Trong kỳ điều hành này, liên bộ Công thương – Tài chính quyết định trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu ở mức 800 đồng/lít đối với xăng sinh học, xăng không chì, dầu mazut; 1.000 đồng/lít đối với dầu diesel; không chi quỹ đối với tất cả các mặt hàng xăng dầu.
Theo đó, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường từ 15 giờ 30 hôm nay như sau:
Giá xăng E5RON 92 không cao hơn 22.344 đồng/lít, giảm 2.393 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành và thấp hơn xăng RON 95 là 1.199 đồng/lít.
Giá xăng RON 95 không cao hơn 23.543 đồng/lít, giảm 2.993 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành.
Giá dầu diesel không cao hơn 32.969 đồng/lít, giảm 9.872 đồng/lít so với giá bán tối đa hiện hành.
Giá dầu mazut không cao hơn 22.613 đồng/kg, giảm 1.658 đồng/kg so với giá bán tối đa hiện hành.
Cũng theo Bộ Công thương, thị trường xăng dầu thế giới kỳ điều hành lần này chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ yếu như: xung đột quân sự giữa Mỹ, Israel với Iran; lệnh ngừng bắn tạm thời giữa Mỹ và Iran… Các yếu tố nêu trên khiến giá thành phẩm xăng dầu thế giới ngày 8.4 giảm mạnh.
Giá thành phẩm xăng dầu thế giới bình quân giữa kỳ điều hành giá ngày 9.4 và kỳ điều hành ngày 8.4 là:
119,460 USD/thùng xăng RON 92 dùng để pha chế xăng E5RON 92, giảm 20,580 USD/thùng, tương đương giảm 14,7%.
125,820 USD/thùng xăng RON 95, giảm 23,230 USD/thùng, tương đương giảm 15,59%.
183,290 USD/thùng dầu diesel, giảm 66,215 USD/thùng, tương đương giảm 26,54%.
642,170 USD/tấn dầu mazut, giảm 88,530 USD/tấn, tương đương giảm 12,12%.
Cũng theo Bộ Công thương, giá xăng dầu của Việt Nam đang ở mức trung bình và thấp hơn so với các nước có chung đường biên giới.
Cụ thể, giá xăng tại Singapore là 70.328 đồng/lít, Thái Lan 35.999 đồng/lít, Campuchia 36.167 đồng/lít, Lào 49.058 đồng/lít, Trung Quốc là 36.200 đồng/lít .
Giá dầu tại Singapore là 86.985 đồng/lít, Thái Lan 39.635 đồng/lít, Campuchia 53.922 đồng/lít, Lào 61.488 đồng/lít, Trung Quốc 33.070 đồng/lít.
Bộ Công thương cho rằng, việc áp dụng biện pháp sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, thực hiện điều hành giá xăng dầu trong nước đảm bảo phản ánh đúng xu hướng biến động của giá xăng dầu thế giới.
Ngoài ra, phương án điều hành giá xăng dầu kỳ này tiếp tục duy trì mức chênh lệch giá giữa xăng sinh học E5RON 92 và xăng không chì RON 95 ở mức hợp lý để khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường.

Đó là chia sẻ từ ông Vương Quần, đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, và đại diện doanh nghiệp Trung Quốc tại hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều và nông sản OCOP đặc trưng, do UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức ngày 28.5.
Phát biểu tại hội nghị, ông Vương Quần cho biết, nhiều năm qua, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất vải tươi từ Việt Nam. Điều đó khẳng định, chất lượng trái vải ngày càng được nâng cao.
Đặc biệt, vải thiều của Bắc Ninh nổi tiếng với hương vị thơm ngon, cùi dày, mọng nước, vị ngọt thanh và là một trong những loại trái cây nhiệt đới xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, là "mỹ vị nhân gian" được đông đảo người tiêu dùng Trung Quốc yêu thích.
Ông Vương Quần nhấn mạnh, không chỉ riêng trái vải, người dân Trung Quốc có nhu cầu rất lớn với những sản phẩm nông sản chất lượng cao, truy xuất được nguồn gốc rõ ràng. Khi đáp ứng được những yêu cầu này, Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ rộng lớn của các sản phẩm nông sản Việt Nam.
Ông Vương Quần cũng khẳng định, các cơ quan chức năng phía Trung Quốc sẽ tiếp tục tạo mọi điều kiện để thông quan vải tươi trong mùa vụ năm nay, cũng như tạo điều kiện cho nhiều sản phẩm nông sản khác của tỉnh Bắc Ninh đi sâu vào nội địa Trung Quốc.
Chia sẻ bên lề hội thảo, ông Trần Ân Đồng, một doanh nghiệp gia công nông sản tại Quảng Đông, bày tỏ sức hút từ trái vải Việt Nam khiến doanh nghiệp không thể ngồi yên, phải sang Việt Nam tìm cơ hội. Tại Trung Quốc, tỉnh Quảng Đông đã trồng được vải nhưng chất lượng chưa thể cạnh tranh được với Việt Nam.
Ông Đồng và một số doanh nghiệp khác đang khảo sát địa điểm, tìm hiểu cơ chế, quy định pháp luật liên quan để tính toán mở xưởng gia công tại Việt Nam đưa vải thiều vào Trung Quốc.
Thông tin về quả vải tại Việt Nam ở thị trường Trung Quốc, ông Đồng cho hay, khi đến Quảng Đông, vải được bán thành 2 loại quả tươi và sấy khô. Trung Quốc đang phát triển mạnh logistics nên doanh nghiệp này tự tin vận chuyển quả vải trên quãng đường hơn 2.000 km từ Quảng Đông đến Bắc Kinh vẫn đảm bảo độ tươi ngon gần bằng lúc nhập khẩu.
Ngoài ra, quả vải khô đang được yêu thích ở Trung Quốc. "Vải Việt Nam khi sấy khô, đặc biệt phù hợp với các loại trà của Trung Quốc. Người Trung Quốc thì không thể thiếu trà mỗi ngày. Một cốc trà, chỉ cần 2 quả vải khô bỏ vào, hương vị sẽ cực kỳ hấp dẫn", ông Trần nói và nhấn mạnh, vải khô sẽ có lợi thế giữ chất lượng rất lâu và thị trường Trung Quốc đang rất ưa chuộng.
Ông Phạm Văn Thịnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, cho biết toàn tỉnh hiện có 29.800 ha trồng vải, chiếm hơn 60% tổng diện tích cây ăn quả. Trong đó, 17.500 ha vải sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, chiếm 58,7% diện tích; 255 ha đạt tiêu chuẩn GlobalGAP và 10 ha đạt chứng nhận hữu cơ.
Bắc Ninh đang quản lý 243 mã số vùng trồng với diện tích hơn 17.000 ha phục vụ xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Thái Lan… Năm nay, sản lượng vải toàn tỉnh ước đạt 125.000 tấn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Kinh Tế
Agribank chủ động giảm lãi suất tiền gửi, tiên phong thực hiện giảm lãi suất cho vay

Ngày 9.4.2026, ngay sau khi NHNN tổ chức cuộc họp về triển khai công tác ngân hàng với đại diện các NHTM về điều hành chính sách tiền tệ, Agribank đã có văn bản triển khai điều chỉnh giảm mạnh lãi suất huy động 0,5%/năm kỳ hạn từ 24 tháng trở lên đối với khách hàng cá nhân, hiệu lực từ 13.4.2026.
Động thái này cho thấy phản ứng chính sách nhanh và chủ động của Agribank trong thực hiện chỉ đạo của NHNN về ổn định mặt bằng lãi suất. Với vai trò là ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực, Agribank tiếp tục thể hiện tinh thần tiên phong, gương mẫu trong việc triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, đồng thời chủ động cân đối nguồn vốn, kiểm soát chi phí để góp phần ổn định thị trường tiền tệ.
Không chỉ giảm lãi suất huy động, Agribank cũng là ngân hàng tiên phong tuyên bố giảm lãi suất cho vay. Theo cơ chế áp dụng tại Agribank, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng được sử dụng làm lãi suất tham chiếu để xác định lãi suất cho vay trung, dài hạn. Vì vậy, khi lãi suất tham chiếu giảm 0,5%/năm, lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh giảm tương ứng 0,5%/năm. Việc giảm đồng thời cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay cho thấy nỗ lực của Agribank trong việc chia sẻ chi phí vốn với khách hàng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế vẫn cần thêm động lực để phục hồi và tăng trưởng.
Thực tế, định hướng điều hành này đã được Agribank chuẩn bị từ sớm. Ngay từ đầu năm 2026, trước áp lực cạnh tranh lãi suất huy động và áp lực thanh khoản hệ thống gia tăng, Agribank đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để chủ động điều hành lãi suất và cơ cấu nguồn vốn theo hướng thận trọng, linh hoạt, bảo đảm ổn định thanh khoản, qua đó góp phần giữ ổn định mặt bằng lãi suất và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng.
Trong đó, Agribank tập trung cơ cấu nguồn vốn theo hướng khuyến khích tăng trưởng CASA, ưu tiên các nguồn vốn có chi phí hợp lý, phát triển sản phẩm huy động trên kênh số và đẩy mạnh tăng trưởng tiền gửi ổn định từ dân cư. Việc điều chỉnh lãi suất được thực hiện với biên độ phù hợp, bám sát chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, phù hợp với diễn biến thị trường và trên cơ sở cân đối thanh khoản thực tế của Agribank.
Nhờ điều hành lãi suất tiền gửi hợp lý, Agribank không chỉ duy trì được nguồn vốn ổn định mà còn tiếp tục bảo đảm cơ cấu nguồn vốn hiệu quả, giữ chi phí đầu vào ở mức phù hợp, từ đó tạo dư địa để duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp, hỗ trợ nền kinh tế. Đây là yếu tố quan trọng giúp Agribank tiếp tục phát huy vai trò đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh việc điều chỉnh giảm lãi suất, Agribank tiếp tục triển khai nhiều chương trình cho vay ưu tiên, ưu đãi theo định hướng của Chính phủ và NHNN, hướng tới các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các nhóm khách hàng cần hỗ trợ về vốn. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về lãi suất và tín dụng cho thấy Agribank không chỉ hưởng ứng chủ trương điều hành, mà còn cụ thể hóa chủ trương đó bằng hành động thực chất, qua đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất vẫn chịu nhiều áp lực, việc Agribank chủ động giảm lãi suất huy động, tiên phong giảm 0,5% lãi suất cho vay và tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi là minh chứng rõ nét cho vai trò của một ngân hàng thương mại Nhà nước chủ lực. Không chỉ thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, Agribank còn cho thấy trách nhiệm tiên phong, dẫn dắt và đồng hành với nền kinh tế bằng những giải pháp cụ thể, kịp thời và thiết thực.

