Nhiều cơ quan thuế địa phương như Thuế tỉnh Quảng Trị, Thuế cơ sở 3 TP.Huế, Thuế cơ sở 9 tỉnh Quảng Ngãi… vừa đồng loạt lưu ý về hạn chót hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) phải thông báo doanh thu nửa đầu năm tới cơ quan thuế.
Đối tượng phải thông báo là hộ kinh doanh mới bắt đầu hoạt động trong 6 tháng đầu năm nay và tự xác định doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống.
Hộ kinh doanh phải thông báo doanh thu thực tế phát sinh từ ngày bắt đầu kinh doanh đến hết ngày 30.6 với thời hạn thông báo chậm nhất là ngày 31.7.
Thông báo có thể thực hiện theo 2 cách: qua ứng dụng eTax Mobile hoặc qua cổng dịch vụ ngành thuế. Hộ kinh doanh sử dụng Mẫu số 01/TKN-CNKD ban hành kèm theo Thông tư 50/2026/TT-BTC.
Cơ quan thuế lưu ý chung, hộ kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống, tuy không nộp thuế nhưng vẫn phải thông báo doanh thu và thực hiện ghi chép sổ sách. Hộ đang hoạt động ổn định thì thông báo doanh thu 1 lần/năm, chậm nhất là ngày 31.1 năm sau.
Hộ mới thành lập trong năm, phải thông báo doanh thu 2 lần/năm (6 tháng đầu năm: chậm nhất ngày 31.7 và 6 tháng cuối năm: chậm nhất ngày 31.1 năm sau).
Hộ bắt đầu kinh doanh trong 6 tháng cuối năm, chỉ thông báo doanh thu phát sinh từ khi bắt đầu kinh doanh đến hết năm, chậm nhất ngày 31.1 năm sau.
Ngoài ra, hộ kinh doanh có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống cũng phải thông báo số tài khoản, số hiệu ví điện tử tới cơ quan thuế chậm nhất cùng thời điểm thông báo doanh thu. Nội dung thông báo bao gồm tất cả các tài khoản ngân hàng liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nếu trong năm 2026, hộ kinh doanh phát sinh doanh thu vượt 1 tỉ đồng thì phải chuyển sang kê khai và nộp thuế theo quý bắt đầu từ quý có phát sinh doanh thu trên 1 tỉ đồng.
Ví dụ, quý 1 và quý 2, hộ có doanh thu 450 triệu đồng, quý 3 có doanh thu 650 triệu đồng. Như vậy, tổng 3 quý, doanh thu của hộ kinh doanh là 1,1 tỉ đồng.
Khi đó, ngay quý 3, hộ kinh doanh phải chuyển sang kê khai nộp thuế đối với hộ kinh doanh có doanh thu từ trên 1 tỉ đồng đến 3 tỉ đồng theo quy định.
Nhìn lại chặng đường khoảng 25 năm qua, ông Bùi Quốc Hoan nhận xét ngành điện Việt Nam đã có sự thay đổi rất lớn về cơ cấu và mô hình phát triển. Trước đây, lĩnh vực phát điện chủ yếu do các doanh nghiệp Nhà nước như EVN, PVN và TKV đảm nhiệm. Tuy nhiên, cùng với quá trình hình thành thị trường phát điện cạnh tranh và việc ban hành các cơ chế khuyến khích như giá FIT cho điện mặt trời và điện gió, cơ cấu nguồn điện hiện nay đã thay đổi đáng kể.
Cụ thể, đến nay, tỷ trọng nguồn điện do EVN sở hữu chỉ còn khoảng 36-37% tổng công suất lắp đặt; PVN chiếm khoảng 10%, TKV khoảng 2%. Như vậy, tổng công suất nguồn điện thuộc các doanh nghiệp nhà nước hiện chỉ còn khoảng 50%, trong khi hơn một nửa công suất còn lại đến từ các nhà đầu tư tư nhân, các nhà máy điện độc lập (IPP), các dự án BOT và hơn 100.000 hệ thống điện mặt trời mái nhà đã được phát triển trong thời gian qua.
Ở lĩnh vực phân phối và bán lẻ điện, EVN hiện vẫn chiếm khoảng 90% thị phần, còn khoảng 10% thuộc hơn 700 đơn vị bán lẻ điện ngoài EVN. Đây cũng là nhóm đơn vị có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển điện mặt trời mái nhà trong thời gian tới, khi cơ chế giá điện đã chuyển sang cơ chế thị trường. Hiện nay, Nhà nước không còn áp dụng cơ chế giá cố định như giai đoạn 2017-2021. Thay vào đó, Bộ Công thương ban hành khung giá phát điện, trên cơ sở đó các chủ đầu tư và đơn vị mua điện tiến hành đàm phán giá. Cơ chế này hiện được áp dụng cho điện mặt trời, điện gió cũng như các dự án kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng. Đây là bước chuyển quan trọng trong việc phát triển thị trường điện theo hướng minh bạch và cạnh tranh hơn. Điện mặt trời mái nhà là giải pháp quan trọng cho chuyển đổi xanh.
Ông Bùi Quốc Hoan nhấn mạnh, khu vực phía nam có lợi thế rất lớn với khoảng 2.000-2.600 giờ nắng mỗi năm, mức bức xạ mặt trời thuộc nhóm cao nhất cả nước. Vì vậy luôn là khu vực phát triển điện mặt trời mái nhà mạnh nhất, cả trong giai đoạn áp dụng giá FIT cũng như sau khi Chính phủ ban hành các nghị định về điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và mang lại hiệu quả kinh tế rõ ràng.
Theo tính toán của EVNSPC, nếu kết hợp hệ thống điện mặt trời mái nhà với bộ lưu trữ có dung lượng phù hợp thì thời gian hoàn vốn bình quân chỉ khoảng 4-6 năm, ngay cả khi không có cơ chế hỗ trợ về giá. Điều này cho thấy điện mặt trời mái nhà mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp thông qua việc giảm chi phí mua điện từ lưới. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn ESG, các yêu cầu về phát triển xanh của đối tác quốc tế và góp phần thực hiện các cam kết giảm phát thải.
Ở góc độ quốc gia, việc phát triển điện mặt trời mái nhà còn góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng. EVNSPC cam kết hỗ trợ tối đa để thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà, Cụ thể, EVNSPC đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: Toàn bộ quy trình, thủ tục đấu nối đều được công khai, minh bạch và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn tối đa. Đối với các khách hàng đã lắp đặt điện mặt trời mái nhà trong giai đoạn sau khi cơ chế FIT kết thúc nhưng trước khi các chính sách mới được ban hành, EVNSPC chủ động hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ pháp lý theo các quy định chuyển tiếp của Chính phủ. Đến nay, khu vực miền Nam đã có khoảng 4.500 MWp điện mặt trời mái nhà được phát triển trong giai đoạn giá FIT và gần 500 MWp theo cơ chế tự sản xuất, tự tiêu thụ. Tổng công suất đạt khoảng 5.000 MWp, đóng góp đáng kể cho hệ thống điện. Riêng gần 500 MWp điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ hiện đã đóng góp hơn 1% sản lượng điện thương phẩm của khu vực, cho thấy hiệu quả rõ rệt của chính sách.
Đối với mục tiêu phát triển điện mặt trời mái nhà cho hộ gia đình và cơ quan hành chính, ông Hoan cho rằng, ngoài các chính sách hỗ trợ tài chính, cần nghiên cứu thêm các cơ chế mang tính khuyến khích mạnh hơn hoặc có tính bắt buộc phù hợp. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã quy định các công trình xây dựng mới phải lắp đặt điện mặt trời mái nhà ngay từ khi thiết kế. Việt Nam có thể nghiên cứu áp dụng những mô hình phù hợp, đồng thời kết hợp với các chính sách tín dụng ưu đãi để hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn đầu tư.
Theo kết quả khảo sát của Sở Xây dựng tỉnh Tây Ninh tại dự án chung cư nhà ở xã hội (NƠXH) Thành phố Vàng (giai đoạn 1) với quy mô 824 căn do Công ty CP Thành Phố Vàng làm chủ đầu tư), dù dự án đã mở bán từ tháng 6.2025 nhưng đến nay chỉ bán được 137 căn, đạt tỷ lệ 16,62%.
Ảm đạm hơn, dự án NƠXH thuộc Khu dân cư Lương Hòa (tọa lạc tại xã Lương Hòa, do Công ty cổ phần Prodezi Long An làm chủ đầu tư) dù mở bán từ tháng 11.2025 với quy mô 400 căn, nhưng mới chỉ chốt hợp đồng được vỏn vẹn 13 căn, đạt tỷ lệ 3,25%.
Khảo sát một số người của Thanh Niên cho thấy một bức tranh khác. "Tôi vẫn thích ở nhà trọ hoặc ở tại chỗ làm hơn vì chỉ việc trả tiền thuê hàng tháng là xong. Còn vô ở trong các chung cư cao tầng thì đầu tiên phải trả một khoản tiền khá lớn, rồi còn phải định kỳ trả góp, hàng tháng còn phải trả đủ thứ chi phí quản lý, xe cộ… Tôi nghĩ mình không kham nổi nên cho dù khu vực Đức Hòa, Mỹ Hạnh này có mở bán căn hộ NƠXH và tôi có đủ điều kiện cũng sẽ không mua", anh Nguyễn Hoành Huynh (38 tuổi, quê ở tỉnh Vĩnh Long, làm việc trong doanh nghiệp tại xã Mỹ Hạnh, tỉnh Tây Ninh gần 10 năm qua) chia sẻ.
Trong khi đó, anh Nguyễn Văn Hạnh (quê tỉnh Đồng Tháp, kỹ sư xây dựng làm việc trong một công trình tại phường Tân Ninh) cho rằng nhu cầu NƠXH tại khu vực này là không nhiều bởi không những doanh nghiệp quy mô lớn. Mặt khác giá nhà đất tại đây cũng không quá cao dẫn đến nhu cầu vào ở chung cư cao tầng cũng thấp.
Theo UBND tỉnh Tây Ninh, thực hiện theo Nghị quyết 07/NQ-CP ngày 12.1.2026 của Chính phủ về chiến lược phát triển NƠXH giai đoạn 2025 - 2030, tỉnh Tây Ninh được giao thực hiện hơn 80.240 căn. Tính đến nay, tỉnh đã rà soát và quy hoạch tới 73 khu đất với tổng diện tích 570,8 ha làm NƠXH dành cho công nhân và người thu nhập thấp. Hiện đã hoàn thành 19 dự án với hơn 6.200 căn và UBND tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 33 dự án khác với quy mô hơn 41.400 căn.
Tại buổi làm việc với Bộ Xây dựng mới đây, ông Lê Văn Hẳn, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh thừa nhận, nhu cầu NƠXH tại một số khu vực đô thị và các khu - cụm công nghiệp không tăng như dự kiến ban đầu. Nguyên nhân đầu tiên là tốc độ đầu tư các nhà máy tại các khu - cụm công nghiệp trên địa bàn còn chậm, tỷ lệ lấp đầy thấp kéo theo lượng công nhân không tăng nhanh như dự kiến. Hiện vẫn khoảng 400.000 người, chủ yếu đóng là góp từ địa bàn tỉnh Long An cũ. Vì thế, nhu cầu thực tế về nhà ở cho công nhân vì thế thấp hơn rất nhiều so với số liệu dùng làm căn cứ xây dựng chỉ tiêu ban đầu.
Thứ hai, rào cản vẫn nằm ở năng lực tài chính và thói quen của người lao động. Phần lớn công nhân có thu nhập thấp, chưa đủ điều kiện tích lũy để mua đứt một căn hộ. Thay vào đó, họ ưu tiên lựa chọn hình thức thuê phòng trọ gần nơi làm việc với chi phí rẻ và linh hoạt hơn.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có khoảng 6.549 khu nhà trọ do các hộ gia đình, cá nhân tự đầu tư với 95.443 căn/phòng. Hệ thống nhà trọ tự phát này đã và đang gánh phân khúc phòng thuê cho đại đa số người lao động, khiến các dự án NƠXH chính quy bị "thất sủng".
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, việc thực hiện "đủ chỉ tiêu" đến năm 2030 xây đủ 80.240 căn NƠXH không chỉ là nhiệm vụ khó khăn mà còn chưa phù hợp với diễn biến thực tế. Từ đó có thể dẫn đến tình trạng "thừa cung thiếu cầu", làm giảm mạnh hiệu quả đầu tư và gây lãng phí nguồn lực xã hội.
Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh cũng kiến nghị Bộ Xây dựng xem xét, báo cáo Chính phủ cho phép điều chỉnh giảm khoảng 38% chỉ tiêu phát triển NƠXH từ 80.240 căn xuống còn 50.000 căn; đồng thời đề xuất một lộ trình phân bổ kế hoạch hoàn thành hợp lý qua từng năm.
Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank, HoSE: LPB) vừa công bố danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2024. Đáng chú ý, ông Phạm Nhật Vượng lần đầu xuất hiện trong danh sách này với tỉ lệ sở hữu tiệm cận ngưỡng cổ đông lớn theo quy định của pháp luật chứng khoán.
Theo danh sách cập nhật đến ngày 23/6, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (VNPost) tiếp tục là cổ đông lớn nhất của LPBank khi nắm giữ hơn 195,28 triệu cổ phiếu LPB, tương ứng 6,537% vốn điều lệ. Bên cạnh đó, người có liên quan đến VNPost sở hữu thêm 100.544 cổ phiếu, tương đương 0,0034% vốn điều lệ ngân hàng.
Đứng thứ hai trong danh sách là ông Phạm Nhật Vượng, được bổ sung vào danh sách cổ đông từ ngày 23/6/2026. Ông Vượng sở hữu 146,2 triệu cổ phiếu LPB, tương ứng 4,894% vốn điều lệ. Theo công bố của LPBank, người có liên quan đến ông Vượng không sở hữu cổ phần tại ngân hàng.
Việc LPBank công bố danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên là yêu cầu mới theo Luật Các tổ chức tín dụng 2024 nhằm tăng cường minh bạch cơ cấu sở hữu tại các ngân hàng. Trước đây, các tổ chức tín dụng chủ yếu công bố thông tin đối với cổ đông lớn nắm giữ từ 5% vốn điều lệ trở lên.
Quy định mới giúp cơ quan quản lý và nhà đầu tư có cái nhìn đầy đủ hơn về cơ cấu cổ đông, đồng thời tăng cường giám sát các mối quan hệ sở hữu và người có liên quan trong hệ thống tín dụng.
Về hoạt động kinh doanh, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, LPBank đã thông qua mục tiêu lợi nhuận trước thuế gần 15.000 tỷ đồng, đồng thời tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động. Ngân hàng cũng vừa chi trả cổ tức bằng tiền mặt với tỉ lệ 30%, thuộc nhóm cao nhất ngành ngân hàng trong năm nay.