Phát biểu tại Hội thảo “Quản lý thuế theo dòng tiền: Dòng tiền rõ ràng, kinh doanh an tâm, thuế minh bạch” ngày 20/5 do báo Tiền Phong phối hợp Cục Thuế (Bộ Tài chính) tổ chức, ông Đặng Ngọc Minh, Phó Cục trưởng Cục Thuế, cho biết sự bùng nổ của công nghệ số, thương mại điện tử, kinh tế nền tảng và các mô hình kinh doanh mới đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội.
Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh, giúp dòng tiền trong nền kinh tế được luân chuyển thông qua hệ thống ngân hàng, các trung gian thanh toán, ví điện tử, cổng thanh toán trực tuyến và nhiều nền tảng công nghệ khác.
Theo lãnh đạo Cục Thuế, những thay đổi này đặt ra không ít thách thức đối với công tác quản lý nhà nước, quản lý thuế. “Hiện nhiều hoạt động kinh doanh được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số, các giao dịch phát sinh nhanh, quy mô lớn và có tính xuyên biên giới. Nếu chỉ dựa vào phương thức quản lý truyền thống chủ yếu dựa trên kê khai thuế, hồ sơ kế toán và công tác hậu kiểm thì trong một số trường hợp chưa phản ánh đầy đủ bản chất của các giao dịch kinh tế”, ông Minh nói.
Theo lãnh đạo Cục Thuế, việc triển khai hóa đơn điện tử đã tạo ra nguồn dữ liệu rất lớn về các giao dịch kinh tế. Tuy nhiên, còn nhiều tổ chức, cá nhân phát sinh giao dịch thường xuyên, giá trị lớn thông qua tài khoản ngân hàng, nền tảng số, trung gian thanh toán, đơn vị vận chuyển… nhưng không thực hiện qua hệ thống hóa đơn điện tử hoặc kê khai đầy đủ.
Lãnh đạo Cục Thuế chỉ ra loạt chiêu né thuế
Ông Nguyễn Tiến Trung, Trưởng ban Kiểm tra thuế (Cục Thuế), chỉ ra một số hình thức các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện có tiềm ẩn những dấu hiệu rủi ro về dòng tiền đối với công tác quản lý thuế.
Hình thức thứ nhất là thông qua hợp đồng vay vốn nội bộ. Theo đó, công ty mẹ chuyển tiền cho công ty con thông qua các hợp đồng vay vốn với lãi suất cao bất thường hoặc ngược lại cho vay với lãi suất thấp hoặc thậm chí không có lãi suất. Việc thông qua hợp đồng vay vốn nhằm mục đích điều chuyển tiền giữa các đơn vị (thông qua đó điều chuyển lợi nhuận, điều tiết doanh thu, chi phí) nhằm giảm lợi nhuận tính thuế đối với những đơn vị có phát sinh doanh thu.
Hình thức thứ 2 là công ty mẹ bán hàng cho công ty con với giá bất thường (nhằm mục đích chuyển lợi nhuận) hoặc ngược lại công ty con mua các dịch vụ từ công ty mẹ với giá không hợp lý thông qua hình thức là các dịch vụ quản lý, tư vấn, giám sát… nhằm điều chỉnh tăng chi phí và giảm thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, tăng khấu trừ đầu vào đối với thuế giá trị gia tăng (VAT).
Hình thức thứ 3 là thông qua các hợp đồng hợp tác đầu tư, góp vốn nhưng phân chia lợi nhuận không tương xứng với tỷ lệ vốn góp, qua đó chuyển lợi nhuận sang các đơn vị được hưởng ưu đãi thuế.
Hình thức thứ 4 là doanh nghiệp chuyển tiền cho doanh nghiệp (từ công ty mẹ sang công ty con hoặc ngược lại) hoặc chuyển tiền cho các cá nhân dưới hình thức là các khoản tạm ứng kéo dài không rõ mục đích hoặc các khoản tài trợ phi thương mại không có mục đích.
Một số hình thức khác nữa là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có phát sinh doanh thu, dòng tiền lớn thông qua hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, tuy nhiên không thực hiện đăng ký, kê khai nộp thuế.
Cùng lúc đó, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có thực hiện đăng ký thuế nhưng thực hiện phân chia doanh thu vào các tài khoản của cá nhân khác không phải tài khoản đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế nhằm mục đích che giấu dòng tiền, làm giảm nghĩa vụ kê khai nộp thuế.
Cục Thuế: Cần phối hợp quản lý thuế theo dòng tiền
Để triển khai hiệu quả quản lý thuế theo dòng tiền, Phó Cục trưởng Cục Thuế Đặng Ngọc Minh cho biết cần có sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan, đơn vị như Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, đơn vị trung gian thanh toán, vận chuyển…
Cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu cần được quy định rõ ràng, mang tính thường xuyên, tự động và theo thời gian thực. Khi đó, dữ liệu hóa đơn và thông tin dòng tiền từ nhiều nguồn sẽ tạo nên một hệ sinh thái về dòng tiền của người nộp thuế hoặc nhóm người nộp thuế.
Theo ông Minh, việc này giúp phát hiện sớm rủi ro, xác định đúng nghĩa vụ thuế thực tế phát sinh để chống thất thu ngân sách, đồng thời góp phần nâng cao tính minh bạch của nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh.
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) ghi nhận doanh thu thuần xấp xỉ 98.700 tỷ đồng trong quý đầu năm. Con số này gấp rưỡi cùng kỳ năm ngoái, đồng thời là mức cao nhất tính theo quý trong vòng 13 năm qua.
Tuy nhiên, sau khi trừ hết chi phí, Petrolimex lỗ hợp nhất 662 tỷ đồng. Lần gần nhất doanh nghiệp dẫn đầu thị phần bán lẻ xăng dầu trong nước lỗ hơn mức này là quý đầu năm 2020, với hơn 1.800 tỷ đồng.
Trong văn bản giải trình gửi Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), ông Phạm Văn Quang, Kế toán trưởng Petrolimex, cho hay riêng mảng kinh doanh xăng dầu lỗ đến 930 tỷ đồng trong ba tháng đầu năm. Ngược lại, các mảng khác đều ổn định và tăng khoảng 15% so với cùng kỳ năm ngoái.
Số liệu này trùng khớp với dự báo của ban lãnh đạo tại phiên họp thường niên cuối tháng 4. Khi đó, Tổng giám đốc Lưu Văn Tuyển nói tập đoàn có khả năng lỗ 1.000 tỷ đồng từ mặt hàng xăng dầu do biến động bất thường trên thị trường nhiên liệu thế giới sau khi xung đột Trung Đông leo thang từ cuối tháng 2.
Trong văn bản giải trình gửi Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), lãnh đạo Petrolimex nhấn mạnh thị trường năng lượng toàn cầu đã biến động "đặc biệt bất thường và chưa từng có trong lịch sử" từ khi xung đột bùng nổ.
Trong tháng 3, xăng thành phẩm RON 95 có giá bình quân 137 USD một thùng, bằng 170% giá bình quân cùng kỳ và 178% so với tháng trước. Mặt hàng này có thời điểm vọt lên 170 USD một thùng, gấp đôi tháng trước. Tương tự, giá dầu thành phẩm ở mức bình quân 192 USD một thùng và có lúc đến 292 USD, lần lượt gấp đôi cùng kỳ và gấp ba tháng trước.
Theo Petrolimex, khi giá tăng mạnh, các thương nhân đầu mối nhỏ khó nhập khẩu do khan hiếm nguồn cung, cộng thêm giá và phụ phí tăng cao. Họ không đủ hàng cung ứng ra thị trường, dẫn đến nhu cầu xăng dầu đổ dồn sang các thương nhân đầu mối lớn như Petrolimex. Tổng sản lượng xuất bán của doanh nghiệp trong tháng 3 do đó cao hơn cùng kỳ 20% và tăng 13% so với tháng trước.
Để bù đắp khả năng đáp ứng nguồn cung từ các thương nhân đầu mối khác, Petrolimex phải điều chỉnh kế hoạch nhập hàng, tìm kiếm nguồn cung tức thời cuối tháng 3 từ các nhà cung cấp theo giá giao ngay ở mặt bằng và mức phụ phí rất cao. Cụ thể, phụ phí đối với dầu diesel lên đến 35-40 USD một thùng, còn xăng 12-15 USD, cao gấp nhiều lần mức thông thường là 2,5-3 USD.
Bên cạnh đó, Petrolimex cho biết họ phải duy trì tồn trữ vượt quy định, khoảng gần 1 triệu m3-tấn, gấp 1,3 lần lượng hàng tồn kho theo quy định, sẵn sàng ứng phó để nguồn cung xăng dầu trong nước không bị gián đoạn.
Tuy nhiên, đến đầu tháng 4, xu hướng đảo chiều giảm mạnh. Giá RON 95 vào ngày 21/4 giảm 46 USD so với mức đỉnh cách đó một tháng, còn dầu DO thành phẩm giảm đến 140 USD một thùng.
"Khi giá xăng dầu chuyển hướng giảm liên tục với biên độ lớn trong tháng 4, rủi ro do suy giảm giá trị hàng hóa đã nhập mua là yếu tố tác động trọng yếu đến hiệu quả kinh doanh", ông Phạm Văn Quang viết trong văn bản gửi HoSE.
Tính đến cuối quý I, Petrolimex có hơn 36.266 tỷ đồng hàng tồn kho, vượt xa mức 14.000 tỷ đồng hồi đầu năm. Doanh nghiệp trích lập dự phòng giảm giá tồn kho hơn 6.500 tỷ đồng.
Theo nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Vietcap, con số này gấp khoảng 4 lần so với mức trích lập dự phòng hồi quý I/2020 và 5,7 lần so với quý II/2022. Trong quá khứ, các khoản trích lập như vậy thường gắn liền với kỳ vọng giá dầu giảm, như trong đại dịch Covid-19 hoặc khi xung đột Nga - Ukraine đạt đỉnh.
"Giá dầu diesel Platts Singapore (chỉ số tham chiếu cho chi phí đầu vào) đã giảm khoảng 40% từ cuối tháng 3, xuống còn khoảng 150 USD một thùng vào ngày 23/4, dẫn đến các khoản lỗ hàng tồn kho đáng kể. Ngoài ra, Petrolimex đã trở nên nhạy cảm hơn với biến động giá dầu do nhiệm vụ đảm bảo ổn định nguồn cung xăng dầu quốc gia", báo cáo của Vietcap viết.
Nhóm này nhận định cách tiếp cận trích lập dự phòng thận trọng của doanh nghiệp hợp lý trong bối cảnh hiện nay. Nếu loại trừ trích lập dự phòng, lợi nhuận sau thuế của cổ đông thiểu số có thể đạt khoảng 4.300 tỷ đồng.
Petrolimex hiện chiếm khoảng 50% thị phần bán lẻ xăng dầu trên thị trường. Năm nay, doanh nghiệp đặt mục tiêu tổng doanh thu hợp nhất 330.300 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất dự kiến giảm nhẹ, đạt 3.370 tỷ đồng. Tại phiên họp thường niên cuối tháng 4, Tổng giám đốc Lưu Văn Tuyển nói ban lãnh đạo sẽ nỗ lực bằng mọi giá để đảm bảo quyền lợi của cổ đông, dù kế hoạch lợi nhuận năm nay có thể không bằng 2025.
Thông tin được Tổng giám đốc Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) Lưu Văn Tuyển trả lời nhà đầu tư tại đại hội đồng cổ đông, ngày 24/4.
Ông Tuyển cho biết tập đoàn có khả năng lỗ 1.000 tỷ đồng từ mặt hàng xăng dầu trong quý đầu năm. Nguyên nhân do biến động bất thường trên thị trường nhiên liệu thế giới sau khi xung đột tại Trung Đông gia tăng từ cuối tháng 2.
Theo lãnh đạo Petrolimex, giá xăng dầu thành phẩm thế giới biến động "chưa từng thấy trong lịch sử", trong đó có những ngày tăng giảm từ 20-50 USD/thùng. Điển hình, giá dầu diesel có thời điểm vọt lên 292 USD một thùng vào tháng 3 (tăng gần 4lần so với tháng 2) nhưng sau đó lại giảm sâu xuống còn khoảng 140 USD vào tháng 4.
Trong khi đó, các khoản phụ phí nhập khẩu đã chạm mức 30 - 37 USD một thùng. Đây là con số chưa từng có trong lịch sử, song lại chưa được phản ánh đầy đủ vào giá bán lẻ giá nhiên liệu trong nước.
"Chi phí nhập khẩu một tàu dầu 40.000 tấn đã tăng vọt từ mức 25-26 triệu USD lên đến 85-87 triệu USD", ông nói. Theo ông Tuyển, thời điểm giá dầu diesel thành phẩm lên đỉnh 292 USD một thùng, cộng với phụ phí và giá cước vận tải tăng, tổng chi phí nhập về lên tới 340 USD. Ngoài ra, Petrolimex còn phải duy trì tồn kho ở mức cao và liên tục nhập hàng ngay cả khi giá đang ở đỉnh để đảm bảo nguồn dự trữ, an ninh năng lượng quốc gia.
Dù mảng xăng dầu gặp khó khăn, các lĩnh vực kinh doanh khác ngoài xăng dầu của Petrolimex vẫn ghi nhận kết quả tốt và bám sát kế hoạch đề ra, theo Tổng giám đốc Lưu Văn Tuyển. Ông cũng khẳng định ban lãnh đạo tập đoàn sẽ nỗ lực bằng mọi giá để đảm bảo quyền lợi của cổ đông, dù kế hoạch lợi nhuận năm 2026 có thể không bằng năm 2025.
Chia sẻ thêm, Chủ tịch Petrolimex Phạm Văn Thanh nhìn nhận xăng dầu là mặt hàng thiết yếu, chỉ cần một mắt xích trong chuỗi cung ứng bị đứt gãy sẽ tác động ngay lập tức đến chi phí sản xuất và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn quyết tâm đảm bảo nguồn cung trong mọi tình huống để bảo vệ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Theo đó, Petrolimex - doanh nghiệp xăng dầu chiếm hơn một nửa thị phần trên thị trường - có phương án chuẩn bị nguồn cung "từ sớm, từ xa". Các giải pháp gồm duy trì tồn kho ở mức cao, liên hệ với các nhà cung cấp quốc tế, điều phối hệ thống kho bãi, đường ống và mạng lưới bán lẻ.
"Trong khủng hoảng, lợi thế lớn nhất của Petrolimex không chỉ là thị phần mà là năng lực hạ tầng, điều độ và khả năng gánh vác trách nhiệm quốc gia", ông Thanh nói thêm.
Tại đại hội, ban lãnh đạo Petrolimex cũng trả lời về việc đáp ứng các điều kiện của công ty đại chúng theo quy định của Luật Chứng khoán. Theo ông Trần Tuấn Linh, thành viên Hội đồng quản trị, cơ cấu cổ đông hiện tại của tập đoàn gồm cổ đông nhà nước nắm giữ gần 76%, cổ đông chiến lược nắm 13%. Các cổ đông nhỏ lẻ khác chỉ nắm giữ hơn 9,4% - thấp hơn mức quy định 10% với cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free-float) trên thị trường.
Theo ông Linh, việc tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng thấp hơn 10% do vốn nhà nước chiếm quá lớn là tình trạng chung của rất nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và niêm yết trên sàn chứng khoán, không phải là vấn đề của riêng Petrolimex.
Đại diện Petrolimex cho biết Tập đoàn đã báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và đang chờ hướng dẫn chi tiết. Theo quy định, Petrolimex có thời hạn 1 năm để thực hiện các giải pháp. Do đó, họ rà soát, tính tới phương án như bán cổ phiếu quỹ để tăng tỷ lệ free-float trên thị trường, hoặc thoái vốn, giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước tại Petrolimex.
"Tập đoàn khẳng định luôn chủ động và đã chuẩn bị sẵn sàng tất cả các kịch bản. Các phương án sẽ được triển khai ngay khi có định hướng và sự chấp thuận từ cơ quan có thẩm quyền", ông Linh nói.
Thông tin trên vừa được hé lộ từ nghị quyết hội đồng quản trị mới của Novaland, cho thấy một bước đi trong lộ trình "xóa nợ" bằng cổ phiếu.
Theo nghị quyết của hội đồng quản trị số 12/2026 ngày 31-3, Tập đoàn Novaland đã chính thức thông qua phương án phát hành thêm cổ phiếu để chuyển đổi một phần lô trái phiếu quốc tế.
Cụ thể trong đợt này, 15 trái phiếu (với tổng giá trị chuyển đổi hơn 84,2 tỉ đồng) sẽ được hoán đổi thành 2.477.925 cổ phiếu phổ thông. Đáng chú ý, "chủ nợ" chấp nhận chuyển vai thành cổ đông trong đợt này là BNP Paribas Financial Markets (trụ sở tại Pháp).
Theo thông tin tại nghị quyết, giá chuyển đổi được xác định là 34.000 đồng/cổ phiếu, tính theo tỉ giá cố định 24.960 VND/USD. Việc hoán đổi này nằm trong khuôn khổ thỏa thuận tái cấu trúc lô trái phiếu quốc tế trị giá hơn 335 triệu USD (lãi suất 5,25%/năm) đã được các bên rà soát và sửa đổi nhiều lần từ năm 2024 đến nay.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, một chuyên gia về tài chính cho hay về mặt kỹ thuật tài chính, đây là một bước đi tất yếu của Novaland trong bối cảnh tổng dư nợ vay và trái phiếu của tập đoàn vẫn duy trì ở ngưỡng cao (khoảng 67.000 tỉ đồng).
Việc chuyển nợ thành cổ phần mang lại các lợi ích trực diện. Đầu tiên là giảm trực tiếp dư nợ phải trả, đồng thời xóa bỏ nghĩa vụ thanh toán lãi vay (interest expense) cho phần nợ tương ứng. Cạnh đó còn giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính thông qua việc tăng vốn điều lệ (dự kiến tăng thêm gần 25 tỉ đồng chỉ riêng trong đợt hoán đổi 15 trái phiếu này).
Tuy nhiên nhìn từ góc độ quản trị, việc phát hành hàng triệu cổ phiếu để "trả nợ" đồng nghĩa với việc pha loãng quyền sở hữu của các cổ đông hiện hữu. Trái chủ từ vị thế người cho vay có quyền ưu tiên thanh toán, giờ đây phải chấp nhận "chia ngọt sẻ bùi", chịu chung rủi ro biến động thị trường cùng doanh nghiệp.