Trong báo cáo vừa gửi Chính phủ, Bộ Xây dựng cho biết: Cả nước đang có khoảng 2.801 km đường cao tốc đã và đang được phân kỳ đầu tư. Trong đó, khoảng 2.107 km (548 km đường 2 làn xe; 1.559 km đường 4 làn xe hạn chế) đã đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật; 694 km (105 km đường 2 làn xe; 589 km đường 4 làn xe hạn chế) đang thi công xây dựng.
Đối với 653 km các đoạn tuyến cao tốc 2 làn xe đã và đang được nghiên cứu đầu tư, nhu cầu vốn để mở rộng khoảng 80.007 tỉ đồng, trong đó nguồn vốn (ngân sách Nhà nước, nhà đầu tư) đã xác định khoảng 49.534 tỉ đồng; nhu cầu vốn ngân sách Trung ương cần bổ sung trong giai đoạn 2026 – 2030 khoảng 30.473 tỉ đồng.
Qua kết quả nghiên cứu của các địa phương, chủ đầu tư, nhu cầu vốn để mở rộng các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế theo quy mô quy hoạch (4 – 8 làn xe) khoảng 414.580 tỉ đồng.
Khẳng định việc đầu tư hoàn thiện các tuyến cao tốc phân kỳ là cần thiết, song, Bộ Xây dựng cho rằng sẽ khó khăn khi triển khai mở rộng ngay, đồng loạt các tuyến cao tốc đã được phân kỳ 4 làn xe hạn chế như: phải thi công lại một số hạng mục mới hoàn thành (thảm lại mặt đường; dịch chuyển dải phân cách giữa, lưới chống chói; lắp đặt lại tôn lượn sóng, cọc tiêu, biển báo, đào mái taluy…
Mặt khác, các tuyến cao tốc đầu tư công sẽ thu phí hoàn vốn nếu việc điều tiết giao thông hợp lý thì việc tính toán thời điểm mở rộng các cao tốc phân kỳ có thể xem xét vào thời điểm thích hợp.
Trường hợp đầu tư mở rộng bằng phương thức PPP, Bộ Xây dựng cho rằng nếu áp dụng thu phí đồng loạt các tuyến cao tốc có thể tác động đáng kể đến chi phí logistics của nền kinh tế nên cần có thời gian nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng để cân nhắc hình thức đầu tư bảo đảm hiệu quả nhất, đặc biệt trên các tuyến quan trọng như cao tốc Bắc – Nam phía Đông.
Ngoài ra, các tuyến cao tốc phân kỳ đầu tư 4 làn xe hạn chế đã được thiết kế đáp ứng nhu cầu vận tải từ 6 – 10 năm hoặc lớn hơn. Trường hợp yêu cầu mở rộng đáp ứng quy chuẩn đường cao tốc, các tuyến có quy mô quy hoạch 6 – 8 làn xe sẽ được xem xét mở rộng ngay lên quy mô quy hoạch để tránh việc mở rộng nhiều lần (tránh việc mở rộng thêm 2 dải dừng xe khẩn cấp liên tục, thời gian sau tiếp tục mở rộng lên quy mô quy hoạch). Khi đó, việc mở rộng các tuyến cao tốc 4 làn hạn chế lên quy mô 6 – 8 làn theo quy hoạch sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải trong dài hạn.
Từ thực tế trên, Bộ Xây dựng kiến nghị cần ưu tiên mở rộng ngay các tuyến cao tốc 2 làn xe lên quy mô cao tốc hoàn chỉnh để bảo đảm an toàn giao thông, tránh ùn tắc gây tắc nghẽn lưu thông hàng hóa, hành khách, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế – xã hội của vùng, địa phương.
“Trong quá trình nghiên cứu đầu tư mở rộng, các địa phương cần rà soát, tính toán kỹ lưỡng phương án đầu tư mở rộng để bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí,” Bộ Xây dựng lưu ý.
Với các tuyến cao tốc 4 làn xe hạn chế, cần giao các cơ quan chủ quản/cơ quan có thẩm quyền tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng đối với từng dự án, tính toán đầy đủ chỉ tiêu hiệu quả kinh tế – xã hội và chỉ quyết định đầu tư khi việc đầu tư mở rộng bảo đảm hạch toán hiệu quả.
Trên cơ sở đó, trước mắt, đối với đoạn tuyến cao tốc đang đầu tư PPP, Bộ Xây dựng, UBND các tỉnh/thành phố Hà Nội, Lạng Sơn, Lâm Đồng nghiên cứu chi tiết phương án đầu tư, xác định tổng mức đầu tư, phương án tài chính, cơ cấu nguồn vốn (vốn ngân sách địa phương, ngân sách Trung ương, vốn huy động của nhà đầu tư) để mở rộng các tuyến cửa khẩu Hữu Nghị – Chi Lăng, Dầu Giây – Tân Phú – Bảo Lộc – Liên Khương, Vành đai 4 Hà Nội bảo đảm hạch toán hiệu quả, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Đối với các đoạn tuyến đầu tư công, mức độ ưu tiên sẽ được xác định cụ thể đối với từng dự án trên cơ sở kết quả kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội, hiệu quả tài chính, trong đó nghiên cứu toàn diện các yếu tố về: dự báo nhu cầu vận tải, hiện trạng đoạn tuyến, điều kiện thi công, khả năng huy động vốn…
Bộ Xây dựng kiến nghị cấp có thẩm quyền giao Bộ Tài chính xem xét, cân đối vốn ngân sách Trung ương đối với các dự án đầu tư mở rộng có nghiên cứu chi tiết, bảo đảm hạch toán hiệu quả làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư mở rộng các đoạn tuyến.
Hội đồng Vàng thế giới (WGC) vừa công bố Báo cáo xu hướng nhu cầu vàng quý 1/2026. Theo đó, tổng nhu cầu vàng toàn cầu trong quý (bao gồm cả giao dịch trên thị trường phi tập trung - OTC) đạt 1.231 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước.
Mặc dù khối lượng giao dịch chỉ tăng nhẹ, nhưng giá trị nhu cầu đã tăng vọt lên 193 tỉ USD, tương ứng mức tăng 74% so với cùng kỳ năm trước.
Các ngân hàng T.Ư tiếp tục hỗ trợ tổng cầu, với lượng mua ròng đạt 244 tấn. Con số này vượt cả quý 4/2025 và mức trung bình của 5 năm gần đây, dù một số tổ chức thuộc khu vực công tăng cường bán ra (Ngân hàng T.Ư Thổ Nhĩ Kỳ, Ngân hàng T.Ư Nga và Quỹ Dầu mỏ Nhà nước Azerbaijan).
Nhu cầu đối với các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) vàng tiếp tục duy trì tích cực trong quý 1, với lượng vàng nắm giữ tăng thêm 62 tấn, chủ yếu nhờ sự tăng trưởng mạnh từ các quỹ niêm yết tại châu Á khi các tổ chức này mua ròng 84 tấn.
Tuy nhiên, dòng vốn rút ra đáng kể trong tháng 3, chủ yếu từ các quỹ niêm yết tại Mỹ. Điều này phần nào kìm hãm đà tăng rất mạnh của thị trường trong giai đoạn đầu năm.
Ông Shaokai Fan, Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng T.Ư toàn cầu tại WGC, cho biết, địa chính trị được dự báo sẽ tiếp tục là yếu tố chính thúc đẩy nhu cầu vàng trong 2026 và những năm tiếp theo.
Điều này hỗ trợ xu hướng mua ròng liên tục của các ngân hàng T.Ư, dòng vốn chảy mạnh vào các quỹ ETF vàng toàn cầu cũng như nhu cầu tích trữ vàng miếng và vàng xu.
Theo WGC, quý đầu năm nay, trên toàn cầu, các nhà đầu tư cá nhân bị thu hút bởi đà tăng giá và sức hấp dẫn của vàng như tài sản trú ẩn an toàn, qua đó đẩy nhu cầu vàng miếng, vàng xu tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, đạt 474 tấn.
Đáng chú ý, tại Trung Quốc, nhu cầu tăng mạnh tới 67% so với cùng kỳ năm trước, đạt 207 tấn - mức cao nhất từ trước đến nay, cao hơn nhiều so với mức kỷ lục 155 tấn được ghi nhận vào quý 2/2013.
Ở chiều ngược lại, nhu cầu vàng trang sức trong quý 1 giảm mạnh 23% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 300 tấn. Đà suy giảm diễn ra trên hầu hết thị trường chủ chốt. Trong đó, đáng chú ý nhất là Trung Quốc (giảm 32%), Ấn Độ (giảm 19%) và khu vực Trung Đông (giảm 23%).
Xét riêng khu vực ASEAN, trong quý 1, nhu cầu đầu tư vàng miếng và vàng xu của Việt Nam ghi nhận mức giảm mạnh nhất, giảm 24% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 9 tấn.
Với vàng trang sức, trong khi khối lượng tiêu thụ tại nhiều thị trường trầm lắng, Việt Nam gây chú ý khi nhu cầu đạt mức kỷ lục 472 triệu USD, tăng 28% so với quý trước. Diễn biến này một phần có thể do những hạn chế trong nguồn cung vàng miếng, khiến nhu cầu chuyển sang vàng nhẫn trơn như một kênh đầu tư thay thế.
Theo bà Louise Street, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại WGC, sau khi thiết lập mức đỉnh trên 5.400 USD/ounce vào tháng 1, thị trường vàng đã ghi nhận một đợt điều chỉnh mạnh nhưng vẫn trong tầm kiểm soát.
Thời gian tới, yếu tố rủi ro địa chính trị được dự báo sẽ tiếp tục hỗ trợ nhu cầu đầu tư vàng. Tuy nhiên, môi trường lãi suất cao kéo dài có thể tạo ra những rào cản, đặc biệt tại các thị trường phương Tây.
"Nhu cầu vàng trang sức dự kiến vẫn duy trì ổn định, ngay cả khi giá vàng cao khiến khối lượng tiêu thụ giảm. Về nguồn cung, sản lượng khai thác được kỳ vọng tăng nhẹ, song rủi ro thiếu hụt năng lượng có thể hạn chế triển vọng này", bà Louise Street nói.
Ngày 14.7, sau khi giá xăng dầu thế giới tăng vọt 10% các doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu cho biết, chiết khấu về đến cửa hàng "rớt thê thảm".
Thương nhân đầu mối ở TP.HCM thông báo chiết khấu cho khách hàng bán lẻ tại thị trường vùng 2 từ 7 giờ 30 và chỉ có hiệu lực đến 17 giờ 30 ngày 14.7, lấy hàng tại kho Vũng Tàu, Nhà Bè và Vũng Rô đều có mức chiết khấu thấp như nhau: Xăng E10 và E5 có chiết khấu 50 đồng/lít; dầu diesel 20 đồng/lít.
Tương tự, thương nhân đầu mối ở khu vực miền Tây cũng thông báo chiết khấu với xăng E10 và dầu diesel đều 5 đồng/lít, áp dụng đến 16 giờ 45 phút cùng ngày.
Một số cửa hàng xăng dầu khác khu vực phía nam phản ánh mức chiết khấu với xăng E10 về 0 đồng, dầu 100 đồng/lít...
Ở phía bắc, một thương nhân đầu mối ở Phú Thọ thông báo chiết khấu cho khách hàng bán lẻ tại thị trường vùng 2 (xa cảng, xa nhà máy, xa kho... và thường phải cộng thêm chi phí vận chuyển) với xăng 400 đồng/lít; dầu diesel 100 đồng/lít. Khách hàng tại thị trường vùng 1 (gần cảng, gần kho, gần nhà máy lọc dầu...) âm 370 đồng/lít.
Ghi nhận đến 15 giờ chiều 14.7, giá dầu thế giới tiếp tục tăng hơn 3%. Dầu WTI của Mỹ đã vọt lên ngưỡng 81 USD/thùng; dầu Brent chuẩn toàn cầu lên 86,6 USD/thùng. Theo đó, chiết khấu về cho bán lẻ tiếp tục "bóp" hoặc giao hàng giới hạn chờ kỳ điều chỉnh giá vào thứ năm tới.
Một thương nhân phân phối xăng dầu tại thành phố Bình Dương than thở: Mức chiết khấu từ vài chục đến vài trăm đồng cho một lít xăng dầu được coi là âm. Bởi bán lẻ tại thị trường vùng 1, nếu chỉ chiết khấu 100 đồng, riêng tiền vận chuyển, doanh nghiệp bán lẻ phải bù 100 đồng/lít, vùng 2 chi phí cao hơn. Bên cạnh đó là các chi phí nhân công, điện, thuế, hóa đơn từng lần... định mức chi phí cho cửa hàng bán lẻ xăng dầu thị trường hiện từ 700 - 800 đồng/lít. "Như vậy, chiết khấu cứ 0 đồng, 5 đồng hay 20 đồng, thì làm sao doanh nghiệp bán lẻ sống nổi", vị này nói và kiến nghị sớm ban hành Nghị định về kinh doanh xăng dầu mới theo hướng thị trường tự điều tiết thì tình trạng chiết khấu 0 đồng mới "gỡ" được.
"Để thị trường xăng dầu ổn định, cần để giá theo điều tiết thị trường. Chẳng hạn, doanh nghiệp đầu mối bán một mức giá cố định theo công thức tính quy định, các nhà phân phối nhập hàng từ nhiều đầu mối, có thể tính toán bán giá tốt nhất và có thể cạnh tranh với các cửa hàng khác", vị này nói.
Ông Trần Đình Sơn, Giám đốc Công ty TNHH Nam Lộc Phúc, kinh doanh xăng dầu ở miền Nam cũng nói rằng, nếu chiết khấu thấp kéo dài khiến dòng tiền ngày càng cạn kiệt. Doanh nghiệp phải vay thêm vốn để duy trì hoạt động, nếu không sẽ đối mặt với nguy cơ nợ quá hạn và mất khả năng thanh toán.
Ông Sơn nói: "Tôi ghi nhận nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc hoàn thiện cơ chế điều hành. Tuy nhiên, các chính sách cần tiếp tục được sửa đổi theo hướng tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, giảm bớt sự can thiệp hành chính và trao nhiều quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp. Để xăng dầu điều tiết theo thị trường thực sự thì doanh nghiệp nào quản trị chi phí tốt sẽ có lợi thế; doanh nghiệp nào kinh doanh không hiệu quả sẽ phải tự chịu trách nhiệm".
Tại dự thảo mới nhất về kinh doanh xăng dầu, Bộ Công thương tăng việc chuyển dần sang cơ chế giá theo thị trường, tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp về tự quyết giá bán, thay vì Nhà nước công bố giá định kỳ như hiện nay. Giá bán lẻ được tính gồm giá mua thực tế, chi phí tạo nguồn, chi phí kinh doanh định mức, lợi nhuận và các loại thuế, phí theo quy định.
"Nếu một cửa hàng lựa chọn làm đại lý cho một đầu mối thì phải tuân thủ các điều kiện, trong đó có giá bán do đầu mối quy định. Ngược lại, nếu muốn chủ động về giá, doanh nghiệp nên được quyền ký hợp đồng với nhiều đầu mối, tự lựa chọn nguồn hàng và tự quyết định giá bán theo cơ chế thị trường, được mua bán với nhau. Khi đó, doanh nghiệp nào quản trị tốt sẽ tồn tại, doanh nghiệp nào yếu kém sẽ tự bị đào thải. Đó mới là cạnh tranh công bằng. Dự thảo nghị định về kinh doanh xăng dầu cho thương nhân phân phối quyết giá bán là hợp lý và cần sớm được ban hành", ông Trần Đình Sơn nêu quan điểm.
Chiều 23/4, Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel (Viettel Global - mã: VGI) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.
Theo tờ trình được thông qua, năm 2026, Viettel Global lên kế hoạch tổng doanh thu hợp nhất 52.561 tỷ đồng, tăng trưởng 7% so với thực hiện 2025, tương đương tăng 3.450 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 13.275 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ, giảm 1.901 tỷ đồng.
Chia sẻ tại đại hội, bà Nguyễn Thị Hoa - Tổng Giám đốcViettel Global cho biết, mục tiêu lợi nhuận năm 2026 có sự sụt giảm là do biến động tỉ giá.
Trong quý I/2026, thế giới có nhiều biến động lớn, đặc biệt là tình hình chiến sự tại Trung Đông đã ảnh hưởng đến công tác vận chuyển, giá cả hàng hóa, xăng dầu và vật tư thiết bị.
Tính đến hết quý I, Viettel Global vẫn hoàn thành vượt các chỉ tiêu kế hoạch mà Tập đoàn Viettel đề ra. Bà Hoa cho biết, con số chi tiết sẽ được công bố theo đúng quy định về thông tin tài chính trong thời gian tới.
Nói về việc giảm thiểu rủi ro về tỉ giá, bà Hoa nói rằng: dân gian có câu "người tính không bằng trời tính", còn ở đây là "trời tính không bằng tỉ giá tính".
"Rủi ro tỉ giá luôn là bài toán lớn. Chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp như làm việc chặt chẽ với các ngân hàng để có thể mua USD với tỉ giá tốt nhất.
Bên cạnh đó là đa dạng hoá đồng tiền, một số giao dịch công ty sử dụng Nhân dân tệ hoặc Bath Thái để giảm rủi ro về USD cũng như chủ động kế hoạch mua bán ngoại tệ theo từng thời điểm", bà Hoa chia sẻ.
Ông Nguyễn Cao Lợi - Phó Tổng Giám đốc Viettel Global chia sẻ thêm: Chúng tôi coi tỉ giá là một loại chi phí kinh doanh để phân bổ vào giá thành, tập trung vào phân khúc khách hàng cao cấp - những người ưu tiên chất lượng hơn giá cả. Nhờ vậy, lợi nhuận thực tế và dòng tiền mang về vẫn rất tốt.
Cũng trong phần thảo luận tại đại hội, một trong những vấn đề được cổ đông quan tâm nhất là lợi thế cạnh tranh của Viettel Global so với đối thủ. Trả lời thắc mắc này, bà Hoa đã thẳng thắn đúc kết sự thành công của tập đoàn dựa trên 3 yếu tố cốt lõi.
Thứ nhất là sự đầu tư hạ tầng mạnh mẽ. Ban lãnh đạo xác định đặc thù của ngành viễn thông là bắt buộc phải đầu tư hạ tầng đi trước. Do đó, mỗi năm công ty đều rót một khoản tiền đầu tư rất lớn cho các thị trường.
Thứ hai là tốc độ triển khai nhanh và tối ưu. Năng lực này xuất phát từ yếu tố con người. "Sự chịu khó, chịu khổ của người Viettel ở khắp mọi nơi. Mỗi khi xem lại những thước phim về sự hy sinh của đồng đội tại các thị trường xa xôi, tôi vẫn không cầm được nước mắt", bà Hoa nói.
Thứ ba là sản phẩm và giá thành. Tổng Giám đốc Nguyễn Thị Hoa cho biết, tiêu chí của Viettel là phải mang lại những dịch vụ có chất lượng tốt nhất cho khách hàng, đi kèm với một mức giá hợp lý.