Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC tăng giá vàng miếng 600.000 đồng mỗi lượng, mua vào lên 163 triệu đồng, bán ra 166,6 triệu đồng; ACB mua vào 163,5 triệu đồng, bán ra 166,5 triệu đồng. Trong khi đó, Công ty Mi Hồng giảm 300.000 đồng mỗi lượng vàng miếng SJC, mua vào còn 164,5 triệu đồng, bán ra 166 triệu đồng… Giá vàng nhẫn cũng tăng 600.000 đồng/lượng, Công ty SJC mua vào 163,1 triệu đồng, bán ra 166,1 triệu đồng…
Giá vàng thế giới tăng nhẹ đầu ngày nhưng trượt giảm nhanh sau đó, mất 20 USD mỗi ounce, xuống 4.595 USD. Vàng đối mặt với những thách thức khó khăn khi giá dầu tăng vọt làm bùng phát lại áp lực lạm phát và buộc các ngân hàng trung ương phải xem xét lại thời điểm nới lỏng tiền tệ, thậm chí cân nhắc tăng lãi suất.
Môi trường thuận lợi cho vàng trong năm 2026 đến từ lạm phát giảm và việc cắt giảm lãi suất đã nhanh chóng thay đổi. Các ngân hàng trung ương đang áp dụng lập trường thận trọng hơn, chờ đợi và quan sát khi lạm phát do năng lượng gây ra làm phức tạp thêm triển vọng. Việc tăng lãi suất có thể không khả thi, nhưng kỳ vọng về việc cắt giảm lãi suất đã bị đẩy lùi xa hơn, làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ vàng như một tài sản không sinh lời.
Theo báo cáo của Hội đồng vàng thế giới, tổng nhu cầu vàng đã tăng 2% trong quý 1/2026 so với cùng kỳ năm ngoái, lên 1.231 tấn, trong khi giá trị tăng vọt lên 74% lên mức kỷ lục 193 tỉ USD. Nhu cầu đầu tư tiếp tục chiếm ưu thế, với việc mua vàng thỏi và tiền xu tăng 42% lên 474 tấn – mức cao thứ hai trong lịch sử theo quý. Sự tăng vọt về nhu cầu vàng vật chất, đặc biệt là từ châu Á, cho thấy các nhà đầu tư vẫn đang tìm đến vàng như một biện pháp phòng ngừa rủi ro trước sự bất ổn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong khi đó, Việt Nam, một trong những quốc gia xuất khẩu phân bón đang duy trì mức thuế xuất khẩu 5% đối với phân ure và super lân. Điều này khiến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp trong nước cao hơn so với đối thủ quốc tế, từ đó làm suy giảm đáng kể năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Tại Tọa đàm trực tuyến "Cần chính sách giảm thuế xuất khẩu phân bón, thích ứng hội nhập thế giới" do Báo Nhà báo và Công luận tổ chức vào ngày 28/4, ông Nguyễn Văn Phụng, Chuyên gia thuế cao cấp, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Pháp chế Doanh nghiệp Việt Nam nhận định: Chính sách thuế xuất nhập khẩu phân bón của Việt Nam chưa thật sự linh hoạt.
Phân tích rõ hơn về vấn đề này, ông Phụng nói: Thị trường phân bón trong nước có tính thời vụ rất rõ rệt. Vào chính vụ, nhu cầu tăng cao, thậm chí có thời điểm cung không đủ cầu, buộc phải tăng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Ngược lại, ở giai đoạn thấp vụ, nguồn cung trong nước lại dư thừa, khiến doanh nghiệp phải tìm đầu ra thông qua xuất khẩu. Điều này tạo nên thực tế "hai chiều": Vừa nhập khẩu trong cao điểm, vừa xuất khẩu khi dư cung.
Tuy nhiên, việc điều hành thuế xuất khẩu thời gian qua chưa thực sự kịp thời với biến động thị trường. Trong nhiều thời điểm nguồn cung tăng mạnh, việc chậm điều chỉnh chính sách, tiếp tục áp dụng mức thuế 5% đã khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu.
Vì vậy, ông Phụng nhấn mạnh: Việt Nam cần thiết lập cơ chế phản ứng chính sách nhanh và linh hoạt hơn, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo cân đối cung – cầu trên thị trường trong nước.
"Thuế không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để điều tiết và can thiệp thị trường. Khi thị trường trong nước thiếu hụt nguồn cung, có thể sử dụng thuế xuất khẩu để hạn chế xuất khẩu, ưu tiên nguồn hàng cho tiêu dùng nội địa. Ngược lại, khi nguồn cung trong nước dồi dào hoặc dư thừa, việc điều chỉnh giảm thuế sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và cân đối thị trường", ông Phụng nói.
Đồng tình với nhận định này, ông Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam đánh giá: Với đặc thù sản xuất phân bón, đặc biệt là các sản phẩm như phân ure, đòi hỏi công nghệ cao và vận hành liên tục, sản lượng càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng được tối ưu. Tuy nhiên, đi cùng với đó là áp lực tiêu thụ sản phẩm, buộc doanh nghiệp phải tìm kiếm thị trường đầu ra ổn định.
Trong bối cảnh này, vai trò điều tiết của Nhà nước thông qua chính sách thuế trở nên đặc biệt quan trọng. Khi nguồn cung trong nước dư thừa, cần có cơ chế linh hoạt để thúc đẩy xuất khẩu, giải phóng hàng hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất. Ngược lại, khi thị trường nội địa thiếu hụt, chính sách thuế cần được điều chỉnh kịp thời nhằm ưu tiên nguồn cung cho nông nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc điều hành chính sách chưa đạt được mức độ linh hoạt cần thiết. Cách tiếp cận còn chưa thật sự uyển chuyển, chưa theo kịp biến động nhanh của cung – cầu thị trường.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy điều hành, hướng tới một cơ chế chính sách linh hoạt, uyển chuyển hơn, qua đó tối ưu hiệu quả kinh tế và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa sản xuất, xuất khẩu và nhu cầu trong nước", ông Ngọc nhấn mạnh.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Bùi Thị Thanh Giang, Phó trưởng Ban Kế hoạch Kinh doanh Tập đoàn Hóa Chất chia sẻ: Ở thời điểm hiện nay, thị trường phân bón trong nước đang ở giai đoạn chính vụ nên lượng tồn kho tương đối thấp. Tuy nhiên, theo chu kỳ hàng năm, từ khoảng tháng 6 đến tháng 11, nhu cầu phân bón giảm mạnh, khiến tồn kho gia tăng.
Khi đó, vốn sản xuất không được quay vòng, chi phí lãi vay tăng lên, trong khi hàng tồn kho để lâu có thể suy giảm chất lượng (tăng độ ẩm, giảm hiệu quả sử dụng).
Trong bối cảnh này, doanh nghiệp buộc phải giảm công suất hoặc sản xuất cầm chừng, kéo theo chi phí bảo trì, bảo dưỡng tăng cao. Những chi phí này cuối cùng sẽ được phân bổ vào giá thành sản phẩm trong cả năm, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tìm được đầu ra xuất khẩu trong giai đoạn thấp vụ, lượng hàng tồn kho sẽ được giải phóng, giúp duy trì sản xuất liên tục và giảm chi phí bình quân. Khi đó, giá thành mỗi đơn vị sản phẩm sẽ giảm, tạo điều kiện hạ giá bán trong nước, qua đó hỗ trợ trực tiếp cho người nông dân.
Đáng chú ý, thị trường khu vực châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, có nhu cầu phân bón rất lớn, ước khoảng 18–20 triệu tấn mỗi năm, với mùa vụ có độ lệch so với Việt Nam. Cụ thể, vụ hè tại Ấn Độ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 7, vụ Đông từ tháng 10 đến tháng 11.
"Chính sự "lệch pha" này tạo cơ hội để doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu vào thời điểm nhu cầu nội địa giảm, qua đó duy trì công suất và tối ưu chi phí sản xuất", bà Giang nói.
Tuy nhiên, chính sách thuế hiện hành đang tạo thêm rào cản cho hoạt động xuất khẩu. Khi xuất khẩu một tấn phân bón, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với rủi ro về giá (do phụ thuộc vào giá thế giới và thị trường nhập khẩu), mà còn phải chịu thuế xuất khẩu 5% đối với một số mặt hàng như urê, phân lân. Trong khi đó, nhiều quốc gia cạnh tranh đã đưa thuế này về 0% để khuyến khích xuất khẩu.
Vì vậy, nhiều chuyên gia đồng thuận rằng Việt Nam cần sớm rà soát và điều chỉnh chính sách thuế xuất khẩu phân bón theo hướng linh hoạt, bám sát diễn biến cung – cầu của thị trường. Đồng thời, cần xem xét đưa mức thuế xuất khẩu về 0% nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu và nâng cao hiệu quả sản xuất toàn ngành.
TS Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách - Viện Kinh tế và Thế giới Việt Nam đánh giá, bên cạnh việc điều chỉnh chính sách thuế, ngành phân bón Việt Nam hiện đang đối mặt với ba bài toán lớn cần được giải quyết đồng bộ để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Thứ nhất là bài toán logistics. Chi phí vận chuyển và hạ tầng phục vụ xuất khẩu còn cao, làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá của doanh nghiệp. Do đó, cần đầu tư phát triển hạ tầng logistics chuyên dụng, gắn với các khu sản xuất lớn, nhằm giảm chi phí và tạo điều kiện để doanh nghiệp xuất khẩu với giá trị cao hơn.
Thứ hai là vấn đề rào cản thương mại. Hoạt động xuất khẩu phân bón đang chịu ảnh hưởng bởi các quy định kiểm dịch, tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau tại từng thị trường. Bên cạnh đó, nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, đặc biệt là chống bán phá giá, ngày càng gia tăng. Vì vậy, các bộ, ngành cần tăng cường cơ chế cảnh báo sớm, hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó và giảm thiểu rủi ro khi tham gia thị trường quốc tế.
Thứ ba là yêu cầu chuyển đổi xanh. Ngành phân bón, vốn thuộc lĩnh vực hóa chất, chịu áp lực lớn về giảm phát thải và tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ về tín dụng, công nghệ và đổi mới sản xuất để doanh nghiệp từng bước chuyển đổi theo hướng xanh, bền vững.
Theo TS Ngọc, chỉ khi đồng thời giải quyết được ba bài toán này, cùng với việc hoàn thiện chính sách thuế theo hướng linh hoạt, ngành phân bón Việt Nam mới có thể nâng cao sức cạnh tranh và tận dụng hiệu quả cơ hội từ thị trường quốc tế.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ dự án Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật Thuế thu nhập cá nhân (dự thảo nghị định).
Trong đó, bộ này chính thức đề xuất bổ sung quy định người nộp thuế được giảm trừ tối đa 47 triệu đồng/năm khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế thu nhập cá nhân.
Cụ thể, người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm: các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả không quá 23 triệu đồng/năm.
Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước không quá 24 triệu đồng/năm. Cụ thể là, khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo.
Việc áp dụng quy định này sẽ góp phần làm giảm nghĩa vụ thuế cho tất cả người nộp thuế có phát sinh chi phí y tế, giáo dục - đào tạo; những người nộp thuế ở các bậc thuế thấp sẽ được giảm thuế với tỷ lệ cao hơn.
Chưa kể các khoản giảm trừ cho bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, trong trường hợp mỗi người nộp thuế có 1 người phụ thuộc và phát sinh các khoản chi phí y tế, giáo dục - đào tạo, cá nhân có thể được giảm trừ các khoản sau:
Giảm trừ cho bản thân 15,5 triệu đồng/tháng x 12 tháng + giảm trừ cho người phụ thuộc 6,2 triệu đồng/người/tháng x 12 tháng + giảm trừ cho y tế 23 triệu đồng/năm + giảm trừ cho giáo dục - đào tạo 24 triệu đồng/năm = 307,4 triệu đồng/năm.
Mức này gấp gần 2,45 lần mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2025 (125,5 triệu đồng/người/năm).
Bộ Tài chính tính toán, thực hiện theo phương án nêu trên sẽ làm giảm thu ngân sách khoảng 7.697 tỉ đồng/năm.
Trường hợp cá nhân có phát sinh chi phí y tế, giáo dục - đào tạo và được áp dụng tối đa mức giảm trừ theo dự thảo nghị định, người nộp thuế có 1 người phụ thuộc với mức thu nhập 28 triệu đồng/tháng, sau khi trừ các khoản bảo hiểm, giảm trừ cho bản thân người nộp thuế, giảm trừ cho 1 người phụ thuộc và giảm trừ cho y tế, giáo dục - đào tạo vẫn chưa phải nộp thuế.
Người nộp thuế có thu nhập trên 28,63 triệu đồng/tháng mới phải nộp thuế với mức thuế suất bắt đầu từ 5%.
Để đảm bảo không bị trùng lắp về chính sách, tại dự thảo nghị định quy định các khoản chi phí mà người nộp thuế được giảm trừ phải đáp ứng các điều kiện: có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế...
Dự thảo nghị định quy định có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2026 để thống nhất với hiệu lực thi hành của luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
Riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Trước đó, Bộ Tài chính đưa ra 2 phương án giảm trừ chi phí y tế và giáo dục - đào tạo với các mức giảm trừ tối đa là 41 triệu đồng/năm và 47 triệu đồng/năm.
Góp ý vào nội dung này, nhiều chuyên gia cho rằng, các mức giảm trừ đưa ra quá thấp, cần nới rộng cho sát với thực tiễn. Tổng giảm trừ chi phí y tế, giáo dục - đào tạo thậm chí có thể lên tới hàng trăm triệu đồng/năm
Đồng thời, quy định điều kiện để được giảm trừ cũng cần xem xét lại, tránh quá chặt chẽ, thiếu khả thi…
Tin Gốc: Thanh Niên

Bên bờ ruộng, gió xào xạc trên những đọt lúa xanh mướt, câu chuyện của nhà khoa học "hai lúa" Hồ Quang Cua tuôn trào, hào sảng đậm chất nông dân. Ông chia sẻ từ bí quyết giữ phong độ bền bỉ cho hạt gạo ST25 ngon nhất thế giới đến quyết định táo bạo đem "lọ lem" lúa vụ hè thu đi thi và giành ngôi quán quân. Độc đáo hơn là chuyện về những tín hiệu từ trùn (một loài giun đất nhỏ bé - PV) trên cánh đồng làm ra hạt gạo 3 lần đoạt giải ngon nhất thế giới...
Với nông dân miền Tây và cả cánh thương lái, xưa nay lúa vụ hè thu vẫn bị xếp "chiếu dưới". Mưa nhiều, thiếu nắng khiến hạt gạo thường xỉn màu, kém thơm, khó sánh bằng vụ chính đông xuân.
Ấy vậy mà lần "mang chuông đi đánh xứ người" năm vừa rồi, ông Cua khiến tất cả ngỡ ngàng khi chọn gạo ST25 vụ hè thu để tranh vị trí ngon nhất thế giới năm 2025.
Càng "sốc" hơn khi trưa 9.11.2025, tin vui từ Phnom Penh (Campuchia) bay về: Gạo ST25 của Việt Nam đã lần thứ 3 bước lên ngôi vị cao nhất tại Hội nghị Thương mại Lúa gạo toàn cầu.
Kết quả này cũng khiến người ta không khỏi tò mò làm thế nào để gạo ST25 giữ được phong độ bền bỉ đến vậy? Vì sao ông Cua lại chọn gạo "chiếu dưới" đi thi?
"Cha đẻ" ST25 cười sảng khoái: "Thực chất đó là thành quả của quy trình canh tác an toàn kết hợp công nghệ vi sinh". Bí quyết nằm ở việc sử dụng chế phẩm sinh học tạo vi khuẩn đối kháng ngay ngoài đồng để diệt khuẩn, cộng với kỹ thuật sấy lúa ngay sau thu hoạch để triệt tiêu độ ẩm, ngăn chặn vi khuẩn gây mùi phát triển.
Chính quy trình này đã giúp gạo ST25 hè thu không chỉ trắng bóc mà còn thăng hạng chất lượng. Còn về hương thơm, ông Cua hóm hỉnh kể: "Người ta nói ông Cua không biết bỏ chất gì mà cơm nấu xong, đóng cửa nhà đi vắng 3 ngày về mở nắp nồi vẫn thấy thơm". Vậy là không chỉ ngoại quan hạt gạo hè thu được cải thiện mà khả năng giữ mùi hương, vốn là điểm yếu cố hữu của lúa mùa mưa cũng được khắc phục hoàn hảo. "Tuy vậy chứ trước khi quyết định đem ST25 hè thu đi thi, chúng tôi đã phải lập một hội đồng đánh giá nội bộ. Chỉ khi chất lượng cơm thơm, dẻo, hạt thon dài cho cảm giác ăn ngon vượt trên cả mong đợi thì mới được chọn. Khi ấy, quy trình canh tác với vi sinh cũng xem như thành công", ông Cua cho hay.
Trở lại căn nhà lá đơn sơ cạnh ao cá ở trại nghiên cứu, ông Cua tiết lộ một trong những điều ông tâm đắc nhất để duy trì đẳng cấp gạo ST25 là sự xuất hiện của những con trùn. Ông khẳng định: "Trùn sinh sôi đông đảo trong ruộng lúa ngập nước là tín hiệu cao nhất của nông nghiệp tuần hoàn". Đó cũng là "chứng thư thẩm định" cao nhất cho nền nông nghiệp an toàn.
Theo ông, cây lúa cũng như con người, lúa khỏe thì khó bị bệnh; người khỏe thì sức đề kháng tốt; đang khỏe thì chẳng ai uống thuốc bao giờ. Cầm bức hình chụp những con trùn, ông Cua nói: "Muốn lúa phát triển mạnh, chất lượng an toàn chính là nhờ những sinh vật như trùn. Mà muốn có trùn thì đừng phun thuốc độc giết nó, phải nuôi nó. Và để trùn sinh sôi đều trên diện tích rộng như đã thấy cần cả một quá trình. Ở đây, chúng tôi đã mất 3 năm, 6 vụ kiên trì canh tác không hóa chất và chỉ dùng phân bón hữu cơ thật".
Thú vị là trong cách lý giải của ông Cua, nông nghiệp tuần hoàn đơn giản là sự xoay vòng. Sau vụ lúa, rơm rạ được xới lên, ông cho phun nấm sinh học trichoderma để đẩy nhanh quá trình phân hủy, biến gốc rạ thành mùn. Lớp mùn ấy trở thành "bàn tiệc" thịnh soạn cho loài trùn. Bầy trùn ăn no, sinh sôi và đào hang làm tổ. "Quá trình canh tác, thi thoảng mình rút nước khô mặt ruộng, trùn sẽ trồi lên mặt đất để thở. Chúng vô tình tạo ra hàng tỉ miệng hang li ti giúp rễ lúa hấp thụ ô xy, đâm sâu và phát triển mạnh mẽ. Mà lúa khỏe thì không phải xài thuốc và gạo làm ra mới thực sự an toàn". Vòng tuần hoàn đó cũng chính là sự khác biệt để duy trì phong độ và tạo ra loại gạo ST25 thượng hạng trên thị trường.
Theo ông Jeremy Zwinger, Chủ tịch kiêm CEO Tổ chức The Rice Trader (đơn vị tổ chức cuộc thi Gạo ngon nhất thế giới), chiến thắng lần thứ 3 của gạo ST25 năm 2025 là cột mốc trọng đại tiếp nối các chiến thắng trước đó vào năm 2019, 2023; đồng thời khẳng định danh tiếng quốc tế của hạt gạo Việt Nam.
Thành quả này cũng một lần nữa đền đáp xứng đáng công sức, sự kiên trì đổi mới để gìn giữ đẳng cấp cho gạo ST25 của kỹ sư Hồ Quang Cua và các cộng sự. Bởi lẽ hơn ai hết, họ là những người nhìn thấu quy luật: sinh vật luôn có xu hướng tự thoái hóa để sinh tồn. Với cây lúa, đó chính là sự đánh đổi để tồn tại khi môi trường luôn có sự biến đổi. Vì vậy, để giữ phong độ cho gạo ST25 ngon như thuở ban đầu thì mọi điều kiện từ giống cho đến canh tác phải chuẩn mực như ban đầu. "Hay nói thực dụng là mình không làm đủ chuẩn thì mai mốt làm sao bán giống cho người ta, làm sao để người tiêu dùng có được chén cơm đúng vị. Và quan trọng hơn, đó là lương tâm nghề nghiệp, mình đã tạo ra thì phải giữ dù tốn kém rất nhiều", ông Cua chia sẻ.
"Cha đẻ" ST25 cũng phân định rõ vai trò của mình - một doanh nghiệp tư nhân làm thật, ăn thật, không có nhiệm vụ phải mời chào ai đi theo mình nhưng luôn sẵn lòng hỗ trợ để nông dân canh tác hiệu quả hơn.
Theo quy luật "hữu xạ tự nhiên hương", khi ST25 trở thành thương hiệu quốc gia, lợi ích đã lan tỏa rộng rãi cho cả chuỗi sản xuất lúa gạo, từ giống lúa, độ ổn định của năng suất, giá bán, thu nhập cho nông dân, doanh nghiệp... Đến nay, vượt khỏi phạm vi Đồng bằng sông Cửu Long, giống ST25 của ông Cua đã phủ xanh các cánh đồng cả nước với hơn 200 ngàn ha, mang lại thu nhập ổn định hơn cho nông dân.
Còn với ông Cua, điều tâm đắc nhất giờ đây là "chứng thư" từ loài trùn, là những lỗ hang chi chít trên mặt ruộng. Ông bảo đó không chỉ là tín hiệu cao nhất của nền nông nghiệp tuần hoàn, giúp ST25 giữ vững phong độ mà còn là giá trị của một nền sản xuất bền vững, nơi sự tử tế với thiên nhiên sẽ luôn được đền đáp xứng đáng.
Tin Gốc: Thanh Niên

