Ngày 29-5, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế phát đi thông báo cập nhật về tình hình dịch bệnh do vi rút Ebola trong bối cảnh ca mắc ghi nhận tại một số quốc gia tăng nhanh.
Cụ thể, theo thông tin từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO), dịch Ebola tại Cộng hòa dân chủ Congo và Uganda đang tiếp tục diễn biến phức tạp, số ca mắc gia tăng, có sự mở rộng về địa bàn và ghi nhận nguy cơ lây truyền qua biên giới.
Ngày 17-5, dịch Ebola do chủng Bundibugyo đã được WHO công bố là “Sự kiện y tế công cộng gây quan ngại quốc tế” (PHEIC).
Tính đến ngày 27-5, Congo ghi nhận 1.077 ca nghi nhiễm, trong đó có 238 ca tử vong nghi ngờ; 121 ca xác định với 17 ca tử vong. Uganda ghi nhận 7 ca xác định, trong đó một người tử vong. Tổng cộng hai quốc gia đã có 128 ca xác định và 18 ca tử vong.
WHO đánh giá nguy cơ dịch tại Cộng hòa dân chủ Congo ở mức rất cao và nguy cơ ở cấp khu vực (bao gồm Uganda) ở mức cao do còn có lây truyền trong cộng đồng.
Nguy cơ tồn tại các chuỗi lây truyền chưa được phát hiện, gia tăng số ca liên quan đến di chuyển qua biên giới và mạng lưới người tiếp xúc mở rộng; và nguy cơ ở cấp toàn cầu hiện ở mức thấp. Trong khi đó, hiện chủng Bundibugyo chưa có vắc xin hay phương pháp điều trị đặc hiệu được phê duyệt.
Trước diễn biến của dịch bệnh, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế đã phối hợp với WHO, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (US.CDC), các bộ, ngành liên quan và các chuyên gia tổ chức đánh giá nguy cơ bệnh xâm nhập vào Việt Nam.
Theo đánh giá hiện nay, Việt Nam chưa ghi nhận ca bệnh và nguy cơ bệnh xâm nhập vào Việt Nam ở mức thấp.
Tuy nhiên không loại trừ khả năng ghi nhận ca bệnh xâm nhập, nhất là trong bối cảnh giao lưu đi lại quốc tế tiếp tục gia tăng.
Thời gian qua, Bộ Y tế đã chủ động triển khai các hoạt động phòng chống dịch từ sớm, từ xa; tổ chức cập nhật các hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật, tổ chức tập huấn, hướng dẫn chuyên môn cho các tỉnh, thành phố về giám sát, xét nghiệm, phát hiện sớm, điều tra, truy vết, quản lý trường hợp bệnh nghi ngờ.
Đồng thời các địa phương đã tăng cường giám sát người nhập cảnh, đặc biệt là người đi về từ khu vực đang có dịch; rà soát phương án đáp ứng, chuẩn bị sẵn sàng nhân lực, vật tư, hóa chất, trang thiết bị, khu vực cách ly và điều trị khi cần thiết, nhằm phát hiện sớm, xử lý kịp thời, không để dịch bệnh lây lan tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và trong cộng đồng.
Để chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh Ebola, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế đề nghị người dân:
– Không hoang mang, cần chủ động cập nhật thông tin từ các nguồn chính thống; khi có biểu hiện nghi ngờ sau khi đi về từ khu vực đang có dịch hoặc có tiếp xúc với trường hợp nghi ngờ, cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám và xử trí kịp thời.
– Hạn chế các chuyến đi không cần thiết đến những khu vực bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
– Đối với những công dân buộc phải đến các khu vực này, cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa như tránh tiếp xúc với người bị bệnh hoặc có triệu chứng như sốt, nôn ói hoặc tiêu chảy.
Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với WHO, US.CDC và các tổ chức quốc tế để cập nhật tình hình, đánh giá nguy cơ thường xuyên và triển khai các biện pháp phòng chống dịch phù hợp với diễn biến thực tế.
Nếu bữa tối có quá nhiều tinh bột trắng hoặc đường, mức đường huyết có thể tăng cao và khó kiểm soát hơn. Các chuyên gia dinh dưỡng thường khuyến khích người tiểu đường ưu tiên ăn các loại rau củ chứa ít đường bột, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Dưới đây là những loại thực vật mà người tiểu đường nên ưu tiên ăn vào bữa tối:
Bông cải xanh là một trong những loại rau được khuyến nghị nhiều nhất cho người mắc tiểu đường. Loại thực vật này chứa ít tinh bột nhưng lại giàu chất xơ, vitamin C, vitamin K và nhiều hợp chất thực vật có lợi cho sức khỏe.
Nhờ hàm lượng chất xơ cao, bông cải xanh giúp làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thu đường từ thức ăn. Điều này góp phần hạn chế tình trạng đường huyết tăng nhanh sau bữa ăn, bà Grace Phelan, chuyên gia dinh dưỡng tại bệnh viện Tufts Medical Center (Mỹ), cho biết.
Bông cải xanh cũng rất dễ chế biến. Người bệnh có thể hấp, luộc hoặc xào nhanh với một lượng nhỏ dầu thực vật. Những cách chế biến đơn giản này giúp giữ được phần lớn dưỡng chất mà không làm tăng quá nhiều calo cho bữa ăn.
Rau chân vịt, còn gọi là cải bó xôi, là loại rau lá xanh chứa rất ít tinh bột nhưng lại giàu chất xơ cùng nhiều vi chất dinh dưỡng quan trọng.
Trong rau chân vịt có hàm lượng đáng kể khoáng chất magiê. Đây là khoáng chất tham gia vào nhiều quá trình chuyển hóa của cơ thể, bao gồm cả hoạt động của hoóc môn insulin. Rau chân vịt có thể dùng để nấu canh, luộc, xào hoặc kết hợp với các nguồn protein như cá, thịt gà, đậu phụ để tạo thành bữa tối cân đối và giàu dinh dưỡng.
Đậu que là loại thực vật quen thuộc trong bữa ăn gia đình nhưng thường bị đánh giá thấp về giá trị dinh dưỡng. Chất xơ trong đậu que giúp làm chậm quá trình hấp thu đường glucose từ thức ăn, đồng thời có lợi cho hoạt động tiêu hóa. Ngoài ra, đậu que còn cung cấp vitamin A, vitamin C và nhiều hợp chất chống ô xy hóa có lợi cho sức khỏe tổng thể.
Một điểm thuận tiện khác là đậu que dễ kết hợp với nhiều món khác. Người bệnh có thể luộc, hấp hoặc xào nhanh cùng thịt nạc, hải sản hoặc đậu phụ.
Cải xoăn cùng các loại rau lá xanh đậm như cải thìa, cải xanh, cải bẹ hay cải ngọt đều là những lựa chọn rất tốt cho người mắc tiểu đường.
Nhóm rau này có đặc điểm chung là giàu chất xơ, vitamin A, vitamin C, vitamin K và nhiều hợp chất chống ô xy hóa. Hàm lượng tinh bột trong các loại rau lá xanh thường thấp nên ít ảnh hưởng đến đường huyết sau ăn.
Mặc dù rau là nhóm thực phẩm có lợi cho người tiểu đường, việc kiểm soát đường huyết không chỉ phụ thuộc vào lượng rau ăn vào. Cách chế biến cũng là yếu tố quan trọng. Cần hạn chế các món rau xào nhiều dầu hay chế biến với các loại nước sốt có nhiều đường. Những thành phần này có thể làm tăng đáng kể lượng calo và ảnh hưởng không tốt đến việc kiểm soát đường huyết, theo Eating Well.
U xơ tử cung và u nang buồng trứng là 2 bệnh lý phụ khoa thường gặp ở phụ nữ, đặc biệt trong độ tuổi sinh sản và tiền mãn kinh. Phần lớn các khối u là lành tính, nhưng khi phát triển lớn hoặc gây các triệu chứng như rong kinh, đau vùng chậu, rối loạn kinh nguyệt, chèn ép bàng quang hay ảnh hưởng khả năng mang thai, người bệnh cần được thăm khám và điều trị phù hợp.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Trương Thị Thảo, Phó giám đốc Bệnh viện đa khoa Gia Định, việc lựa chọn phương pháp điều trị cần dựa trên nhiều yếu tố như kích thước, vị trí, số lượng, tính chất khối u; triệu chứng, độ tuổi, tiền sử sinh sản, mong muốn có con và tình trạng sức khỏe tổng quát của người bệnh.
Không phải mọi trường hợp u xơ tử cung hay u nang buồng trứng đều phải phẫu thuật. Một số trường hợp chỉ cần theo dõi định kỳ hoặc điều trị nội khoa. Tuy nhiên, khi khối u gây triệu chứng kéo dài, ảnh hưởng chất lượng sống hoặc có nguy cơ biến chứng, bác sĩ có thể chỉ định can thiệp ngoại khoa.
Trước đây, nhiều trường hợp phải mổ hở với đường mổ lớn và thời gian hồi phục kéo dài. Hiện nay, nhờ sự phát triển của phẫu thuật nội soi phụ khoa, nhiều người bệnh có thể được điều trị bằng phương pháp ít xâm lấn hơn.
Phẫu thuật nội soi sử dụng camera và dụng cụ chuyên biệt đưa vào ổ bụng qua các vết rạch nhỏ. Hình ảnh phóng đại giúp bác sĩ quan sát rõ vùng phẫu thuật, bóc tách khối u chính xác, kiểm soát chảy máu và hạn chế tổn thương mô lành.
Đối với u xơ tử cung, nội soi có thể giúp bóc nhân xơ và xử lý khối u nhưng vẫn cố gắng bảo tồn tử cung ở những trường hợp phù hợp. Với u nang buồng trứng, phương pháp này giúp loại bỏ khối nang nhưng vẫn giữ lại tối đa phần mô buồng trứng khỏe mạnh, góp phần duy trì chức năng nội tiết và khả năng sinh sản.
Ưu điểm của phẫu thuật nội soi gồm:
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều phù hợp với nội soi. Những khối u quá lớn, vị trí phức tạp hoặc nghi ngờ ác tính cần được bác sĩ đánh giá kỹ để lựa chọn phương án an toàn nhất.
Phụ nữ nên chủ động khám phụ khoa khi có các dấu hiệu sau:
Ngay cả khi chưa có triệu chứng, phụ nữ vẫn nên khám phụ khoa định kỳ. Việc chẩn đoán sớm các vấn đề phụ khoa giúp tăng lựa chọn điều trị, hạn chế biến chứng và nâng cao khả năng bảo tồn chức năng sinh sản.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Châu Thị Anh, phụ trách Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho biết khi khoai tây tiếp xúc với ánh sáng (đặc biệt là ánh sáng mặt trời hoặc đèn huỳnh quang cường độ cao) sẽ tự động kích hoạt quá trình quang hợp, sản sinh ra chất diệp lục khiến vỏ chuyển sang màu xanh.
"Điều đáng lo ngại, quá trình quang hợp tạo ra diệp lục cũng đồng thời là tín hiệu kích hoạt củ khoai tây tăng cường tổng hợp Glycoalkaloid, mà chủ yếu là solanine và chaconine. Đây là cơ chế phòng vệ tự nhiên của thực vật để chống lại côn trùng và động vật ăn cỏ. Solanine có tính chất ăn mòn dạ dày và ức chế enzyme cholinesterase - một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng", bác sĩ Châu Thị Anh phân tích.
Khi ăn phải, ngộ độc nhẹ có thể gây đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, nóng rát cổ họng. Ngộ độc nặng có thể gây chóng mặt, ảo giác, rối loạn nhịp tim, tê liệt thần kinh trung ương, suy hô hấp và thậm chí có thể dẫn đến tử vong.
Không ít người cho rằng khoai tây mọc mầm độc hơn khoai tây có vỏ xanh. Tuy nhiên, để đánh giá đúng mức độ nguy hiểm cần phân biệt giữa nồng độ độc tố và tổng lượng độc tố có trong cả củ khoai.
Ở khoai tây mọc mầm, solanine tập trung nhiều nhất tại phần mầm và các "mắt" của củ. Nếu khoai chỉ mới nhú một vài mầm nhỏ, phần thịt còn lại vẫn cứng, không đổi màu thì lượng độc tố chủ yếu nằm ở khu vực này. Trong trường hợp đó, việc khoét bỏ thật sâu toàn bộ phần mầm và chân mầm có thể loại bỏ phần lớn độc tố, dù cách an toàn nhất vẫn là không sử dụng.
Ngược lại, với khoai tây chuyển xanh, solanine không chỉ tập trung ở lớp vỏ mà còn lan xuống phần thịt ngay dưới vỏ. Mặc dù nồng độ solanine tại từng điểm trên vỏ xanh có thể thấp hơn ở chóp mầm, nhưng vùng bị ảnh hưởng thường trải rộng trên diện tích lớn. Vì vậy, một củ khoai chuyển xanh gần như toàn bộ bề mặt có thể tích lũy tổng lượng solanine cao hơn nhiều so với một củ khoai chỉ mới mọc vài mầm nhỏ. Điều này làm tăng nguy cơ người ăn hấp thu lượng độc tố vượt ngưỡng an toàn, nhất là khi chỉ gọt vỏ sơ sài trước khi chế biến.
Khoai tây nên được bảo quản ở nơi tối, khô ráo và mát mẻ như trong túi giấy tối màu hoặc ngăn tủ kín, tránh ánh nắng trực tiếp hay khu vực luôn sáng đèn. Đồng thời, không nên để khoai chung với hành tây vì khí ethylene do hành tây giải phóng có thể thúc đẩy khoai nảy mầm nhanh hơn.