầu hỏa, giá mazut cũng biến động mạnh, hiện ở mức 21.740 đồng một kg, tăng khoảng 38% trong hơn một tháng qua.
Thuế bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt là các loại thuế gián thu, đánh vào hàng hóa, dịch vụ trong quá trình tiêu dùng. Việc các mức thuế xăng dầu về 0 sẽ giúp giảm trực tiếp chi phí của người dân, kéo giảm giá hàng hóa, dịch vụ, chi phí đi lại và sinh hoạt. Điều này góp phần cải thiện sức mua, ổn định đời sống, nhất là trong bối cảnh chi phí sinh hoạt tăng.
Dự thảo Nghị quyết về giảm thuế với các mặt hàng xăng dầu dự kiến được trình Quốc hội tại kỳ họp khai mạc ngày 6/4. Chính sách này dự kiến có hiệu lực tới hết tháng 6, khi được Quốc hội thông qua.
Chiều 23-6, Báo Lao Động tổ chức hội thảo "Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh - động lực cho tăng trưởng kinh tế".
Phát biểu tại sự kiện, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước - cho biết hiện có 82 tổ chức tín dụng triển khai cho vay tín dụng xanh, với dư nợ đạt hơn 828.000 tỉ đồng, tăng 4,6 lần so với năm 2017 - thời điểm bắt đầu triển khai.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh bình quân đạt trên 20% mỗi năm.
Nguồn vốn tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm khoảng 32% tổng dư nợ tín dụng xanh. Lĩnh vực năng lượng xanh chiếm trên 30%.
Tuy nhiên, theo bà Giang, việc triển khai tín dụng xanh còn gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi xanh là rất lớn, trong khi khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng còn hạn chế do chênh lệch giữa tín dụng và huy động vốn.
Để thúc đẩy dòng vốn này trở thành động lực tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ ban hành nghị định quy định chính sách hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách nhà nước.
Chính sách dự kiến áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh vay vốn tại ngân hàng thương mại để thực hiện các dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn.
Việc triển khai sẽ được thực hiện sau khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hướng dẫn về tiêu chí xác định dự án xanh, dự án kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Bùi Thanh Minh - Phó giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, dù tín dụng xanh tăng trưởng nhanh, bình quân trên 20% mỗi năm, nhưng tỉ trọng của dòng vốn này trong tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế mới đạt khoảng 4,2 - 4,5%.
Ông Minh cho rằng doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều rào cản khi tiếp cận tín dụng xanh. Để đủ điều kiện vay, doanh nghiệp phải chuẩn hóa quy trình, xây dựng dữ liệu và thay đổi mô hình kinh doanh theo hướng đáp ứng các tiêu chí xanh.
"Phần lớn các khoản tín dụng xanh hiện vẫn tập trung vào các dự án quy mô lớn và các tập đoàn", ông Minh nói.
Cùng quan điểm, ông Bùi Khánh Dũng - Giám đốc Công ty TNHH MTV Musa Pacta - cho rằng dòng tín dụng xanh còn khá xa vời với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để tiếp cận tín dụng xanh, theo ông Dũng, doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực tư nhân cần có bộ tiêu chí xanh rõ ràng. Qua đó, doanh nghiệp có thể tự xác định đang ở đâu và cần đáp ứng những điều kiện gì.
Ông Minh đề xuất cần có cơ chế hỗ trợ thực chất để doanh nghiệp nhỏ tham gia chuyển đổi xanh. Trong đó, chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cần sớm được ban hành và triển khai, giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn trong quá trình đầu tư, chuyển đổi mô hình sản xuất - kinh doanh theo hướng xanh, bền vững.
Chính phủ vừa có Nghị quyết 15 ngày 6/4 hoãn thực hiện Nghị định 46, Nghị quyết 66 về công bố, đăng ký thực phẩm cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn mới có hiệu lực.
Trong thời gian ngưng hiệu lực 2 văn bản trên, Nghị định 15/2018 của Chính phủ quy định một số điều của luật An toàn thực phẩm và các văn bản hướng dẫn tiếp tục có hiệu lực. Các hồ sơ nộp trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực được tiếp tục giải quyết theo Nghị định 15/2018.
Bộ Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường được giao hướng dẫn thi hành theo lĩnh vực quản lý. Họ cũng phải rà soát Luật An toàn thực phẩm năm 2010 để đề xuất các nội dung sửa đổi.
Các cơ quan liên quan hoàn thiện kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng dịch vụ công quốc gia để thống nhất dữ liệu từ Trung ương đến địa phương. Các cơ quan này phải tăng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý sản phẩm thực phẩm nhằm tăng khả năng giám sát, truy xuất nguồn gốc, phát hiện sớm rủi ro.
Ngoài ra, Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Y tế kiểm tra việc công bố, quảng cáo và điều kiện sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Bộ Công Thương giám sát kinh doanh, xử lý thực phẩm giả, hàng lậu và gian lận trên thương mại điện tử. Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý hoạt động công nhận, phòng thử nghiệm và hoàn thiện tiêu chuẩn thực phẩm. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý hoạt động quảng cáo thực phẩm.
Nghị định 46, Nghị quyết 66 hướng dẫn thực hiện Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực từ 26/1. Quy định mới đặt ra nhiều yêu cầu quản lý chặt chẽ hơn, đặc biệt với thực phẩm nhập khẩu, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và hoạt động kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, việc thiếu các văn bản hướng dẫn khiến hoạt động nhập khẩu thực phẩm, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thực phẩm rơi vào tình trạng ách tắc trên phạm vi cả nước.
Cuối tháng 1, hàng nghìn container hàng hóa bị "tắc" tại cửa khẩu, cảng biển do vướng mắc khi thực hiện các quy định này. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại họp báo thường kỳ ngày 5/2, trong 4 ngày (26/1-29/1), trên 700 lô hàng nhập khẩu, tương đương khoảng 300.000 tấn bị ùn ứ tại các cửa khẩu, cảng. Các mặt hàng bị ảnh hưởng chủ yếu là nông sản tươi, sản phẩm sơ chế có nguồn gốc thực vật như rau, củ, quả, gạo, lúa, sắn, cùng một số thực phẩm đã qua chế biến, đóng gói sẵn.
Sau đó hơn một tuần, Chính phủ đồng ý lùi thực hiện cả hai văn bản trên đến ngày 15/4. Trong thời gian này, các quy định về an toàn thực phẩm với thực phẩm, nông sản nhập khẩu thực hiện theo quy định cũ (Nghị định 15).
Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, dự kiến được trình Quốc hội vào kỳ họp tháng 10 tới. Sau đó, các Nghị định hướng dẫn sẽ được ban hành. Tại hội nghị đầu tháng 2, nhiều hiệp hội kiến nghị bãi bỏ Nghị định 46, Nghị quyết 66 trong thời gian chờ luật mới. Về việc sửa luật và các quy định sắp tới, giới chuyên môn cũng cho rằng cơ quan quản lý chỉ nên đưa ra các thủ tục mới khi chứng minh được hiệu quả về cải thiện an toàn thực phẩm và không làm đứt gãy sản xuất, kinh doanh, cũng như được tham vấn đánh giá tác động đầy đủ.
Tại dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân vừa trình Chính phủ, Bộ Tài chính đề xuất nâng ngưỡng thu nhập phải khấu trừ thuế 10% đối với lao động không ký hợp đồng hoặc hợp đồng dưới 3 tháng từ 2 triệu đồng/lần lên 5 triệu đồng/lần.
Theo đó, tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ 5 triệu đồng/lần trở lên cho lao động thời vụ, cộng tác viên hoặc người không ký hợp đồng lao động sẽ phải tạm khấu trừ 10% trước khi chi trả. Với khoản thu nhập dưới 5 triệu đồng/lần, việc khấu trừ chỉ thực hiện nếu cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất nguồn thu nhập thuộc diện khấu trừ 10% nhưng tổng thu nhập sau giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì có thể làm cam kết để tạm thời chưa bị khấu trừ thuế.
Ban đầu, Bộ Tài chính đề xuất nâng ngưỡng khấu trừ từ 2 triệu đồng lên 3 triệu đồng/lần. Tuy nhiên, sau quá trình lấy ý kiến, mức này được nâng lên 5 triệu đồng/lần. Quy định hiện hành đã được áp dụng từ năm 2013 đến nay.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, cho rằng việc duy trì cơ chế khấu trừ thuế 10% đối với lao động không ký hợp đồng hoặc hợp đồng dưới 3 tháng đang tạo ra nhiều bất cập trong thực tế.
Theo ông Tuấn, quy định hiện hành khiến doanh nghiệp phải phân biệt giữa hai cách tính thuế: lao động ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần, trong khi lao động thời vụ hoặc không ký hợp đồng lại bị khấu trừ cố định 10% trên tổng thu nhập. Dù vậy, khi quyết toán cuối năm, toàn bộ thu nhập của các cá nhân vẫn được tính lại theo biểu thuế lũy tiến.
Ông cho rằng nếu bỏ cơ chế khấu trừ 10% và áp dụng thống nhất cách tính thuế lũy tiến cho mọi khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công thì chính sách thuế sẽ đơn giản và hợp lý hơn.
“Người lao động và doanh nghiệp sẽ không còn phải phân biệt trường hợp nào tính thuế 10%, trường hợp nào tính thuế lũy tiến. Đồng thời, mẫu cam kết 08/CK-TNCN cũng không còn cần thiết, giúp giảm đáng kể thủ tục hành chính”, ông Tuấn nói.
Vị chuyên gia dẫn ví dụ, hiện nay một lao động thời vụ nhận 5 triệu đồng/lần có thể bị khấu trừ ngay 500.000 đồng tiền thuế theo tỷ lệ 10%, dù sau khi giảm trừ gia cảnh thực tế chưa đến mức phải nộp thuế. Trong khi đó, nếu áp dụng biểu thuế lũy tiến, trường hợp này có thể không phát sinh số thuế phải nộp.
Ngược lại, với người có thu nhập cao, cách tính 10% đôi khi lại thấp hơn số thuế thực tế phải nộp theo biểu lũy tiến. Chẳng hạn, người nhận 50 triệu đồng từ công việc thời vụ hiện chỉ bị tạm khấu trừ 5 triệu đồng, nhưng nếu tính theo biểu lũy tiến sau giảm trừ gia cảnh thì số thuế phải nộp có thể cao hơn.
Ngoài ra, ông Tuấn cho rằng quy định hiện hành còn tạo ra bất hợp lý khi mức khấu trừ 10% được tính trên tổng thu nhập chi trả, bao gồm cả các khoản được miễn thuế như tiền ăn giữa ca hay tiền làm thêm giờ.
“Theo cách tính hiện nay, ngay cả phần thu nhập được miễn thuế cũng bị tạm khấu trừ 10%, gây thiệt thòi cho người lao động”, ông Tuấn nhận định.
Theo ông, nếu bỏ cơ chế khấu trừ 10%, số lượng hồ sơ hoàn thuế cuối năm cũng sẽ giảm đáng kể, qua đó giúp giảm áp lực xử lý cho cơ quan thuế, đồng thời tiết kiệm thời gian và chi phí tuân thủ cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động.