Theo Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), một cuộc diễn tập ứng phó sự cố có quy mô lớn chưa từng có vừa được tổ chức ngày 16-4. Cuộc diễn tập lần đầu tiên có sự tham gia của cả ba cấp điều độ, thay vì chỉ một cấp trước đây.
Việc tổ chức diễn tập được thực hiện trong bối cảnh việc cung ứng điện mùa khô gặp nhiều thách thức: nhu cầu điện được dự báo sẽ tăng cao cùng những yếu tố bất thường do thời tiết nắng nóng sẽ diễn ra vào các tháng cao điểm mùa khô.
Tình huống được tổ chức diễn tập là giả định sự cố đường dây 220kV Nha Trang – Krông Buk xảy ra vào thời điểm phụ tải cao. Bên cạnh đó đường dây 220kV Nha Trang – Vân Phong đang cắt điện dài ngày để chuyển đấu nối.
Đây là khu vực có tỉ lệ nguồn năng lượng tái tạo đấu nối lớn, đòi hỏi công tác xử lý nhanh chóng và chính xác để tránh sự cố lan rộng.
Tình huống diễn tập còn tích hợp yếu tố bất thường như cháy rừng ảnh hưởng hành lang tuyến, qua đó nâng cao khả năng ứng phó với các sự cố kết hợp, phức tạp trong thực tế.
Sự cố đường dây diễn ra gây nên quá tải nghiêm trọng, gây mất trục truyền tải, dồn tải và tạo nên nguy cơ domino.
Hiệu ứng domino gây hậu quả làm lan rộng sự cố, nếu không xử lý ngay sẽ xảy ra mất nhiều nguồn điện khu vực nam miền Trung và dẫn đến mất tải diện rộng.
Trực tiếp chỉ đạo công tác diễn tập, ông Nguyễn Quốc Trung – Phó tổng giám đốc NSMO kiêm Giám đốc Trung tâm Điều độ hệ thống điện miền Trung (CSO) – cho hay việc diễn tập xử lý sự cố hệ thống điện được thực hiện trên ứng dụng mô phỏng đào tạo điều độ viên OpenOTS.
Đây là lần đầu tiên huy động cả ba cấp độ điều độ hệ thống điện tham gia, đã đưa ra các kịch bản ứng phó với các tình huống phức tạp, góp phần nâng cao năng lực xử lý trước các sự cố và khả năng phối hợp giữa các đơn vị.
Với mục tiêu là nhằm dập quá tải ngay, tránh lan truyền sự cố, sau khi nhận diện sự cố, các đơn vị đã hạ tải khẩn cấp ngay để cứu hệ thống, bao gồm việc giảm khoảng 240 MW nguồn, chủ yếu là điện mặt trời, cũng như phối hợp với các đơn vị điều độ miền và điện lực địa phương giảm thêm 10-16 MW.
Cùng đó, các đơn vị điều độ hệ thống thực hiện tái cấu trúc lưới, điều chỉnh lưới để sau khi ổn định sẽ huy động lại nguồn đã cắt. Việc này nhằm chuyển trạng thái hệ thống từ “cứu nguy” sang “tối ưu vận hành”. Sau đó, các đơn vị vận hành sẽ cô lập và sửa chữa khu vực gặp sự cố.
Đối với khu vực gặp tình huống bất thường là cháy rừng gần đường dây 220kV Quảng Ngãi – Phù Mỹ có nguy cơ gây khói, nhiệt, phóng điện và các sự cố tiếp theo, MSNO sẽ chủ động giảm lượng công suất nhất định và theo dõi thêm tình huống, sẵn sàng cắt khẩn cấp. Việc này nhằm kiểm tra năng lực xử lý đa sự cố chồng lấn.
Sau khi các sự cố được khôi phục, điều độ hệ thống sẽ đóng lại các đường dây, khôi phục lưới về trạng thái ban đầu và huy động nguồn đầy đủ phục vụ cho toàn hệ thống.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Thông điệp trên được lãnh đạo Vinamilk nêu tại đại hội cổ đông thường niên sáng 22/4. Theo bà Liên, trường hợp xu hướng tăng kéo dài, công ty sẽ điều chỉnh theo lộ trình, tránh tăng đột biến và mức tăng dự kiến chỉ khoảng 2-3% nhằm hạn chế tác động đến người tiêu dùng.
Triển vọng sức mua cũng là vấn đề được nhiều cổ đông quan tâm sáng nay khi ngành sữa đang trong xu hướng giảm, dù tiêu dùng chung đã có dấu hiệu phục hồi.
Bà Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (VNM), cho biết ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) quý I đã cải thiện, tăng 4,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Tuy nhiên, riêng ngành sữa vẫn tăng trưởng âm khoảng 3,7%.
"Nếu không có yếu tố đột biến theo hướng tích cực, trong khi các biến động địa chính trị vẫn khó lường, sức mua sẽ khó có động lực để tăng mạnh trở lại", bà nói. Dù vậy, nếu doanh nghiệp duy trì được đà tăng trưởng hiện tại, Vinamilk kỳ vọng có thể góp phần kéo thị trường này tăng khoảng 1,5-2% năm nay.
Bức tranh sức mua yếu cũng phản ánh rõ trong năm 2025 - giai đoạn được lãnh đạo doanh nghiệp nhìn nhận là "năm thử lửa". Ngành sữa chịu áp lực khi nhu cầu giảm 2,4%, chi phí đầu vào tăng và cạnh tranh gay gắt, trong khi Vinamilk đồng thời triển khai tái cấu trúc nội bộ. Dù tạo áp lực ngắn hạn, quá trình này được doanh nghiệp xem là cần thiết để củng cố năng lực cạnh tranh dài hạn.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng ổn định. Doanh thu hợp nhất của công ty đạt 63.724 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ và là mức cao nhất từ trước đến nay. Lợi nhuận trước thuế đạt 9.414 tỷ đồng, gần tương đương năm 2024. Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp đạt 9.414 tỷ đồng, giảm nhẹ do ảnh hưởng từ quý I nhưng cải thiện dần qua các quý sau; EPS đạt 4.028 đồng.
Năm nay, Vinamilk đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 66.477 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 9.828 tỷ đồng, tăng khoảng 4% so với năm trước, trong bối cảnh thị trường được dự báo phục hồi chậm.
Hết quý I, hãng ghi nhận doanh thu hợp nhất 16.178 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế hơn 2.458 tỷ đồng, tăng lần lượt 24,7% và gần 55% so với cùng kỳ 2025.
Về phân phối lợi nhuận, cổ đông thông qua mức cổ tức tiền mặt năm 2025 là 43,5% (4.350 đồng mỗi cổ phiếu). Công ty đã tạm ứng 25% trước đó, phần còn lại 18,5% sẽ được HĐQT quyết định thời điểm chi trả trong vòng 6 tháng kể từ ngày 22/4. Với năm 2026, doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tiền mặt tối thiểu 50% lợi nhuận sau thuế, linh hoạt theo kết quả kinh doanh thực tế.
Trước băn khoăn của cổ đông về việc thị giá cổ phiếu VNM ở mức thấp, bà Mai Kiều Liên cho rằng giá cổ phiếu phụ thuộc vào cung - cầu thị trường, kết quả kinh doanh và triển vọng phát triển bền vững của doanh nghiệp. "Không chỉ riêng Vinamilk, nhiều cổ phiếu khác cũng giảm theo diễn biến chung của thị trường", bà nói, đồng thời nhấn mạnh cổ tức hiện tại vẫn được duy trì ở mức hấp dẫn.
Ở góc độ vận hành, căng thẳng Trung Đông khiến hoạt động xuất khẩu chịu áp lực khi thời gian vận chuyển kéo dài và chi phí logistics tăng. Vinamilk đã điều chỉnh tuyến vận chuyển, phối hợp với đối tác để đảm bảo tiến độ giao hàng, đồng thời làm việc với nhà cung cấp nhằm ổn định nguồn nguyên liệu. Về dài hạn, doanh nghiệp tiếp tục đa dạng hóa thị trường và nguồn cung để giảm phụ thuộc.
Tại thị trường quốc tế, Trung Đông vẫn là khu vực truyền thống, đóng góp khoảng 7,7% doanh thu hợp nhất của VNM, duy trì tăng trưởng hai chữ số trong năm 2025 và quý I/2026. Trong khi đó, Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng trên 20%, nhờ các sản phẩm được phát triển riêng theo thị hiếu tiêu dùng.
Song song hoạt động kinh doanh, đại hội cũng thông qua việc miễn nhiệm thành viên HĐQT đối với ông Alain Xavier Cany theo đơn từ nhiệm, đồng thời lên kế hoạch bầu bổ sung nhân sự khi số lượng hiện tại thấp hơn mức tối đa theo quy định. Doanh nghiệp cũng điều chỉnh, bổ sung một số ngành nghề kinh doanh theo quy định mới, mở rộng sang lĩnh vực bán lẻ và công nghệ thông tin.
Về triển vọng dài hạn, lãnh đạo Vinamilk đánh giá thị trường sữa Việt Nam vẫn còn dư địa tăng trưởng nhờ quy mô dân số lớn và xu hướng già hóa, kéo theo nhu cầu dinh dưỡng ngày càng cao. Các phân khúc như sữa thực vật, dinh dưỡng người lớn, sản phẩm bổ sung lợi khuẩn hay dòng cao đạm được dự báo tăng trưởng tốt hơn mặt bằng chung, trong khi các ngành hàng truyền thống tiếp tục duy trì mức tăng ổn định.
Vinamilk cho biết sẽ tiếp tục đầu tư vào hệ thống sản xuất, phân phối, mở rộng quy mô đàn bò và nâng cao năng lực quản trị nhằm củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững trong những năm tới.
Tin Gốc: Vnexpress

"Mỗi sáng thức dậy lại thấy một mức giá mới", ông Đào Trọng Khoa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam nói, khi đề cập đến áp lực chi phí mà công ty đang phải đối mặt. Hiện chi phí không còn biến động theo tháng hay theo quý, mà thay đổi từng ngày, thậm chí từng buổi sáng.
Theo ông Khoa, chỉ cần mở email, doanh nghiệp lại phải cập nhật thêm một loạt chi phí mới, từ phí bảo hiểm, cước vận tải đến các loại phụ phí phát sinh. Những kế hoạch tài chính vừa hoàn tất nhanh chóng trở nên lỗi thời, khi biến động không còn theo quy luật quen thuộc.
Chi phí tăng theo ngày, lan rộng toàn chuỗi
Áp lực chi phí khởi phát từ giá năng lượng, nhưng nhanh chóng lan rộng sang toàn bộ nền kinh tế. Ngày 19/3, giá xăng RON 95-III lên 30.690 đồng một lít, dầu diesel 33.420 đồng, tăng lần lượt 52% và 73% so với cuối tháng 2; giá gas cũng tăng 2-3 lần, mỗi bình 12 kg thêm 50.000-70.000 đồng, kéo chi phí vận chuyển và sản xuất đi lên.
Đến 27/3, sau khi giảm thuế, giá xăng dầu hạ mạnh (RON 95-III giảm 5.620 đồng còn 24.330 đồng một lít; dầu giảm 970-2.450 đồng mỗi lít), nhưng mặt bằng giá vẫn cao hơn đáng kể so với trước xung đột Trung Đông, trong đó xăng RON 95-III cao hơn khoảng 21% và dầu diesel khoảng 84% so với cuối tháng 2.
Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, nhận định xăng dầu là đầu vào của hầu hết ngành nghề, nên khi giá tăng sẽ kéo theo chi phí logistics, vận tải và hàng hóa tăng theo. Nhiều tuyến vận chuyển quốc tế ghi nhận mức tăng chi phí gấp 2-3 lần, trong khi vận tải nội địa cũng chịu áp lực tương tự.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất không phải chi phí tăng, mà doanh nghiệp không thể chuyển phần này sang giá bán.
Tại Công ty cổ phần Mebi Farm, CEO Lâm Thúy Ái nói chi phí đầu vào tăng liên tục theo kiểu "gối đầu", trong khi sức mua giảm khoảng 30%. Trong ngành chăn nuôi, chi phí thức ăn chiếm hơn 70% giá thành, nên biến động giá đã khiến tổng chi phí sản xuất tăng khoảng 35%. Dù vậy, giá trứng không thể điều chỉnh tương ứng, thậm chí duy trì ở mức thấp do tiêu thụ chậm.
Doanh nghiệp vì vậy buộc duy trì sản xuất để đảm bảo chuỗi cung ứng và việc làm, dù phải chấp nhận bù lỗ. Bà Ái cho biết khả năng chịu lỗ của doanh nghiệp đã gần như cạn kiệt.
Áp lực tương tự cũng diễn ra trong ngành phân bón. Ông Vũ Đình Tuấn, đại diện Công ty cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau, cho biết chi phí đầu vào tăng mạnh theo giá dầu, trong khi chi phí logistics quốc tế tăng 20-30% và trong nước tăng 15-20%. Cứ mỗi 10 USD giá dầu tăng, chi phí doanh nghiệp tăng thêm khoảng 525 tỷ đồng.
Mặc dù vậy, doanh nghiệp không thể điều chỉnh giá bán tương ứng, do lo ngại gây áp lực lên nông dân. Ông Vũ Khánh Thiện - ban Kinh doanh Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (Phân bón Phú Mỹ) - nói giá phân bón trong nước đã tăng khoảng 20%, nhưng các doanh nghiệp vẫn phải nỗ lực giữ giá ở mức thấp hơn so với thị trường thế giới để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
Ở các ngành xuất khẩu, áp lực chi phí đi kèm với sự suy giảm nhu cầu. Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Thắng Jean, thông tin chi phí nguyên liệu tăng 8-18%, cước vận chuyển tăng thêm 4.000-5.000 USD mỗi container, trong khi sức mua tại các thị trường lớn giảm. Doanh nghiệp vì vậy phải giữ giá để duy trì đơn hàng.
Điểm chung của các ngành là chi phí đầu vào tăng nhanh, trong khi đầu ra không thể tăng tương ứng. Khi sức mua yếu, phần lớn áp lực chi phí bị giữ lại trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp xoay xở trong dư địa hạn hẹp
Trong bối cảnh này, doanh nghiệp buộc phải chủ động điều chỉnh hoạt động để duy trì sản xuất, dù dư địa không còn nhiều.
Tại Mebi Farm, bà Ái cho biết doanh nghiệp đang kiểm soát chặt tồn kho, chuyển sang sản xuất theo đơn hàng thực tế, đồng thời chỉ điều chỉnh giá bán ở mức hạn chế, khoảng 10%, với một số sản phẩm thủy sản chế biến; trong khi giá trứng tươi không thể điều chỉnh. Với các sản phẩm được chế biến từ nguồn nguyên liệu tồn kho có giá thấp trước đó, doanh nghiệp giữ nguyên giá để ổn định thị trường.
Trong ngành phân bón, ông Tuấn cho hay doanh nghiệp duy trì nhà máy ở công suất cao nhằm tối ưu chi phí sản xuất, đồng thời đàm phán với các đối tác vận chuyển để kiểm soát chi phí logistics. Khi nhu cầu nội địa suy giảm, doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm như urê, NPK để duy trì công suất và dòng tiền. Đồng thời, các doanh nghiệp trong ngành cũng kiến nghị cơ quan quản lý xem xét giảm thuế xuất khẩu phân bón từ 5% xuống 0% nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ở ngành dệt may, ông Việt cho hay doanh nghiệp đang phải chia nhỏ đơn hàng, hạn chế vận chuyển bằng đường hàng không và đa dạng hóa thị trường nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường lớn.
Trong lĩnh vực logistics, xu hướng ứng phó chuyển sang quản trị rủi ro chủ động. Theo FIATA, doanh nghiệp cần rà soát điều khoản hợp đồng, cập nhật phụ phí và bảo hiểm theo thời gian thực để tránh rủi ro từ giá cố định, đồng thời xây dựng kịch bản vận chuyển linh hoạt, đẩy mạnh vận tải đa phương thức. Những giải pháp này không giảm chi phí ngay nhưng giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước biến động.
Dẫu vậy, khả năng tự điều chỉnh của doanh nghiệp có giới hạn, khi phần lớn áp lực đến từ yếu tố đầu vào mang tính hệ thống.
Trước áp lực giá năng lượng tăng cao, Chính phủ yêu cầu đảm bảo nguồn cung, tăng nhập khẩu từ thị trường ổn định và vận hành tối đa các nhà máy lọc dầu trong nước.
Đồng thời, loạt công cụ tài khóa được áp dụng để hạ nhiệt giá: thuế nhập khẩu xăng dầu giảm về 0% giai đoạn 9/3-30/4, thuế bảo vệ môi trường với xăng, dầu về 0 đồng mỗi lít (giảm 1.500-2.000 đồng) áp dụng từ 27/3 đến 15/4. Thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng cũng về 0%, còn xăng dầu không phải kê khai, nộp VAT nhưng vẫn được khấu trừ đầu vào.
Theo Bộ Tài chính, các biện pháp này khiến ngân sách giảm thu khoảng 7.200 tỷ đồng mỗi tháng, đổi lại giúp hạ chi phí cho người dân và doanh nghiệp, hạn chế tác động lan rộng đến lạm phát và mặt bằng giá.
Ở góc nhìn dài hạn, theo ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TP HCM, áp lực chi phí hiện nay cũng cho thấy rủi ro từ việc phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Do đó, việc chuyển sang các nguồn năng lượng thay thế, đặc biệt là điện và năng lượng tái tạo, có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kiểm soát chi phí và giảm thiểu rủi ro trong tương lai.
Việt Nam hiện có lợi thế trong phát triển năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, với nhiều dự án lớn dự kiến triển khai tại khu vực Cần Giờ, Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) và trung tâm năng lượng Long Sơn. "Đây được xem là nền tảng để doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào xăng dầu và chủ động hơn về chi phí sản xuất", ông An nhìn nhận.
Thi Hà
Nguồn: https://vnexpress.net/doanh-nghiep-chat-vat-trong-vong-xoay-chi-phi-5054084.html

Ông Đậu Anh Tuấn - Phó tổng thư ký kiêm Trưởng Ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) - cho biết kết quả khảo sát, điều tra năm 2026 với hơn 1.000 hộ kinh doanh trên cả nước từ tháng 2 đến tháng 4-2026 cho thấy bức tranh không mấy lạc quan.
Có tới 73,7% hộ kinh doanh cho biết chỉ "lãi ít" trong năm 2025, hơn 81% hộ bị giảm doanh thu, 75% bị giảm lượng khách hàng và chỉ 1,9% đạt mức lãi như kỳ vọng.
Phần lớn hộ kinh doanh đang vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng, đủ để tồn tại nhưng không đủ để tích lũy, không đủ để chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo. Sức khỏe kinh doanh yếu và đã chuyển hóa thành tâm lý phòng thủ.
"Điều đáng lưu tâm hơn nữa là khó khăn về pháp lý được đánh giá là nhóm áp lực lớn nhất. Có 73,3% hộ kinh doanh cho biết đây là vấn đề ảnh hưởng lớn hoặc nghiêm trọng, cao hơn cả khó khăn về đầu vào, thị trường hay nguồn lực.
Thời gian bỏ ra để tuân thủ quy định là yếu tố gây sức ép mạnh nhất, với 73% hộ đánh giá ở mức ảnh hưởng lớn hoặc rất lớn. Gánh nặng tuân thủ không chỉ là một khoản tiền phải chi, mà còn là chi phí cơ hội về thời gian, công sức học quy định, chi phí tổ chức lại quy trình kinh doanh và áp lực tâm lý kéo dài đối với chủ hộ", ông Tuấn nhấn mạnh.
Ông Tuấn cũng cho biết có một phát hiện rất quan trọng trong khảo sát, điều tra hộ kinh doanh năm 2026 là gánh nặng tuân thủ không giảm đi khi hộ kinh doanh lớn hơn, mức độ khó khăn có xu hướng gia tăng theo quy mô doanh thu.
Điều này có nghĩa là khi hộ kinh doanh phát triển, thay vì cảm thấy thuận lợi hơn trong việc chính quy hóa, nhiều hộ lại nhận thấy chi phí tuân thủ và độ phức tạp thể chế tăng nhanh hơn năng lực hấp thụ của mình.
Nhiều chủ hộ cảm nhận rằng càng mở rộng quy mô thì càng phải đối mặt với kế toán phức tạp hơn, thủ tục thuế nặng nề hơn, chi phí nhân sự và công nghệ tăng lên, thì động cơ đầu tư mở rộng sẽ bị triệt tiêu đáng kể. Môi trường thể chế có thể vô tình duy trì hộ kinh doanh ở trạng thái quy mô nhỏ, phòng thủ và né tránh tăng trưởng.
Đây là một điểm nghẽn rất đáng lưu tâm từ góc nhìn chính sách.
Bà Phạm Chi Lan - chuyên gia kinh tế - cho rằng "sức khỏe" hộ kinh doanh suy giảm trong năm 2025 phần lớn do các nguyên nhân thị trường, hơn 80% hộ kinh doanh được khảo sát gặp khó khăn về điều kiện thị trường, khó tìm khách hàng đầu ra, khó tìm nguồn nguyên liệu đầu vào. Ngoài ra các hộ kinh doanh cũng gặp khó trong tiếp cận vốn; biến động chính sách quá nhiều, hộ kinh doanh không nắm bắt được.
Bà Lan nêu quan điểm cần phân loại khu vực hộ kinh doanh để có giải pháp hỗ trợ phù hợp, giúp họ kinh doanh tốt hơn. Trước mắt nên tập trung hỗ trợ 13% hộ kinh doanh có thể đăng ký lên thành doanh nghiệp. Đối với những hộ kinh doanh còn lại không nên vận động, ép họ lên thành doanh nghiệp.
Nếu các hộ kinh doanh còn lại thấy lên doanh nghiệp là tốt là ổn thì chỉ ngay năm sau sẽ có rất nhiều hộ kinh doanh đi theo. Giờ hộ kinh doanh chưa thấy được điều này nên họ chưa chuyển thành doanh nghiệp.
Đối với 13% hộ kinh doanh sẵn sàng lên thành doanh nghiệp cũng cần hỗ trợ, hướng dẫn họ tường tận khi lên doanh nghiệp sẽ phải làm những gì để nâng cao khả năng quản trị, quản lý tài chính ra sao, cái gì cần xuất hóa đơn.
Bên cạnh đó Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua các hiệp hội ngành hàng để mở những khóa đào tạo cho các hộ kinh doanh chuyển lên thành doanh nghiệp.
"Nếu chúng ta làm được điều này, tôi tin sẽ có rất nhiều hộ kinh doanh sẵn sàng chuyển đổi thành doanh nghiệp để hoạt động minh bạch hơn", bà Lan nói thêm. Về lâu dài, bà Lan đồng tình rằng rất nên hướng dẫn hộ kinh doanh vươn lên, đăng ký trở thành doanh nghiệp.
Bởi lên doanh nghiệp họ sẽ thuận lợi hơn trong làm ăn lâu dài, đi vào quy củ, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và người tiêu dùng, kiểm soát tốt hơn chất lượng sản phẩm; tránh những rủi ro có thể xảy ra, đặc biệt trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
TS Tô Hoài Nam - Phó chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa - cho rằng: "Muốn hộ kinh doanh làm ăn tốt hơn thì trước hết phải thay đổi tư duy quản lý, không nên chỉ nhìn hộ kinh doanh dưới góc độ "đối tượng quản lý thuế", mà phải nhìn đây là một lực lượng kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước".
Để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, cải thiện "sức khỏe" của hộ kinh doanh theo tinh thần các nghị quyết lớn của Đảng, đặc biệt là nghị quyết 68, ông Nam khuyến nghị nên tập trung vào 5 nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, phải "khoan sức dân", giảm áp lực chi phí và thủ tục cho hộ kinh doanh nhỏ. Nhiều hộ hiện nay đang khó khăn nếu lại phải gánh thêm chi phí hóa đơn điện tử, phần mềm, kế toán, kê khai... và quy định quá phức tạp sẽ làm nhiều hộ "sợ lớn", không dám mở rộng kinh doanh.
Thứ hai, chính sách thuế cần phù hợp với thực tế biên lợi nhuận của từng ngành nghề. Ví dụ bán tạp hóa, ăn uống, buôn bán nhỏ có doanh thu lớn nhưng lãi rất thấp. Nếu chỉ nhìn doanh thu để áp thuế hoặc quản lý cứng nhắc thì rất dễ tạo áp lực lên sinh kế của người dân. Nhà nước nên ưu tiên nuôi dưỡng nguồn thu dài hạn, thay vì tận thu ngắn hạn.
Thứ ba, phải hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số theo hướng đơn giản, dễ dùng, chi phí thấp. Nhiều chủ hộ lớn tuổi không quen công nghệ, nên khi tiếp cận hóa đơn điện tử hay quản trị số thường lúng túng. Nếu chỉ bắt buộc mà không hỗ trợ đào tạo, hướng dẫn trực tiếp thì chính sách rất khó đi vào thực tế.
Thứ tư, cần mở rộng khả năng tiếp cận vốn và mặt bằng kinh doanh ổn định. Hộ kinh doanh hiện nay rất khó vay vốn do thiếu tài sản bảo đảm, hồ sơ kế toán chưa chuẩn hóa. Trong khi đó đây lại là khu vực có tính linh hoạt rất cao, tạo việc làm trực tiếp cho xã hội. Nếu được tiếp cận tín dụng phù hợp, họ có thể phát triển rất nhanh.
Thứ năm, phải tạo niềm tin để hộ kinh doanh "muốn lớn lên", chứ không phải "sợ lớn". Nguyên nhân không phải vì họ không muốn phát triển, mà vì họ lo chi phí tuân thủ tăng mạnh, thanh tra kiểm tra nhiều hơn, thủ tục phức tạp hơn. Vì vậy, cần xây dựng một lộ trình chuyển đổi mềm mại, có hỗ trợ thật sự về thuế, kế toán, pháp lý và đào tạo quản trị.
Ông Nam khẳng định nếu chúng ta coi hộ kinh doanh là "hạt giống doanh nghiệp" của nền kinh tế, hỗ trợ họ lớn lên một cách tự nhiên và bền vững thì đây sẽ là nguồn lực rất quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển 2 triệu doanh nghiệp và xây dựng nền kinh tế tư nhân vững mạnh trong giai đoạn tới.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

