Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 nhấn mạnh chỉ khi bám sát cơ sở, địa bàn dân cư, nắm chắc tình hình nhân dân, công tác Mặt trận mới thực sự hiệu quả.
“Gần dân, sát dân” không phải là khẩu hiệu hành chính mà đã trở thành phương thức hành động của Mặt trận các cấp. Điều này thể hiện rõ trong phong trào vận động hiến đất làm đường, chỉnh trang nông thôn mới tại nhiều địa phương của Hà Nội.
Ở Minh Châu, xã đảo duy nhất của Hà Nội, “dân vận khéo” không chỉ là khẩu hiệu, mà là cách giải quyết việc khó bằng phương châm công khai – lắng nghe – thuyết phục – đồng thuận, điển hình là phong trào “xanh thôn, sạch ngõ, đẹp điểm đến”. Dân vận khéo còn thể hiện rõ trong việc chấn chỉnh công tác quản lý đất đai, đất công ích, xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt, xã đã vận động nhân dân đồng thuận giải phóng mặt bằng mỏ cát phục vụ thi công dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.
Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân hiểu, dân đồng thuận, dân giám sát”, xã tổ chức đối thoại trực tiếp, công khai chủ trương và chính sách bồi thường. Kết quả, 100% hộ dân đồng thuận nhận bồi thường, bàn giao mặt bằng, bảo đảm tiến độ dự án và giữ vững an ninh trật tự. Đồng thời, khi xã có chủ trương mở rộng đường giao thông, xây dựng các khu vui chơi cộng đồng, nhiều hộ dân trên địa bàn đã hiến đất, góp tiền, ngày công lao động với sự đồng thuận cao.
Tại xã Vật Lại, hàng chục hộ dân tự nguyện hiến hàng trăm mét vuông đất, tháo dỡ công trình, tường rào để mở rộng đường giao thông nông thôn. Ở xã Đoài Phương, phong trào hiến đất được lan tỏa nhờ sự kiên trì tuyên truyền, đối thoại trực tiếp của Ban Công tác Mặt trận thôn. Xã Phượng Dực vận động nhân dân hiến đất chỉnh trang ao hồ, xây dựng hạ tầng đồng bộ, hướng tới tiêu chí đô thị văn minh.
Điểm chung ở những địa bàn này là Mặt trận không đứng ngoài vận động mà vào cuộc từ sớm, từ cơ sở. Cán bộ Mặt trận nắm bắt tâm tư, phân tích lợi ích lâu dài, tạo niềm tin rằng mỗi mét đất hiến tặng hôm nay chính là đầu tư cho tương lai con cháu mai sau. Khi người dân hiểu, người dân tin và đồng thuận, việc khó sẽ thành dễ, việc cá nhân sẽ trở thành việc chung, việc của làng, việc của nước. Vai trò “cầu nối” không còn trừu tượng mà hiện diện sinh động trong từng quyết định của mỗi gia đình, từng mét đường được mở rộng, diện mạo xóm làng khang trang, lòng người thêm nhiều niềm vui mới.
Công tác giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 1, đoạn Voi Phục – Hoàng Cầu (Hà Nội) lại là bài kiểm nghiệm vai trò của Mặt trận trong giải quyết những tồn tại cũ kéo dài, những “việc lớn, việc khó” của thủ đô. Đây là dự án trọng điểm, liên quan hàng nghìn hộ dân, đòi hỏi sự đồng thuận cao. Tại P.Giảng Võ, kinh nghiệm được nhấn mạnh là phải công khai, minh bạch, đối thoại nhiều vòng, giải thích cặn kẽ chính sách, lắng nghe từng kiến nghị cụ thể. Mặt trận phường cùng các tổ chức thành viên trực tiếp tham gia tuyên truyền, vận động, giám sát quá trình thực hiện, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân.
Không chỉ là “người vận động”, Mặt trận còn là kênh phản biện, góp ý để chính sách sát thực tế hơn. Khi người dân thấy tiếng nói của mình được lắng nghe, sự hy sinh quyền lợi riêng vì lợi ích chung sẽ trở nên tự giác hơn. Cụm từ “gần dân” là từ khóa được nhắc lại nhiều lần trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI. Trong phương hướng hành động giai đoạn 2026 – 2031, dự thảo nhấn mạnh tiếp tục đổi mới toàn diện về tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động theo hướng thực chất, hiệu quả, hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân, đồng hành cùng nhân dân. Thực hiện tốt phương châm “khi dân cần Mặt trận có, khi dân khó Mặt trận sẵn sàng tham gia”, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới và lợi ích, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân.
Tăng cường vai trò chủ trì của MTTQ VN, sự chủ động phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên, phát huy thế mạnh của từng tổ chức. Thực hành dân chủ; thực hiện tốt chức năng là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, lắng nghe và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
Trong công tác xây dựng bộ máy của MTTQ VN giai đoạn mới, dự thảo yêu cầu phải tinh gọn, thực hiện đúng chức năng, không hành chính hóa, gần dân, gần cơ sở, gần không gian số, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Yêu cầu đối với cán bộ Mặt trận và các đoàn thể trong giai đoạn mới cũng được dự thảo nhấn mạnh phải là hạt nhân nòng cốt, giữ “3 gần”: gần dân – gần cơ sở – gần không gian số; “5 phải”: phải lắng nghe – phải đối thoại – phải làm mẫu – phải chịu trách nhiệm – phải báo cáo kết quả; “4 không”: không hình thức – không né tránh – không đùn đẩy – không làm sai chức năng.
Cạnh đó, cần nâng cao năng lực tham mưu, đề xuất đối với cán bộ chuyên trách công tác mặt trận các cấp, nhất là ở T.Ư. Xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận, các tổ chức thành viên có phong cách, phương thức hoạt động gần dân, sát dân, đồng hành cùng nhân dân, đặc biệt là ở cấp cơ sở.
Vai trò gần dân, sát dân càng được khẳng định trong những thời điểm thiên tai, dịch bệnh. Trong đợt mưa lũ lớn năm 2025, Mặt trận các cấp đã xuyên đêm tiếp nhận, phân loại, vận chuyển hàng hóa, lương thực, thực phẩm tới đồng bào vùng lũ. Nhiều cán bộ, tình nguyện viên thức trắng nhiều ngày để bảo đảm từng chuyến hàng đến đúng nơi, đúng đối tượng và đến sớm nhất với đồng bào vùng thiên tai. Hình ảnh ấy không chỉ là sự tận tâm mà còn là minh chứng cho bản chất “vì dân” của hệ thống Mặt trận. Khi người dân gặp khó khăn, Mặt trận không chờ chỉ đạo mà chủ động kết nối nguồn lực xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết để sẻ chia kịp thời.
Không chỉ giải quyết những việc “truyền thống”, Mặt trận còn tiên phong trong “việc mới” – chuyển đổi số. Nhiều địa phương trên cả nước đã triển khai chuyển đổi số toàn diện trong công tác tuyên truyền, giám sát, phản biện, tiếp nhận ý kiến nhân dân. Việc xây dựng “Mặt trận số” không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là mở rộng không gian tập hợp, phát huy dân chủ, để người dân có thể tham gia góp ý, phản ánh, giám sát thuận tiện hơn. Đây chính là bước đi phù hợp với yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả theo mô hình mới.
Trong bối cảnh cao điểm chuẩn bị công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031, việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp công tác hiệp thương, lấy ý kiến cử tri, nắm bắt dư luận được thực hiện công khai, minh bạch, kịp thời hơn. Qua đó, Mặt trận tiếp tục khẳng định vai trò chủ trì hiệp thương, bảo đảm lựa chọn những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Trong các mục tiêu cụ thể của giai đoạn 2026 – 2031 được đặt ra trong dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ VN lần thứ XI, các nhiệm vụ để Mặt trận thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân được nêu nổi bật. Cụ thể, hằng năm, 100% Ủy ban MTTQ VN, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức thành viên các cấp tổ chức “Tháng nghe dân nói”. 100% Ủy ban MTTQ VN các cấp và các tổ chức thành viên có báo cáo phản ánh kịp thời tình hình nhân dân và đề xuất giải pháp, hướng giải quyết.
100% Ủy ban MTTQ VN, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức thành viên triển khai “Cổng Mặt trận số” tiếp nhận kiến nghị 24/7. Phấn đấu 100% xã, phường thiết lập trang mạng xã hội để tương tác trực tiếp với người dân, tiếp nhận phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân. Hằng năm, 100% Ủy ban MTTQ VN cấp tỉnh triển khai một mô hình điểm về đối thoại xã hội. Các tổ chức chính trị – xã hội ở mỗi cấp phấn đấu tham mưu, tổ chức ít nhất một hội nghị đối thoại giữa cán bộ đoàn viên, hội viên với cấp ủy, chính quyền cùng cấp.
Phát biểu trước cử tri tỉnh Phú Thọ ngày 6.3 vừa qua, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh trong phạm vi trách nhiệm của mình, Ủy ban sẽ tham mưu cho Đảng, kiến nghị, đề xuất với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách cụ thể hóa quan điểm “dân là gốc”, “dân là chủ thể”, “dân là trung tâm” của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Mọi chủ trương, chính sách đều phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và hạnh phúc của nhân dân.
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh đảng, công an, tư pháp, kinh tế, đường sắt, thương mại nông sản, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương…
Danh sách 32 văn kiện hợp tác được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc cụ thể như sau:
1. Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
3. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
5. Giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả Dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
6. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác và hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
7. Công thư về viện trợ không hoàn lại của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho dự án Xây mới cơ sở 2 Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam giai đoạn 1.
8. Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
9. Bản Ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ Giáo dục - Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
10. Bản ghi nhớ triển khai chương trình nghiên cứu chung Việt Nam-Trung Quốc giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
11. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ số giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Công nghiệp - Công nghệ thông tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
12. Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp Bộ trưởng giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
13. Bản ghi nhớ về hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
14. Bản ghi nhớ hợp tác bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
15. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới.
16. Chương trình hợp tác 2026 - 2027 giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
17. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác đàm phán thúc đẩy xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
18. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
19. Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu quả bưởi và quả chanh giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
20. Bản ghi nhớ về cùng thực hiện Kế hoạch hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Tổng Cục Hợp tác phát triển quốc tế quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
21. Biên bản hội đàm về khảo sát hiện trường công tác nghiên cứu khả thi Dự án viện trợ Việt Nam sửa chữa, bảo trì Cung Hữu nghị Việt – Trung.
22. Thỏa thuận hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hãng Thông tấn Tân Hoa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
23. Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo cơ chế Diễn đàn Truyền thông và Tham vấn Phương Nam toàn cầu.
24. Bản ghi nhớ về Hợp tác thông tin giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
25. Thỏa thuận tăng cường hợp tác Văn hóa Nghệ thuật năm 2026 - 2027 giữa Đài Truyền hình Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
26. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh, Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27. Bản Ghi nhớ về tăng cường hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
28. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tạp chí Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
29. Bản Ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
30. Thỏa thuận thiết lập quan hệ hữu nghị cấp tỉnh giữa tỉnh Phú Thọ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tỉnh Sơn Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
31. Thỏa thuận về triển khai hợp tác bồi dưỡng cán bộ giữa Đảng ủy các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
32. Bản ghi nhớ giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc về xác nhận vị trí, loại hình, thời gian mở cửa, thời gian làm việc và nâng cấp cửa khẩu song phương Chi Ma (Việt Nam) - Ái Điểm (Trung Quốc) lên thành cửa khẩu quốc tế.
Nhận lời mời của Tổng thống Sri Lanka Anura Kumara Dissanayake, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước tới Sri Lanka từ ngày 7 - 8.5.
Trả lời báo chí trước thềm chuyến thăm, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường khẳng định, chuyến thăm mang thông điệp đối ngoại đặc biệt quan trọng, thể hiện sự coi trọng của ta đối với Sri Lanka cũng như khu vực Nam Á.
Đây là chuyến thăm cấp cao nhất của lãnh đạo Việt Nam đến Sri Lanka trong lịch sử kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1970.
"Sri Lanka là nước bạn bè truyền thống, có quan hệ hữu nghị lâu đời với Việt Nam. Hai nước đã từng giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Đặc biệt, trên hành trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng 3 lần đặt chân đến Sri Lanka vào các năm 1911, 1928 và 1946; nhân dân Sri Lanka luôn tôn kính và dành cho Người tình cảm hết sức đặc biệt", Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường khẳng định.
Với ý nghĩa đó, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này sẽ góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, thắt chặt tình cảm hữu nghị chân thành giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước đã được xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử.
"Trong bối cảnh Sri Lanka vừa bước ra khỏi cuộc khủng hoảng và đang nỗ lực phục hồi, phát triển đất nước, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện sự quan tâm, chia sẻ của ta với bạn, khẳng định Việt Nam luôn sát cánh, đồng hành cùng các nước bạn bè truyền thống", ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết.
Chuyến thăm cũng tạo xung lực mới, định hình khuôn khổ hợp tác cho giai đoạn tiếp theo. Sri Lanka là nước có vị trí chiến lược quan trọng, án ngữ tuyến hàng hải quan trọng ở Ấn Độ Dương, đồng thời là thị trường tiềm năng với gần 30 triệu dân.
Việc thúc đẩy quan hệ với Sri Lanka sẽ giúp khai thác tiềm năng của thị trường này nói riêng và Nam Á nói chung, mở ra các cơ hội hợp tác kinh tế, gia tăng xuất khẩu và đầu tư của Việt Nam, củng cố chuỗi cung ứng trong một số lĩnh vực hai bên có thế mạnh. Bên cạnh đó, chuyến thăm cũng nhằm thúc đẩy hợp tác biển, an ninh hàng hải, kết nối cảng biển, tăng cường hợp tác văn hóa, du lịch, Phật giáo và giao lưu nhân dân giữa hai nước.
Chia sẻ về những thành tựu nổi bật trong quan hệ Việt Nam - Sri Lanka thời gian qua, Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường cho biết, hai nước có quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt rất tốt đẹp, đặc biệt là tin cậy chính trị cao và sự tương đồng, gắn kết về quan điểm phát triển đất nước, chia sẻ các giá trị về văn hóa, Phật giáo.
Hai nước đã thiết lập được một số cơ chế quan trọng làm nền tảng cho hợp tác, trong đó có cơ chế Ủy ban hợp tác song phương cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Tham vấn chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao, Ủy ban hợp tác thương mại…
Nhân chuyến thăm cấp nhà nước đến Việt Nam năm 2025 của Tổng thống Sri Lanka Anura Kumara Dissanayaka, hai bên đã ra Tuyên bố chung và ký một số văn kiện hợp tác quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, giáo dục.
Hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước còn rất nhiều tiềm năng, dù hiện tại kim ngạch chỉ đạt hơn 200 triệu USD song với việc Sri Lanka ổn định tình hình và đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển, đây sẽ là thị trường rất tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam để thúc đẩy xuất khẩu, đầu tư trong tương lai.
"Vì vậy, trong chuyến thăm lần này, chúng tôi kỳ vọng sẽ đặt mục tiêu cao hơn nữa cho kim ngạch thương mại và đầu tư hai chiều, hướng tới một số dự án đầu tư lớn của doanh nghiệp Việt Nam vào Sri Lanka trong thời gian tới", Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường khẳng định.
Hợp tác văn hóa, du lịch, đặc biệt là du lịch tâm linh giữa hai nước rất phát triển. Hai nước cũng dự kiến sẽ mở đường bay thẳng để gia tăng kết nối, thúc đẩy du lịch, giao thương.
"Chúng ta hoàn toàn có đầy đủ cơ sở vững chắc để tin tưởng rằng chuyến thăm cấp nhà nước tới Sri Lanka của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ trở thành dấu mốc chính trị quan trọng, tạo xung lực mới và mở ra giai đoạn phát triển mới cho quan hệ hai nước với tin cậy chính trị được tăng cường ở mức cao hơn, hợp tác trên phạm vi và tầm mức sâu rộng hơn, hiệu quả và thực chất hơn", Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh.
Chuyến thăm không chỉ tiếp tục khẳng định sự quan tâm của Việt Nam trong thúc đẩy quan hệ với Sri Lanka mà còn thể hiện quyết tâm chung trong việc nâng tầm mối quan hệ hữu nghị truyền thống với Sri Lanka từ chiều sâu lịch sử sang hợp tác cùng phát triển, vì thịnh vượng chung của hai dân tộc.
Cùng với chuyến thăm Ấn Độ, chuyến thăm Sri Lanka của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thể hiện sự quan tâm, coi trọng của Việt Nam đối với khu vực Nam Á, quyết tâm cùng các nước trong khu vực thúc đẩy hợp tác theo chiều sâu vì lợi ích của nhân dân Việt Nam và các nước, vì hòa bình ổn định hợp tác và phát triển ở khu vực.
Tại buổi tiếp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi Nhật Bản là một trong những đối tác chiến lược quan trọng hàng đầu, tin cậy, ổn định lâu dài.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu 6 định hướng lớn để tăng cường hợp tác chiến lược giữa hai nước, trong đó có việc tăng cường tin cậy chính trị, hợp tác giữa các kênh đảng, chính phủ và ở cấp độ địa phương; củng cố hợp tác quốc phòng - an ninh thực chất và hiệu quả; tăng cường liên kết kinh tế, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh lương thực và năng lượng, đồng thời mở rộng sang các lĩnh vực mới gắn liền với thế mạnh của Nhật Bản về khoa học công nghệ; triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác.
Thủ tướng Takaichi Sanae khẳng định ủng hộ công cuộc cải cách cũng như nỗ lực tự chủ kinh tế của Việt Nam, tin tưởng Việt Nam sẽ đạt nhiều thành tựu hơn nữa trong thời gian tới.
Thủ tướng Takaichi Sanae khẳng định Nhật Bản mong muốn hợp tác chặt chẽ cùng Việt Nam để triển khai Tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Nhật Bản ủng hộ và sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới, góp phần vào sự phát triển thịnh vượng của khu vực; phối hợp chặt chẽ đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nhật Bản lên tầm cao mới.
Thủ tướng Nhật Bản cam kết sẽ triển khai dự án hợp tác đầu tiên trong khuôn khổ sáng kiến Power Asia thông qua hỗ trợ mua sắm dầu thô cho Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn nhằm đảm bảo nhà máy hoạt động 100% công suất. Bà cũng bày tỏ mong muốn hợp tác với Việt Nam để thúc đẩy các dự án năng lượng, điện khí, trong lĩnh vực khóang sản chiến lược.
Bà Takaichi Sanae khẳng định tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện cho cộng đồng gần 700.000 người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc tại Nhật Bản trên cơ sở chính sách xây dựng xã hội Nhật Bản trật tự và hài hòa cùng chung sống với người nước ngoài. Bà cũng nhất trí hai bên cần tăng cường trao đổi lãnh sự trong đó có việc chia sẻ và phối hợp thông báo lãnh sự giữa hai nước, phối hợp chặt chẽ về phòng chống tội phạm.
Tại buổi tiếp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Takaichi đã trao đổi và nhất trí phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh kinh tế và an ninh năng lượng toàn cầu, cùng đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.
Trước đó, sau lễ đón chính thức, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae cùng đoàn đại biểu cấp cao hai nước đã tiến hành hội đàm tại Trụ sở Chính phủ.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam luôn coi Nhật Bản là một trong những đối tác chiến lược quan trọng hàng đầu, người bạn chân thành, tin cậy, cùng đồng hành hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững.
Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đánh giá Việt Nam có vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng khu vực và có chính sách đối ngoại tự chủ, hội nhập quốc tế sâu rộng, khẳng định Nhật Bản ủng hộ các nỗ lực, định hướng phát triển của Việt Nam, sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu phát triển. Thủ tướng Nhật Bản bày tỏ mong muốn hợp tác với Việt Nam nhằm tăng cường tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế của hai nước.
Thủ tướng Lê Minh Hưng mong muốn hai bên phối hợp chặt chẽ cùng đưa quan hệ song phương phát triển lên tầm cao mới, làm sâu sắc hơn hợp tác giữa hai nước trên mọi lĩnh vực.
Về hợp tác kinh tế, hai thủ tướng nhất trí làm sâu sắc hơn hợp tác kinh tế là trụ cột chính của quan hệ thông qua hợp tác thương mại, đầu tư, ODA, góp phần bảo đảm vững chắc an ninh kinh tế, an ninh năng lượng và nông nghiệp bền vững.
Hai bên nhất trí các biện pháp nhằm sớm đưa đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đạt 5 tỉ USD/năm và kim ngạch thương mại song phương sớm đạt 60 tỉ USD vào năm 2030, thúc đẩy sớm mở cửa cho bưởi da xanh của Việt Nam và nho của Nhật Bản. Hai bên cũng nhất trí triển khai các dự án hợp tác ODA trong lĩnh vực ứng phó với biển đổi khí hậu, tiếp tục thúc đẩy cụ thể hóa các nội dung hợp tác trong khuôn khổ các sáng kiến của Nhật Bản tại khu vực như Sáng kiến Cộng đồng phát thải ròng bằng 0 châu Á, Sáng kiến Đối tác về khả năng chống chịu năng lượng và tài nguyên châu Á (POWER ASIA), thúc đẩy trao đổi về các dự án năng lượng như hạt nhân, điện khí...
Nhật Bản sẽ hỗ trợ thu xếp nguồn cung dầu thô cho Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Thủ tướng Takaichi khẳng định Nhật Bản sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thực hiện hiệu quả Dự án 1 triệu ha lúa giảm phát thải tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đánh giá cao hoạt động của các ngân hàng và tổ chức tài chính Nhật Bản tại Việt Nam, đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp hai nước. Đề nghị xây dựng cơ chế mua bán sáp nhập giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ hai nước, khuyến khích doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào các dự án có hàm lượng công nghệ cao, tăng tỷ lệ nội địa hóa, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các dự án đầu tư của Chính phủ Nhật Bản, đầu tư kinh doanh thuận lợi tại Nhật Bản.
Về hợp tác khoa học - công nghệ, hai Thủ tướng nhất trí tái khởi động Ủy ban hỗn hợp Việt-Nhật về hợp tác khoa học - công nghệ trong năm 2026 và sớm thu xếp tổ chức sự kiện công-tư về công nghệ cao.
Thủ tướng Takaichi Sanae cho biết Nhật Bản mong muốn tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, vũ trụ… cho rằng đây là nội dung ưu tiên hợp tác trong thời gian tới, thúc đẩy đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ cao thông qua, cung cấp học bổng cho du học sinh, nghiên cứu sinh Việt Nam, đồng tài trợ các dự án nghiên cứu chung thông qua Chương trình hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Nhật Bản - ASEAN (NEXUS), Chương trình nghiên cứu khoa học Sakura…
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị Chính phủ Nhật Bản đơn giản hóa các thủ tục visa cho công dân Việt Nam, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu tăng gấp đối số lượt khách du lịch hai chiều vào năm 2030. Hai nhà Lãnh đạo cùng nhất trí hợp tác chặt chẽ đối với dự án Đại học Việt Nhật và sớm ký Hiệp định về trường Đại học Việt Nhật giữa hai nước.
Hai bên khẳng định tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).