Năm 2026, Hà Nội có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, hơn 124.000 em đăng ký thi lớp 10 công lập, đông kỷ lục. Với chỉ tiêu khoảng 82.660, tỷ lệ đỗ trên số dự thi là 66%.
Thí sinh thi ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ (chủ yếu là Tiếng Anh) trong hai ngày 30-31/5, lấy điểm xét tuyển vào 119 trường THPT công lập không chuyên. Điểm xét là tổng ba môn không nhân hệ số.
Gần 17.000 thí sinh đăng ký vào bốn trường chuyên sẽ thi thêm môn tương ứng ngày 1/6, trừ chuyên Tin thi bằng Toán. Thí sinh dự thi các môn Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý, Ngoại ngữ sẽ làm trực tiếp vào đề.
Điểm xét tuyển trường chuyên là tổng ba môn chung và môn chuyên nhân hệ số hai, tối đa 50.
Điểm thi, điểm chuẩn lớp 10 của Hà Nội dự kiến được công bố từ ngày 19 đến 22/6.
Tin Gốc: Vnexpress

Trường Quản trị và Kinh doanh (HSB) - Đại học Quốc gia Hà Nội được tổ chức xếp hạng giáo dục quốc tế QS Quacquarelli Symonds trao chứng nhận QS Stars 5 Stars Overall hôm 12-5, dựa trên 56 tiêu chí đánh giá chất lượng.
QS Stars là hệ thống đánh giá chất lượng giáo dục đại học toàn diện, tập trung vào các tiêu chí như chất lượng đào tạo, nghiên cứu, quản trị đại học, quốc tế hóa, khả năng việc làm của người học, trải nghiệm sinh viên và tác động xã hội.
Theo kết quả đánh giá của QS cho thấy Trường Quản trị và Kinh doanh nổi bật ở nhiều nhóm tiêu chí cốt lõi như: khả năng đáp ứng thị trường lao động, chất lượng đào tạo, thế mạnh chương trình đào tạo và quản trị đại học...
Hiện nay, hệ thống QS Stars đã được triển khai tại hơn 70 quốc gia với trên 700 trường đại học và trường kinh doanh tham gia đánh giá. Việc đạt chuẩn QS 5 Stars là dấu mốc quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam.
Trước đó, có hai trường tư được công nhận đạt chuẩn QS Stars 5 Stars là Trường đại học VinUni và Trường đại học Anh Quốc Việt Nam.
Bên cạnh QS 5 Stars, Trường Quản trị và Kinh doanh hiện là thành viên của AACSB - mạng lưới kiểm định giáo dục kinh doanh uy tín hàng đầu thế giới. Đồng thời, 8 chương trình đào tạo của trường đã được ACQUIN (Đức) kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn châu Âu.
GS.TS Hoàng Đình Phi - Hiệu trưởng Trường Quản trị và Kinh doanh - cho rằng QS 5 Stars không chỉ là sự ghi nhận đối với chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ, năng lực quản trị đại học của trường, mà còn khẳng định khả năng cạnh tranh quốc tế của mô hình đại học công lập tự chủ tại Việt Nam.
Thành tựu này cho thấy khi được Nhà nước trao cơ chế tự chủ và ban lãnh đạo các trường có năng lực lãnh đạo chiến lược và cam kết đổi mới sáng tạo thì nhiều trường đại học Việt Nam hoàn toàn có thể phấn đấu vươn lên đạt chuẩn quốc tế và xếp hạng quốc tế theo tinh thần Nghị quyết 71.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Đến ngày 9/4, hơn 200 đại học đã công bố phương án tuyển sinh năm nay, trong đó nhiều trường nêu học phí dự kiến. Hiện, Đại học Tân Tạo (Tây Ninh) có mức thu cao nhất - 150 triệu đồng với ngành Y khoa. Một số ngành ở vài trường thu dưới 18 triệu đồng như ở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế; Học viện Quản lý giáo dục, Đại học Đông Đô (Hà Nội).
Học phí cao thường ở khối ngành Y Dược hoặc với các chương trình liên kết quốc tế, định hướng nghề nghiệp, chất lượng cao. Với chương trình chuẩn, các trường thu chủ yếu trong khoảng 20-40 triệu đồng.
So với năm ngoái, hầu hết tăng học phí trong khoảng 10%, một số trường tăng mạnh hơn như Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (khoảng 12-47%).
Học phí đại học năm 2025-2027 dự kiến như sau:
TT
Trường
Học phí (triệu đồng/năm)
1
Đại học Ngoại thương
28-32 (chương trình chuẩn)
34-39 (chương trình tích hợp)
50-54 (chất lượng cao)
50-70 (định hướng nghề nghiệp và phát triển quốc tế)
77-88 (tiên tiến)
2
Đại học Kinh tế Quốc dân
20-28 (chương trình chuẩn)
45-70 (tiên tiến, chất lượng cao, định hướng ứng dụng POHE)
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
31-67
4
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
19,1-40
5
Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
38-44
6
Trường Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội
35-58
7
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
48 (chính quy)
93,3-111,2 (liên kết quốc tế)
8
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
34,2-38,2
9
Đại học Dược Hà Nội
28-58 (hệ đại trà)
150 (liên kết đào tạo)
10
Đại học Công nghiệp Hà Nội
25-31 (chương trình chuẩn)
36-44 (đào tạo bằng tiếng Anh)
11
Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội
59-130
12
Học viện Ngân hàng
27,8-29,4 (chuẩn)
45 (chất lượng cao)
50 (liên kết quốc tế, định hướng Nhật)
13
Đại học Thương mại
25,75-30,69 (chương trình chuẩn)
42,35 (định hướng nghề nghiệp)
50 (chương trình tiên tiến)
65 (song bằng quốc tế)
14
Học viện Tài chính
25-35 (chương trình chuẩn)
50-55 (định hướng chứng chỉ quốc tế)
75-80 (liên kết đào tạo)
15
Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
20-25 (chương trình chuẩn)
16
Đại học Xây dựng Hà Nội
20,9 (chương trình chuẩn)
37 (liên kết quốc tế)
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18,1 (chương trình chuẩn)
38,2 (chương trình đạt kiểm định)
18
Đại học Mở Hà Nội
23,7-25,3
19
Học viện Phụ nữ Việt Nam
20,7-22,68
20
Học viện Quản lý giáo dục
17,9-20,9
21
Đại học Y tế công cộng
21,01-38,57
22
Đại học Thủ đô Hà Nội
19-22,2
23
Đại học Công đoàn
20,85-25,85 (đại trà)
32 (chương trình định hướng chuyên sâu nghề nghiệp quốc tế)
24
Học viện Chính sách và Phát triển
28 (chương trình chuẩn)
35-40 (chất lượng cao)
35 (định hướng nghề nghiệp quốc tế)
25
Đại học Phenikaa (Hà Nội)
28-128
26
Đại học FPT
46,44-94,8 (học tại Hà Nội, TP HCM)
32,52-66,36 (Đà Nẵng, Cần Thơ)
23,22-47,4 (Quy Nhơn)
27
Đại học Thăng Long (Hà Nội)
35,1-54
28
Đại học CMC (Hà Nội)
37,4-44,23
29
Đại học Đại Nam (Hà Nội)
35,7-99
30
Đại học Thành Đô (Hà Nội)
24-52,5
31
Đại học Đông Đô (Hà Nội)
17,49-29,4
32
Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương (Hải Phòng)
29,26-47,89
33
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên
18-21,9 (hệ đại trà)
28,9 (chương trình tiên tiến)
34
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
18
35
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
17,9-26,03
36
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
27,7-38
37
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
24,8-26,7
38
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt - Hàn, Đại học Đà Nẵng
17,9-20,9
39
Trường Đại học Quy Nhơn (Gia Lai)
20,75-25 (chương trình đại trà)
40
Đại học Phan Châu Trinh (Đà Nẵng)
24-93,5
41
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
35,8 (chương trình dạy bằng tiếng Việt)
55 (Co-op tiếng Anh bán phần)
73,5 (dạy học bằng tiếng Anh)
42
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP HCM
24,78-30,85
43
Đại học Y Dược TP HCM
30-90
44
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
47-81
45
Đại học Sài Gòn
21-53
46
Đại học Tôn Đức Thắng
31,26-68,46 (chương trình chuẩn)
55,6-64 (tiên tiến)
78-88 (học bằng tiếng Anh)
75-83 (liên kết quốc tế)
20,5-24 (phân hiệu Khánh Hòa)
47
Đại học Văn hóa TP HCM
19,91
48
Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
80-88 (bao gồm 6 cấp độ tiếng Anh)
49
Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP HCM
42
50
Đại học Việt - Đức (Bình Dương)
43,7-46,6
51
Đại học Thủ Dầu Một (TP HCM)
25,65-31,35
52
Đại học Tân Tạo (Tây Ninh)
25-150
Lưu ý:
- Với các trường công bố mức thu theo tín chỉ, học phí trung bình năm được ước tính như sau: [giá tín chỉ x tổng số tín chỉ của chương trình]/số năm học.
- Với nhóm công bố học phí theo kỳ, học phí năm học 2026-2027 được ước tính theo số kỳ trong năm đầu đại học.
- Với các trường công bố học phí cả khóa, học phí một năm được ước tính bằng cách chia trung bình cho số năm học.
- Học phí các trường thường chưa bao gồm các tín chỉ Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Giáo dục thể chất hoặc tiếng Anh.
Học phí đại học ba năm qua đều tăng, một phần do trần học phí tăng theo Nghị định số 97 (năm 2023) của Chính phủ.
Theo đó, mức cao nhất được thu ở các đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên năm học 2026-2027 là 1,71 - 3,5 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn khoảng 11% so với năm học trước.
Ở các trường đã tự đảm bảo chi thường xuyên (tự chủ), học phí có thể gấp 2,5 lần mức trần. Với chương trình đã được kiểm định, các trường tự xác định học phí.
Dương Tâm
Nguồn: https://vnexpress.net/hon-50-dai-hoc-cong-bo-hoc-phi-pho-bien-20-40-trieu-dong-5059911.html

Ông Phạm Thành Nhân, Phó Giám đốc Sở Nội vụ TP HCM, cho biết thông tin trên tại hội thảo Thị thực nhân tài và chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao do Đại học Quốc gia TP HCM tổ chức, ngày 20/5.
Theo ông Nhân, sự thiếu hụt trầm trọng nhóm chuyên gia dẫn dắt trong các lĩnh vực mũi nhọn đang trở thành rào cản trực tiếp, làm chậm tiến trình phát triển bền vững và xây dựng đô thị thông minh của TP HCM.
Thành phố đã ra chính sách ưu đãi vượt trội để thu hút nhân tài trong và ngoài nước. Ví dụ, chuyên gia sẽ nhận mức trợ cấp ban đầu tối đa 100 triệu đồng khi về làm việc, thu nhập hàng tháng linh động từ 30-100 triệu đồng. Ngoài ra, họ được hưởng thù lao bằng 5% giá trị của công trình nghiên cứu được nghiệm thu hoặc thưởng tối đa lên đến 1 tỷ đồng với thành tích đặc biệt xuất sắc; hỗ trợ tiền thuê nhà 7 triệu đồng một tháng.
Từ năm 2023 đến nay, 10 chuyên gia, nhà khoa học đã về làm việc cho TP HCM theo chính sách này, tạo ra tác động lớn ở một số lĩnh vực chuyên môn. Tuy nhiên, Phó Giám đốc Sở Nội vụ đánh giá con số này còn rất khiêm tốn.
Ông chỉ ra nguyên nhân là sự cạnh tranh khốc liệt ở khối tư nhân và doanh nghiệp FDI (có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài). Xét tổng thể về môi trường sống, không gian làm việc và tính linh hoạt trong thu nhập, chính sách ưu đãi của TP HCM vẫn chưa bằng các doanh nghiệp đa quốc gia. Chưa kể các quy định xuất nhập cảnh, cấp giấy phép lao động và phê duyệt hồ sơ với chuyên gia nước ngoài, Việt kiều còn phức tạp, làm giảm động lực và sự hào hứng của họ.
Ông Nhân lấy ví dụ visa lao động của chuyên gia nước ngoài phải gia hạn hàng năm, thủ tục phức tạp. Sở Nội vụ đề xuất thí điểm cấp "Thị thực công nghệ" hoặc thẻ tạm trú với thời hạn đặc biệt 5-10 năm cho nhóm có trình độ cao, hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược theo Nghị quyết 57. Loại thị thực này tương tự mô hình ONE Pass của Singapore.
Ngoài ra, chính sách thu hút nhân tài cần bổ sung một số ưu đãi như phương tiện đi lại, trường học, bệnh viện quốc tế cho con em chuyên gia...
Ông Ngô Đông Hải, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nhìn nhận nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhiều nước đang triển khai mạnh mẽ chính sách thị thực nhân tài, tạo ra cuộc đua thu hút chất xám trên toàn cầu. Việt Nam cũng có nhiều chính sách nhưng thiếu cơ chế đặc thù về cư trú, tài chính và bảo đảm cuộc sống lâu dài cho chuyên gia quốc tế.
GS. TS Nguyễn Thị Thanh Mai, Giám đốc Đại học Quốc gia TP HCM, đồng tình. Bà cho rằng thị thực nhân tài không nên được nhìn nhận đơn thuần như một chính sách nhập cư hay thủ tục hành chính.
Nhiều nước mời gọi được nhân lực chất lượng cao không chỉ bằng mức lương, ưu đãi tài chính mà bằng cả hệ sinh thái. Trong đó, cơ chế thị thực linh hoạt, môi trường học thuật cởi mở, hạ tầng nghiên cứu hiện đại, cơ hội khởi nghiệp và thương mại hóa, quyền lợi cho gia đình đi cùng chất lượng sống hấp dẫn.
Theo một báo cáo của Bộ Nội vụ năm 2022, tỷ lệ tiến sĩ làm việc trong hệ thống công chức ở Việt Nam khoảng 0,63%. Trong khi đó, ở Mỹ, tỷ lệ này khoảng 9%, theo khảo sát của Quỹ khoa học Mỹ năm 2021. Con số này ở Hàn Quốc là gần 5%, nhưng chỉ 1-1,8% ở một số nước như Australia hay Nhật.
Tin Gốc: Vnexpress

