Ngày 25.4, thông tin từ Phòng Cảnh sát hình sự Công an thành phố Đà Nẵng cho biết cơ quan này đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Mai Thành Trung (26 tuổi, trú phường Hải Châu) để điều tra về hành vi “cưỡng dâm”. Mai Thành Trung đã dùng clip nhạy cảm ép người yêu cũ quan hệ tình dục với nhiều người đàn ông để thu tiền.
Trước đó, ngày 23.4, Phòng Cảnh sát hình sự tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng chuyển đến. Ngay sau đó, lãnh đạo đơn vị chỉ đạo, phân công nhiều điều tra viên khẩn trương xác minh, chỉ trong 1 ngày đã làm rõ hành vi phạm tội của Mai Thành Trung.
Theo kết quả điều tra ban đầu, khoảng tháng 8.2025, Trung quen biết và có quan hệ tình cảm với N.H.T.M (18 tuổi, trú huyện Hòa Vang cũ). Trong thời gian quen nhau, 2 người nhiều lần tự nguyện quan hệ tình dục, đồng thời M. tự quay video nhạy cảm gửi cho Trung.
Sau khi chia tay vào đầu tháng 2.2026, giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn. Lợi dụng việc đang lưu giữ các video nhạy cảm, Trung liên tục đe dọa sẽ phát tán cho người thân, bạn bè của M. hoặc đăng tải lên các trang web đồi trụy nếu không đáp ứng yêu cầu của anh ta.
Từ cuối tháng 2.2026, Trung nhiều lần uy hiếp, ép buộc M. phải quan hệ tình dục với nhiều người (gồm Trung và các nam giới khác do Trung liên hệ qua mạng xã hội). Do lo sợ bị phát tán hình ảnh nhạy cảm, M. buộc phải chấp nhận. Bước đầu xác định, Trung đã ép buộc M. quan hệ 9 lần với nhiều người đàn ông khác nhau.
Không chỉ vậy, Trung còn thu tiền từ những người này với mỗi lần từ 500.000 đồng đến 1,5 triệu đồng. Tổng cộng 9 lần ép chị M. quan hệ tình dục Trung đã thu số tiền 10,7 triệu đồng. Đến ngày 21.4, Trung tiếp tục yêu cầu M. đưa 10 triệu đồng để xóa các video nhạy cảm.
Cơ quan công an đã tạm giữ 2 USB chứa dữ liệu video liên quan, 1 điện thoại di động và 1 máy tính xách tay để phục vụ điều tra.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đang tiếp tục mở rộng vụ án, làm rõ hành vi của các nghi phạm liên quan để xử lý nghiêm.
Một trong những nội dung quan trọng được xây dựng tại dự thảo là hoàn thiện tổ chức, bộ máy của cơ quan điều tra phù hợp với tổ chức mới của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; phân định rõ và bảo đảm tính độc lập, khách quan giữa hoạt động điều tra, công tố.
Theo đó, Bộ Công an đề xuất không quy định Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao; bỏ cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện; giao bộ trưởng Bộ Công an và bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết về tổ chức, bộ máy cơ quan điều tra của mỗi ngành.
Cơ quan soạn thảo cũng đề xuất chuyển thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao sang Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh được tiến hành điều tra các vụ án hình sự quy định từ chương XIV đến chương XXIV của bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét của TAND.
Đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền của các cơ quan điều tra trong quân đội phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới khi bỏ Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Quân sự Trung ương.
Bộ Công an cho hay, việc tổ chức cơ quan điều tra ở nhiều bộ, ngành tạo ra nhiều đầu mối khiến hệ thống cơ quan điều tra vẫn còn cồng kềnh, chồng chéo, chưa phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan điều tra.
Việc sửa đổi về tổ chức, bộ máy cơ quan điều tra sẽ giúp khắc phục tình trạng trên, phân định rõ ràng các chức năng điều tra, truy tố và xét xử của cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án.
Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự hiện hành quy định Cơ quan điều tra Viện KSND tối cao có thẩm quyền tiến hành điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại chương XXIII và chương XXIV của bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc cơ quan điều tra, TAND, viện KSND, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND.
Dự thảo luật sửa đổi dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại kỳ họp thứ 2 khóa XVI.
Bộ Tư pháp vừa có tiếp thu, giải trình bước đầu gửi đại biểu Quốc hội liên quan về dự án luật Hộ tịch (sửa đổi).
Liên quan tới điều 2, về quy định giải thích từ ngữ, ý kiến đại biểu cho rằng, khoản 8 chỉ xác định cách thức xác định quê quán của một người, nhưng vẫn chưa làm rõ được thế nào là quê quán, tiêu chí thế nào để xác định quê quán.
Việc quy định quê quán cá nhân xác định theo quê quán của cha hoặc mẹ để tạo thành chuỗi 3 đời rất khó khai, đề xuất sửa thành "quê quán của cá nhân được xác định theo nơi sinh của cha hoặc của mẹ nếu có sự thỏa thuận".
Cũng có ý kiến đề nghị cân nhắc nghiên cứu bỏ trường thông tin "quê quán" và chỉ dùng "nguyên quán" do tính cơ động của xã hội hiện nay, việc xác định quê quán phức tạp và dễ gây tâm lý cục bộ địa phương.
Trả lời về thông tin "quê quán", Bộ Tư pháp tiếp thu ý kiến để chuyển quy định về quê quán sang khoản 4 điều 15 để bảo đảm phù hợp.
Về đề nghị bỏ trường thông tin "quê quán", Bộ Tư pháp nhận thấy "quê quán" là thông tin hộ tịch truyền thống, gắn với yếu tố nguồn gốc gia đình, dòng họ, có ý nghĩa nhất định trong quản lý dân cư và trong đời sống xã hội, văn hóa của người Việt Nam.
Trong khi đó, "nguyên quán" cũng phản ánh nguồn gốc nhưng cách hiểu và phạm vi áp dụng trong thực tiễn và các hệ thống pháp luật chưa hoàn toàn thống nhất.
Do đó, việc thay thế hoàn toàn "quê quán" bằng "nguyên quán" cần được cân nhắc thận trọng để bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật và dữ liệu hộ tịch.
Thực tiễn cho thấy thông tin "quê quán" đã và đang được sử dụng thống nhất trong nhiều loại giấy tờ, cơ sở dữ liệu.
Việc bỏ trường thông tin này có thể dẫn đến xáo trộn lớn trong hệ thống dữ liệu, phát sinh chi phí chuyển đổi và ảnh hưởng đến tính liên thông, kế thừa của thông tin đã được xác lập hợp pháp trước đây.
Cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng nhận thấy trong thực tiễn việc xác định "quê quán" trong một số trường hợp còn chưa thống nhất, dễ phát sinh cách hiểu khác nhau, do đó đề nghị trước mắt cần chuẩn hóa cách xác định, ghi nhận thông tin "quê quán" theo hướng đơn giản, rõ ràng, thống nhất, thay vì loại bỏ hoàn toàn trường thông tin này.
Dự kiến, Quốc hội sẽ cho ý kiến, biểu quyết thông qua luật Hộ tịch (sửa đổi) tại đợt 2, kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI diễn ra từ 20 - 24.4.
HĐND TP Hà Nội vừa thông qua Nghị quyết số 56 quy định mức tiền phạt mới đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự và trật tự đô thị trên địa bàn.
Theo nghị quyết, từ ngày 1/7, thành phố áp dụng mức phạt tiền cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với mức chung của Chính phủ đối với 28 hành vi vi phạm. Cùng một hành vi, tổ chức bị phạt gấp hai lần cá nhân. Các hành vi xảy ra trước ngày 1/7 vẫn áp dụng mức phạt theo quy định hiện hành của Chính phủ.
Các hành vi được tăng mức xử phạt tập trung ở ba nhóm. Trong đó, nhóm vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú có 12 hành vi, với mức phạt từ 3 đến 6 triệu đồng đối với các hành vi như tẩy xóa giấy tờ cư trú, cho mượn thông tin cư trú trái quy định hoặc không thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký cư trú khi đủ điều kiện. Cơ sở kinh doanh lưu trú không thông báo lưu trú từ 4 đến 8 người bị phạt từ 6 đến 12 triệu đồng.
Nhóm vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú và đi lại có 7 hành vi được tăng mức phạt, từ 1 triệu đến 40 triệu đồng tùy từng hành vi.
Đối với lĩnh vực giao thông đường bộ và trật tự đô thị, 4 hành vi bị nâng mức xử phạt, trong đó hành vi sử dụng trái phép lòng đường, vỉa hè để họp chợ, kinh doanh ăn uống hoặc bày bán hàng hóa bị phạt từ 4 đến 6 triệu đồng. Hành vi bán hàng rong trên tuyến phố cấm bị phạt từ 400.000 đến 500.000 đồng.
Trước khi nghị quyết được thông qua, UBND TP Hà Nội từng đề xuất tăng mức phạt đối với 47 hành vi. Sau quá trình lấy ý kiến nhân dân và hoàn thiện dự thảo, số hành vi áp dụng mức phạt tăng còn 28.
Theo UBND thành phố, việc tăng mức xử phạt nhằm cụ thể hóa Luật Thủ đô và góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn lớn về ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường, trật tự đô thị và an toàn thực phẩm. Trong đó, trọng tâm là xử lý các hành vi phổ biến gây mất trật tự đô thị, ùn tắc, tai nạn giao thông hoặc làm sai lệch dữ liệu dân cư quốc gia, đồng thời nâng cao tính răn đe và hiệu quả thực thi pháp luật trong điều kiện đặc thù của Thủ đô