Dork dancing – ‘hot trend’ mới của người nước ngoài ở Đà Nẵng

Dork dancing - 'hot trend' mới của người nước ngoài ở Đà Nẵng

Thói quen của Roshni và bạn trai Louis Hunt trong hơn hai tháng ở Đà Nẵng là cứ đến 17h thay đồ thể thao, ra bãi biển Mỹ Khê tham gia lớp nhảy tự do trên nền nhạc sôi động (dork dancing).

Lớp có hơn 30 thành viên, bao gồm cả người dân bản địa và khách quốc tế. Họ đứng thành hàng, vận động theo nhạc mô phỏng các động tác aerobic và dân vũ. “Ban đầu tôi chỉ đứng xem, nhưng người dân vẫy tay ra hiệu mời vào nhảy cùng và ‘nghiện’ luôn từ đó”, Roshni nói.

Nữ du khách người Anh bất ngờ khi biết lớp nhảy hoàn toàn miễn phí. Tại quê nhà cô, để tham gia các lớp thể thao tương tự, mọi người phải đăng ký hội viên và trả phí tại các trung tâm thể hình trong nhà. Do yếu tố thời tiết, các hoạt động thể chất công cộng ngoài trời tại Anh ít phổ biến. Trong khi đó, tại bờ biển Đà Nẵng, các hoạt động vận động diễn ra từ 4h sáng đến tối muộn.

Video Roshni ghi lại cảnh cùng bạn trai trải nghiệm lớp nhảy này đã thu hút hàng trăm nghìn lượt xem trên mạng xã hội.

Thời gian đầu tham gia lớp nhảy trên bờ biển, Jessica gặp khó khăn do các động tác diễn ra liên tục trên nền nhạc nhanh và sôi động, không có huấn luyện viên chỉ dẫn từng bước. Tuy nhiên, cô dần bắt nhịp bằng cách quan sát và làm theo người đứng đầu hàng.

Con trai của Jessica mắc hội chứng Down và tự kỷ. Cô thấy xúc động bởi mỗi lần đưa con ra bãi biển, người dân xung quanh đều hỗ trợ, hướng dẫn cậu bé tập luyện. “Con tôi được quan tâm và trở thành một phần của cộng đồng này”, cô nói.

Bên cạnh các lớp nhảy, khu vực dọc bãi biển Đà Nẵng được lắp đặt hệ thống thiết bị tập luyện gồm xà đơn, máy đi bộ, tạ công cộng. Các nhóm tập yoga, bóng chuyền bãi biển cũng hoạt động liên tục.

Jessica cho biết, tại Mỹ, các thiết bị tương tự cũng được trang bị ở công viên nhưng tần suất sử dụng không cao. “Nhịp sống bận rộn khiến mọi người ít có thời gian tụ họp ngoài trời. Tại đây, tôi thấy người dân duy trì thói quen dành thời gian cho gia đình, bạn bè để cùng ăn uống và tập thể dục”, Jessica nói.

Trên các nền tảng mạng xã hội, từ khóa “free fitness class on Da Nang beach” (lớp thể dục miễn phí trên bãi biển Đà Nẵng) thu hút hàng triệu lượt xem. Nhiều người nước ngoài bày tỏ sự ngạc nhiên trước thói quen vận động công cộng của người Việt tại các thành phố lớn như Đà Nẵng, Hà Nội hay TP HCM. Các nhóm “Dork dancing for mental health” ở Đà Nẵng cũng thu hút hàng nghìn người nước ngoài quan tâm.

Chị Khánh An, 40 tuổi, thành viên lớp nhảy tại bãi biển Mỹ Khê, cho biết nhóm khởi nguồn từ vài phụ nữ địa phương tự góp tiền mua loa, tổ chức tập theo video trên Internet. Những người có kinh nghiệm hơn sẽ đứng hàng đầu để điều phối nhịp điệu cho cả nhóm.

“Vài tháng nay, bất ngờ có rất đông người nước ngoài đến tập cùng chúng tôi từ sớm. Có những buổi lên đến gần 100 người”, chị An cho biết.

Susan Lindgren, 58 tuổi, huấn luyện viên sức khỏe người Mỹ đã sống tại Đà Nẵng hơn hai năm. Bà thường xuyên trải nghiệm các bộ môn thể dục tại không gian công cộng ở đây như acro yoga, salsa, nhảy dây nghệ thuật và dork dancing. “Dork dancing được mọi lứa tuổi yêu thích bởi không yêu cầu kỹ thuật, giúp người tập giải tỏa áp lực tinh thần thông qua vận động cơ thể tự nhiên theo nhịp điệu”, bà nói.

Dưới góc nhìn chuyên môn, bà nhận định việc lồng ghép hoạt động thể chất vào đời sống sinh hoạt hàng ngày như một thói quen tự nhiên là phương pháp duy trì sức khỏe bền vững.

  Mới đi làm chưa được giao việc, 'há miệng chờ sung' hay chủ động tìm việc?

“Hoạt động tại bãi biển Đà Nẵng giống như một hình thức giao lưu xã hội. Người tham gia vừa vận động, vừa kết nối, gặp gỡ bạn bè. Đây là đặc trưng khác biệt lớn nhất so với văn hóa thể thao tại Mỹ”, bà nói.

Lý giải xu hướng này, ông Nguyễn Tiến Đạt, Tổng giám đốc AZA Travel, nhận định Đà Nẵng sở hữu lợi thế là điểm đến “tất cả trong một”. Bên cạnh các sản phẩm du lịch cốt lõi, những hoạt động thể thao tự phát và miễn phí ở bãi biển hay công viên đang tạo ra giá trị cộng thêm cho điểm đến.

“Chúng giúp du khách nước ngoài cảm nhận rõ nét sự thân thiện, hiếu khách và nhịp sống an lành của người dân bản địa, từ đó gia tăng thời gian lưu trú và chi tiêu”, ông nói.

Đồng quan điểm, PGS TS Phạm Ngọc Trung, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho rằng tính chất cộng đồng trong văn hóa bản địa giúp xóa bỏ rào cản về ngôn ngữ và quốc tịch. Khi du khách nước ngoài cùng tập thể dục, họ không còn là người quan sát, mà đã tham gia vào nhịp sống thường nhật của địa phương.

“Trải nghiệm tương tác bình đẳng, không thương mại hóa này chính là chất xúc tác giữ chân những du khách thế hệ mới”, ông Trung nói.

Tin Gốc: Vnexpress