Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Hàn Quốc hồi đầu tháng mở cuộc điều tra về việc này. Các sinh viên nhập học vào kỳ thu năm ngoái, nhập cảnh vào Hàn Quốc bằng thị thực học nghề D-4, rồi chuyển sang thị thực du học hệ đại học chính quy D-2.
Hồ sơ của nhóm sinh viên này bị nghi ngờ sử dụng bằng tốt nghiệp từ các trường cao đẳng đã bị tước giấy phép hoặc không được công nhận từ 20 năm trước ở Mỹ. Toàn bộ 112 sinh viên liên quan đã rời khỏi Hàn Quốc.
Theo quy định, công dân Trung Quốc cần làm hợp thức hóa lãnh sự giấy tờ như bằng cấp, bảng điểm mới có thể xin thị thực du học ở nước này. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh từ chối giải thích lý do vì sao họ cho rằng giấy tờ của nhóm sinh viên bị làm giả. Cuộc điều tra dự kiến xem xét liệu Đại học Honam có liên quan hoặc cố tình bỏ qua các hồ sơ đáng ngờ của sinh viên quốc tế hay không.
Một quan chức trong trường cho biết không thể xác minh tài liệu bị làm giả hay không vì không có thẩm quyền.
“Sinh viên cũng có thể đã bị lừa đảo bởi các bên mạo danh cơ sở giáo dục được công nhận tại Mỹ. Chúng tôi vẫn đang nỗ lực xác định chính xác bối cảnh sự việc”, người này cho biết.
Theo Viện phát triển giáo dục Hàn Quốc, tính đến tháng 4/2024, Đại học Honam có 1.753 sinh viên quốc tế, hơn 84% đến từ Trung Quốc.
Trường đang bị chỉ trích vì hệ đào tạo chuyển tiếp 3+1. Chương trình cho phép sinh viên Trung Quốc đã hoàn thành ba năm tại các trường cao đẳng chuyển tiếp và lấy bằng cử nhân chỉ sau một năm học thêm tại trường.
Doãn Hùng (Theo Korea Times, Korea Herald)
Nguồn: https://vnexpress.net/hang-tram-sinh-vien-bi-nghi-dung-bang-gia-o-my-de-du-hoc-han-quoc-5059222.html

Tuy nhiên theo các chuyên gia, cần phải hiểu IELTS là một định hướng dài hạn để xây nền tiếng Anh học thuật chứ không nên chỉ học IELTS khi cần thi lấy chứng chỉ, đạt điểm số cho "bằng bạn bằng bè".
Chia sẻ tại buổi tư vấn trực tuyến chủ đề Học IELTS thế nào chuẩn bị cho các kỳ thi lớn? của Báo Thanh Niên diễn ra hôm 5.5, tiến sĩ (TS) Đỗ Hữu Nguyên Lộc, Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy tiếng Anh TP.HCM (TESOL TP.HCM), cho biết theo quy chế tuyển sinh 2026 của Bộ GD-ĐT thì thí sinh có chứng chỉ IELTS được chọn một trong 2 hình thức: hoặc quy đổi điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển, hoặc được cộng điểm. Với quy định của Bộ GD-ĐT thì IELTS không thể là tấm vé "2 trong 1", vừa được quy đổi điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển vừa được cộng điểm nữa. Đồng thời, thí sinh cũng có thể sử dụng chứng chỉ IELTS, tùy mức điểm, để xét học bổng khi trúng tuyển đầu vào ĐH, hay sử dụng khi du học. Nhưng không phải vì những ích lợi của tấm vé IELTS, mà phụ huynh, học sinh (HS) ngộ nhận về việc học tiếng Anh, ngộ nhận về IELTS.
TS Lộc cho rằng một trong những hiểu lầm phổ biến hiện nay là phụ huynh thường nhìn việc học tiếng Anh của trẻ tiểu học bằng tiêu chuẩn của người lớn: xem học tiếng Anh để thi sao cho đạt IELTS 7.0 hay 8.0; trẻ muốn học giỏi tiếng Anh là phải học nhiều ngữ pháp, làm nhiều bài tập, hoặc luyện thi chứng chỉ càng sớm càng tốt; hoặc nghĩ rằng trẻ phải phát âm giống người bản xứ mới được xem là giỏi; hay học với giáo viên (GV) nước ngoài thì hiệu quả hơn… Nhưng ở lứa tuổi tiểu học, điều quan trọng hơn là trẻ được tiếp xúc với tiếng Anh một cách tự nhiên, nghe, nói nhiều, bắt chước, tương tác, chơi trò chơi, sử dụng ngôn ngữ trong tình huống quen thuộc. Đặc biệt với trẻ em, yếu tố quan trọng là GV có hiểu tâm lý lứa tuổi, biết tổ chức hoạt động, biết điều chỉnh ngôn ngữ và biết giúp trẻ tiến bộ từng bước. Đó là lý do không phải ai có điểm IELTS cao cũng dạy được tiếng Anh, đặc biệt là dạy cho trẻ em.
Nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL IELTS Đình Lực, cho biết nếu nghĩ chỉ học tiếng Anh 1 - 2 năm là đạt được điểm IELTS mơ ước thì không khả thi; nhất là khi vào bậc THPT, HS vừa có quá nhiều môn học, kỳ thi để lo lắng, trong khi nếu học IELTS sớm, HS được bồi đắp vốn kiến thức, vốn tiếng Anh học thuật, xây dựng tư duy của mình, chứ không phải với tâm thế "học để thi".
Hơn nữa, lứa tuổi tiểu học là giai đoạn vàng để HS học nghe, nói tiếng Anh, bồi đắp tư duy, phát triển kiến thức. Do đó, nên trả IELTS về đúng vị trí của nó - học để các em phát triển ngôn ngữ và tư duy, kết nối với thế giới - không phải là một đường đua điểm số.
TS Đỗ Hữu Nguyên Lộc nhìn nhận: "Nếu học IELTS ở tiểu học bằng cách cho các em luyện đề thật, học mẹo làm bài, viết bài nghị luận học thuật, hoặc chạy theo mức điểm từ quá sớm, điều này có thể quá sức và chưa phù hợp. HS tiểu học chưa có nhu cầu thực tế phải thi IELTS ngay. Quan trọng hơn, các em đang trong giai đoạn hình thành ngôn ngữ, tư duy, cảm xúc học tập và sự tự tin. Nếu đưa áp lực thi cử vào quá sớm, trẻ có thể học một cách máy móc, thậm chí mất hứng thú với tiếng Anh".
Ông Lộc nói thêm: "Nếu IELTS được hiểu là một định hướng dài hạn để xây nền tiếng Anh học thuật, thì câu chuyện sẽ khác. Ở cấp tiểu học, các em hoàn toàn có thể làm quen với những năng lực nền tảng mà sau này IELTS cần: nghe hiểu ý chính, mô tả tranh, kể chuyện, so sánh, đưa ra lý do đơn giản, đọc văn bản phù hợp với lứa tuổi, viết câu và đoạn ngắn rõ ràng. Vấn đề không nằm ở chữ IELTS mà nằm ở cách chương trình được thiết kế".
Nghiên cứu sinh Như Quỳnh cũng cho hay hiện nay nhiều HS tiểu học đã học các chương trình Starter, Mover, Flyer; nhiều em mới lớp 2, lớp 3 đã hoàn thành Flyers, có nền tảng tiếng Anh khá vững. Sau khi hoàn thành các cấp độ trên, HS thường đã có vốn từ vựng, ngữ pháp và mẫu câu giao tiếp đủ tốt để miêu tả những điều quen thuộc xung quanh mình, cũng như giao tiếp cơ bản trong các tình huống đời thường. Vì vậy, khi chuyển lên IELTS ở bậc THCS, các em không bắt đầu từ con số 0, mà đã có một bước đệm tốt về ngôn ngữ.
Thạc sĩ Đỗ Thị Ngọc Anh, giảng viên tại DOL IELTS Đình Lực, cho rằng hoàn toàn khả thi nếu một HS tiểu học đạt được 7.0 IELTS, nếu em đó có phương pháp học tập, lộ trình phù hợp. Ví dụ, HS được học Starters từ lớp 1, Movers ở lớp 2, Flyers ở lớp 3, sau đó chuyển sang IELTS THCS trong giai đoạn lớp 4, lớp 5 và lớp 6. Khi lên lớp 7 hoặc lớp 8, các em có thể bắt đầu học IELTS theo hướng chuyên sâu hơn. "Còn lại nếu chỉ học IELTS bằng cách học tủ, học mẹo, luyện đề, học tập nhồi nhét để lấy điểm số thì điều này vừa áp lực, vừa không khả thi với HS tiểu học, THCS", thạc sĩ Ngọc Anh nói.
Phạm Vũ Thiên Di, lớp 6 Trường THCS - THPT Trần Đại Nghĩa, TP.HCM, đang học IELTS tại DOL English. Di cho biết lý do học IELTS sớm: "Con thấy giỏi tiếng Anh thì nghe được nhiều loại nhạc, xem nhiều loại phim và đọc được nhiều sách, tìm hiểu được nhiều nền văn hóa. Con cũng thích đi du lịch, du học và mọi thứ sẽ dễ dàng hơn nếu mình giỏi ngoại ngữ từ sớm. Nên con nghĩ cái gì mình có cơ hội chinh phục trước thì mình tập trung học giỏi để từ đó có nền tảng chinh phục, cải thiện các kỹ năng khác. Con thấy việc học vui vẻ, không áp lực". Mỗi ngày trên lớp, Di thường nói chuyện bằng tiếng Anh với các bạn. Khi rảnh rỗi, em xem các chương trình, nghe nhạc bằng tiếng Anh.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 10/4, UBND xã Hòa Vang công bố triển khai chính sách này, trở thành địa phương đầu tiên miễn phí sách giáo khoa cho học sinh từ tiểu học đến THPT.
Trước đó, xã đã huy động gần 1,5 tỷ đồng để mua mới hơn 74.000 cuốn sách. Kết hợp với mô hình "Tủ sách dùng chung" hiện có, tổng kho sách của địa phương hiện đạt hơn 91.000 cuốn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho hơn 7.000 học sinh trên địa bàn. Các em sẽ mượn sách từ thư viện và hoàn trả khi kết thúc năm học.
"Việc này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho người dân mà còn giáo dục học sinh ý thức giữ gìn tài sản chung", ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang nói. Theo ông, việc cả nước dùng chung một bộ sách giáo khoa giúp địa phương thuận lợi hoàn thành mục tiêu này sớm hơn dự kiến.
Chủ trương miễn phí sách giáo khoa được đề cập trong Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, được Quốc hội thông qua hồi tháng 12/2025.
Theo dự kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc này được triển khai trong cả nước từ năm học 2029-2030. Nhà nước sẽ đầu tư mua sắm cho thư viện, học sinh và giáo viên được mượn sách để dùng trong học kỳ hoặc năm học, trả khi dùng xong.
Nguyễn Đông
Nguồn: https://vnexpress.net/xa-dau-tien-mien-phi-sach-giao-khoa-tu-lop-1-den-12-5060839.html

Tại Hà Nội, sau kết quả của đợt thi thử do Sở GD-ĐT tổ chức, nhiều giải pháp quyết liệt đã được đưa ra để cải thiện kết quả của kỳ thi chính thức. Sở này chỉ ra mặt bằng chất lượng chung ở mức trung bình nhưng không vững, điểm trung bình toàn TP khoảng 5,31. Trong đó, khối công lập đạt khoảng 5,77; khối tư thục tiệm cận; khối giáo dục thường xuyên thấp, khoảng 3,52. Điều này cho thấy sự phân hóa lớn giữa các khối, đồng thời tiềm ẩn rủi ro ở nhóm đơn vị có chất lượng thấp.
Ông Hà Xuân Nhâm, Trưởng phòng Giáo dục trung học (Sở GD-ĐT Hà Nội), cho biết Sở đã yêu cầu tất cả các nhà trường rà soát toàn bộ dữ liệu khảo sát, phân loại học sinh (HS) theo 3 nhóm: nguy cơ trượt tốt nghiệp, nhóm trung bình và nhóm khá, giỏi; trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch ôn tập riêng cho từng nhóm, không dạy đồng loạt. Tập trung xử lý dứt điểm các môn nền tảng, đặc biệt là toán và ngữ văn; tổ chức các lớp phụ đạo bắt buộc đối với HS dưới trung bình; kiểm đếm kết quả theo từng tuần.
Với một số môn có kết quả khảo sát thấp, yêu cầu các đơn vị rà soát phương pháp dạy học, tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo cụm, thống nhất cách tiếp cận, tránh tình trạng dạy học không sát dạng đề. Tổ chức ôn tập theo tổ hợp xét tuyển, đặc biệt đối với các môn tự chọn và tiếng Anh; tăng cường luyện đề, nâng cao chất lượng ở nhóm HS khá, giỏi để tạo nguồn điểm cao.
Cũng theo ông Nhâm, đối với các đơn vị có kết quả thấp, yêu cầu xây dựng kế hoạch riêng, báo cáo tiến độ theo tuần; Sở GD-ĐT sẽ tổ chức theo dõi riêng theo cụm, không để tình trạng "điểm yếu kéo dài" phải có giải pháp cụ thể, có cam kết kết quả; giao các đơn vị có kết quả cao thực hiện vai trò hỗ trợ chuyên môn, chia sẻ phương pháp cho các đơn vị trong cụm.
"Kết quả khảo sát lần này đã chỉ ra rất rõ những vấn đề cốt lõi, không còn là nhận định chung mà đã có số liệu cụ thể đến từng đơn vị, từng nhóm HS. Vì vậy, các nhà trường cần nghiêm túc nhìn thẳng vào kết quả, không né tránh, không đánh giá chung chung, xác định rõ trách nhiệm của từng tập thể, từng cá nhân trong tổ chức ôn tập. Kết quả kỳ thi tốt nghiệp năm 2026 sẽ là thước đo trực tiếp đối với trách nhiệm của từng đơn vị", ông Nhâm nhấn mạnh.
Lãnh đạo Trường THPT Yên Viên (Hà Nội), một trong những đơn vị có chất lượng đầu vào không cao, cho biết kết quả khảo sát một số HS của trường còn hạn chế về kết quả học tập nên đã chủ động mở các lớp ôn tập riêng để hỗ trợ. Nội dung ôn tập trung củng cố kiến thức cơ bản, hướng tới mục tiêu giúp HS đạt từ 5 điểm trở lên. Song song với hoạt động ôn tập, nhà trường đã tổ chức 2 đợt khảo sát nội bộ và sẽ tiếp tục tổ chức thêm một kỳ khảo sát toàn trường vào ngày 20 - 21.5 nhằm giúp HS làm quen áp lực phòng thi, đồng thời điều chỉnh kế hoạch ôn tập trong giai đoạn "nước rút".
Tương tự Hà Nội, dù có kết quả tốt nghiệp THPT thường ở tốp cao cả nước nhưng Nghệ An vẫn đưa ra nhiều giải pháp mạnh chuẩn bị cho chất lượng thi năm nay.
Ông Nguyễn Văn Khoa, Giám đốc Sở GD-ĐT Nghệ An, cho biết ngay từ đầu năm học, ngành giáo dục tỉnh đã triển khai đồng bộ công tác ôn tập theo hướng phân hóa năng lực HS, chú trọng 2 môn bắt buộc là toán và ngữ văn cùng các môn lựa chọn phù hợp từng đối tượng. Các trường tăng cường phụ đạo miễn phí cho HS yếu, đồng thời bồi dưỡng nhóm HS có mục tiêu điểm cao. Hàng nghìn tiết dạy miễn phí đã được giáo viên toàn tỉnh thực hiện nhằm hỗ trợ HS vùng khó khăn và HS có nguy cơ trượt tốt nghiệp.
Sở GD-ĐT tổ chức tới 3 đợt thi thử trực tiếp toàn tỉnh và hơn 10 đợt thi thử trực tuyến để HS làm quen với cấu trúc đề mới và áp lực phòng thi. Ngành giáo dục cũng phát động phong trào "90 ngày đêm quyết tâm đạt kết quả cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026". Sở chủ động tư vấn chuyên môn, xây dựng mạng lưới hỗ trợ giáo viên toàn tỉnh với mô hình trường giúp trường, tổ bộ môn giúp tổ bộ môn…; đồng thời tiếp cận sớm cấu trúc đề thi mới, tổ chức tập huấn đội ngũ cốt cán, xây dựng ngân hàng câu hỏi và đưa các dạng thức đề mới vào kiểm tra từ sớm để HS làm quen.
Tại Phú Thọ, Phó giám đốc Sở GD-ĐT Phùng Quốc Lập cho biết tỉnh đã tổ chức 2 đợt khảo sát, thi thử để đánh giá chất lượng dạy học, phân tích kết quả theo từng trường, từng môn nhằm kịp thời phát hiện HS yếu và yêu cầu giáo viên phụ đạo sát từng nhóm đối tượng. Tỉnh còn cử các đoàn giáo viên cốt cán đến hỗ trợ, tư vấn ôn tập cho các trường, giúp nhiều đơn vị cải thiện rõ kết quả.
Tại Tuyên Quang, một trong những địa phương có kết quả tốt nghiệp THPT thấp nhất cả nước các năm gần đây, Sở GD-ĐT chỉ ra thực tế sau khi sáp nhập tỉnh (Hà Giang và Tuyên Quang), số lượng trường THPT của toàn tỉnh tăng trong khi chất lượng giáo dục vẫn còn có sự chênh lệch giữa vùng thuận lợi và vùng sâu, vùng xa.
Để khắc phục, Sở GD-ĐT xây dựng tài liệu ôn tập chung cho toàn tỉnh nhằm giúp giáo viên có cơ sở tham khảo và triển khai thống nhất; thành lập 9 cụm chuyên môn với sự tham gia của cả các cơ sở giáo dục ở vùng thuận lợi và vùng khó khăn. Qua đó, các trường tăng cường trao đổi và hỗ trợ chuyên môn lẫn nhau. Tổ tư vấn chuyên môn của Sở còn thường xuyên tổ chức dự giờ trực tuyến, từ đó kịp thời tư vấn, chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học và ôn tập tại các nhà trường.
Mới đây, Bộ GD-ĐT đã tổ chức các đoàn kiểm tra công tác chuẩn bị thi tốt nghiệp THPT ở một số địa phương.
Tại các buổi làm việc, ông Phạm Ngọc Thưởng, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, nhấn mạnh kết quả thi tốt nghiệp THPT phải là kết quả của cả một quá trình dạy học bài bản, khoa học; là kết quả từ sự tận tâm của đội ngũ nhà giáo, sự đồng hành xuyên suốt cùng HS và tinh thần "khổ luyện" đã giúp các em vượt qua kỳ thi bằng năng lực thực chất.
Ông Thưởng ghi nhận và đánh giá cao các mô hình tổ chức ôn tập cho HS lớp 12, nổi bật là mô hình các tổ chuyên môn không phân biệt theo trường, hỗ trợ lẫn nhau, giúp phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên, chuyên viên có năng lực chuyên môn vững vàng trên toàn tỉnh.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT lưu ý các sở GD-ĐT chủ động tham mưu, tổ chức thi thử nghiêm túc như thi thật và sử dụng kết quả thi thử để phân tích, hỗ trợ từng HS; đồng thời nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục phải hướng tới thực chất, bền vững, tránh dạy học chỉ để đáp ứng cấu trúc đề thi.
Tin Gốc: Thanh Niên

