GS. TS Trần Thị Việt Nga, Viện trưởng – Viện Công nghệ cao Việt Nhật và giảng viên cao cấp tại khoa Kỹ thuật Môi trường, trường Đại học Xây dựng Hà Nội, được trao giải Kovalevskaia năm 2025, hồi tháng 3.
Giải thưởng mang tên nhà toán học người Nga – Sophia Kovalevskaia, để vinh danh những nhà khoa học nữ có thành tựu xuất sắc của Việt Nam.
Tại Đại học Xây dựng Hà Nội, chị Nga giảng dạy môn Xử lý nước thải, Hóa nước – Hóa môi trường, Công nghệ xử lý nước thải bậc cao và Quản lý tổng hợp nguồn nước. Hướng nghiên cứu của chị tập trung vào phát triển, cải tiến công nghệ xử lý nước và nước thải; quản lý nước và chất thải bền vững để đảm bảo an ninh năng lượng, thu hồi tài nguyên và thích ứng biến đổi khí hậu.
“Giải Kovalevskaia là giải thưởng mà tôi ao ước từ khi còn đi học. Tôi xúc động vì mình đã có vinh dự này sau gần 30 năm”, chị Nga nói.
Chị Nga có bố là GS. TSKH Trần Hữu Uyển, chuyên gia khoa học hàng đầu ngành Kỹ thuật cấp thoát nước. Thừa hưởng tinh thần học tập, nghiên cứu từ gia đình, chị sớm đam mê khoa học, khát khao khám phá những kiến thức mới.
Năm 1991, cô nữ sinh chuyên Hóa trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam thi vào Đại học Xây dựng Hà Nội, khoa Kỹ thuật hạ tầng và cấp thoát nước. Khi ấy, lựa chọn của chị giản đơn – muốn tiếp bước cha trong lĩnh vực mà ông đã dành cả đời nghiên cứu.
Càng học, chị càng thấy mình phù hợp, nhờ tư duy logic về kỹ thuật, được rèn giũa từ môi trường khoa học trong gia đình. Nền tảng chuyên Hóa cũng giúp chị nắm bắt tốt các quá trình hóa sinh trong xử lý và kiểm soát ô nhiễm nước.
Bên cạnh đó, kỹ thuật cấp thoát nước vốn là tổng hòa liên ngành kỹ thuật-xã hội, liên quan con người và môi trường, đòi hỏi hiểu biết nhiều chiều và có hệ thống. Đây đều là những vấn đề thách thức mà chị quan tâm, thôi thúc chị tiếp tục học lên cao, theo con đường nghiên cứu, giảng dạy.
Năm 1996, chị Nga tốt nghiệp xuất sắc, sau đó nhận học bổng du học thạc sĩ tại Viện Kỹ thuật Châu Á (AIT), Thái Lan. Trước ngày lên đường, nhiều người “rào” rằng học sâu về ngành này rất nặng. Nhưng chị Nga không thấy áp lực mà còn học đầy say mê.
“Khó khăn là điều bình thường trong cuộc sống. Thậm chí, đó luôn là động lực, cảm hứng để tôi nỗ lực”, chị Nga tâm niệm.
Ba năm sau, chị nhận học bổng tiến sĩ tại Đại học Tokyo – ngôi trường top 1 Nhật Bản, rồi làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ ở Đại học Liên Hiệp Quốc (JSPS), lĩnh vực Môi trường và Phát triển bền vững.
Theo chị Nga, mỗi giai đoạn trên chặng đường học thuật đều có những khó khăn, đòi hỏi chị có giải pháp riêng. Thời đại học và cao học, khi mọi nhiệm vụ đều rõ ràng, chị luôn cố gắng mở rộng kiến thức đã học, hoàn thành tốt hơn yêu cầu để tự chinh phục tri thức mới.
Còn khi trở thành một nhà khoa học độc lập, cần tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề, chị “lăn lộn” để nhìn thấu đáo một bài toán. Khi đã ra được định hướng tốt nhất, “việc còn lại là tập trung và nỗ lực hết mình”.
Để hoàn thành những nghiên cứu mà nhiều người gọi là “thành tựu”, theo chị Nga, là hàng trăm, hàng nghìn lần thử nghiệm thất bại. Hiểu rằng đó là điều tất yếu trong khoa học, khi nghiên cứu không đạt kỳ vọng ban đầu, chị quay lại “lục lọi”, đánh giá phương pháp và thử từ đầu. Cứ như vậy, sau mỗi lần một thí nghiệm thành công là một lần chị được “thắp” thêm sự tự tin để đi tiếp.
Tới nay, chị đã thực hiện 21 đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp, trong đó làm chủ nhiệm hai đề tài cấp Nhà nước, 6 cấp bộ. Mỗi nghiên cứu đều là “đứa con khoa học” mà chị dành nhiều tâm huyết, tiêu biểu là công trình phát triển công nghệ màng lọc MBR và AnMBR trong xử lý nước thải.
Theo chị Nga, công nghệ này có hiệu quả cao và mở ra nhiều tiềm năng ngoài xử lý và loại bỏ ô nhiễm. Nó giúp tái sử dụng nước cho những mục đích phi ăn uống (như nông nghiệp), đồng thời cho phép thu hồi những vật chất có ích để tái tạo sản phẩm phục vụ cuộc sống, ví dụ khí sinh học từ nguồn thải.
Trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghiệp, môi trường, chị Nga nhận định hành trình đưa kết quả từ phòng thí nghiệm tới thực tế là rất dài. Nó đòi hỏi nguồn lực lớn để triển khai trên quy mô rộng, cùng sự hợp lực từ các cơ quan nhà nước và ý thức doanh nghiệp để môi trường được đặt vào đúng vị thế quan trọng.
Vì vậy, giải thưởng Kovalevskaia không chỉ là sự ghi nhận cho một cá nhân, mà còn cho một lĩnh vực đời sống rất quan trọng. Đây cũng là động lực để chị tiếp tục nghiên cứu, cống hiến cho phát triển xanh, sạch và bền vững.
Chị Nga cho rằng chất lượng nước luôn là vấn đề quan trọng ở tất cả cấp độ phát triển của xã hội, nên những nghiên cứu về nó sẽ không bao giờ dừng lại. Nữ giảng viên dự định tiếp tục tìm hiểu ứng dụng công nghệ màng trong xử lý nước thải để giải quyết những bài toán ngoài khả năng của công nghệ truyền thống.
Nhìn lại hành trình, chị Nga tin rằng nỗ lực trau dồi kiến thức nền tảng, mở rộng tri thức, và học cách bắt nhịp với những xu hướng nghiên cứu của thế giới chính là chìa khóa cho các bạn trẻ dấn thân vào con đường học thuật lâu dài.
“Nghiên cứu là gian lao, nhưng rất thú vị. Nếu yêu thích, không gì là không thể vượt qua”, chị Nga tâm niệm.
Chị cũng tin rằng, trong những nghiên cứu kỹ thuật liên quan tới đời sống, các nhà khoa học nữ có lợi thế ở khả năng thấu cảm, sự phối hợp hài hòa trong nhóm nghiên cứu và khả năng nhìn nhận thấu đáo. Dù phải gánh vác nhiều trách nhiệm, đó cũng là cơ hội quý để rèn luyện nỗ lực, sự kiên trì và khả năng tổ chức công việc hiệu quả.
“Khoa học rất bình đẳng. Có sự nỗ lực và tập trung sẽ giúp chúng ta thành công”, chị nói.
Shing Tung Yau (Khâu Thành Đồng) sinh năm 1949, là một trong những nhà toán học đương đại có ảnh hưởng nhất thế giới. Ông là người gốc Hoa đầu tiên giành giải Fields vào năm 1982, khi mới 33 tuổi.
Yau được ghi nhận vì những đóng góp cho phương trình vi phân đạo hàm riêng, giả thuyết Calabi trong hình học đại số, giả thuyết khối lượng dương của lý thuyết tương đối rộng, các phương trình Monge-Ampère thực và phức.
Ảnh hưởng từ công trình của Yau còn thể hiện trong lĩnh vực hình học lồi, hình học đại số, hình học đếm, đối xứng gương, thuyết tương đối rộng và lý thuyết dây. Nghiên cứu của ông cũng chạm đến toán học ứng dụng, kỹ thuật và phân tích số.
Yau là người con thứ 5 trong gia đình có 8 anh, chị em. Khi ông mới vài tháng tuổi, cả gia đình chuyển đến Hong Kong. Là nhà kinh tế học và triết gia, cha ông giảng dạy tại một trường cao đẳng, sau này thuộc Đại học Trung văn Hong Kong (CUHK).
"Gia đình chúng tôi rất nghèo, ban đầu gần như chết đói", ông Yau nói trong cuộc phỏng vấn với tờ Discover Magazine năm 2010. Họ sống trong một ngôi nhà ở ngoại ô, không có điện hay nước sinh hoạt. Yau thường xuyên trốn học, cầm đầu một nhóm lang thang khắp nơi, nhưng vẫn làm đủ bài tập mà cha giao ở nhà.
Dù khó khăn, cha của Yau luôn duy trì một nhóm sinh viên đến nhà để bàn luận về triết học và văn học. Ông cũng khuyến khích con quan tâm đến triết, toán, dạy các bài thơ và văn dài, nên khi mới 10-11 tuổi, Yau đã dần quen với lối suy luận trừu tượng.
Biến cố tới vào năm ông 14 tuổi, khi cha qua đời. Kinh tế kiệt quệ, mẹ ông phải làm hàng đan, móc để bán. Yau bắt đầu đọc và trân trọng những cuốn sách cha để lại, chú tâm học hành hơn. Ông vừa đi học, vừa làm gia sư để phụ giúp gia đình.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1965, ông học cử nhân toán tại Đại học Trung văn Hong Kong. Ông có sức học vượt trội, có thể làm bài thi của nhiều môn mà không cần đến lớp. Stephen Salaff, một giảng viên ở trường, đề nghị ông đến Đại học California, Berkeley (Mỹ) làm tiến sĩ vì thấy tiềm năng to lớn của học trò.
Salaff liên hệ với một phó giáo sư, thuyết phục trường miễn, giảm yêu cầu đầu vào. Ông cũng tìm cách để Yau được nhận một trong hai suất học bổng từ Tập đoàn International Business Machines (IBM) để thực hiện nghiên cứu.
"Nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy, tôi sẽ không trở thành nhà toán học như bây giờ", ông Yau nói.
Năm 1969, Yau phải vay bạn bè để mua vé máy bay sang San Francisco, nhận học bổng 300 USD mỗi tháng nhưng gửi một nửa về cho gia đình.
Ông đăng ký nhiều lớp học cùng lúc và bắt đầu quan tâm đến hình học. Trong đó, một khóa về phương trình vi phân riêng phần phi tuyến do Charles Bradfield Morrey Jr. giảng dạy được ông đánh giá rất xuất sắc.
Vì không đủ tiền về nhà, Yau đã dành cả kỳ nghỉ Giáng sinh trong thư viện, vùi đầu vào các bài báo nghiên cứu và chuyên khảo, đặc biệt là Tạp chí Hình học Vi phân và các bài báo của John Milnor về lý thuyết nhóm hình học.
"Tôi thấy hình học rất thanh lịch và đẹp đẽ. Tôi rất hào hứng với việc không gian có thể có độ cong và làm thế nào để nắm bắt được chúng", ông Yau nói sau khi nhận Huân chương Khoa học quốc gia Mỹ năm 1997.
Từ năm thứ hai, Yau dành phần lớn thời gian nghiên cứu về đa tạp phức, đặc biệt say mê với giả thuyết Calabi. Chỉ sau hai năm, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, đồng thời có ba bài báo được xuất bản.
Vào thời điểm ấy, nhiều người cho rằng giải được giả thuyết Calabi là bất khả thi. Nhưng ông tin rằng ngay cả khi không thể, ông vẫn phải hiểu tại sao. Ông theo đuổi bài toán xuyên suốt những năm đầu sự nghiệp, như khi gia nhập Viện Nghiên cứu cao cấp tại Princeton năm 1971, làm giáo sư bậc một ở Đại học New York-Stony Brook năm 1972, lên giáo sư bậc hai ở Stanford,...
Cuối cùng, năm 1976, ông chứng minh thành công giả thuyết Calabi. Bài báo của ông cũng đặt nền móng cho lý thuyết dây 10 năm sau đó, cho thấy hầu hết 10 chiều không gian-thời gian cần thiết cho "lý thuyết vạn vật" có thể được cuộn lại, ẩn khuất trong một không gian mà ngày nay được gọi là Calabi-Yau.
Ba năm sau, ông Yau cùng công sự chứng minh được một kết quả quan trọng khác về thuyết tương đối rộng của Einstein: bất kỳ nghiệm nào của phương trình Einstein đều phải có năng lượng dương.
"Ông ấy là một nhà giải tích hình học với năng lực kỹ thuật phi thường và tầm nhìn sâu sắc. Ông giải quyết được những vấn đề mà tiến độ nghiên cứu đã đình trệ trong nhiều năm", Louis Nirenberg, nhà toán học người Canada, viết vào năm 1982, khi Yau nhận giải Fields.
Sau giải thưởng này, Yau tới Đại học California-San Diego, rồi tới Harvard vào năm 1987, gắn bó hơn 3 thập kỷ sau đó. Ông được phong chức Giáo sư danh dự William Caspar Graustein về Toán học ở Harvard, trước khi hồi hương, về làm việc tại Đại học Thanh Hoa năm 2022.
Yau cũng đạt nhiều thành tựu trong hình học, tôpô học và vật lý, được vinh danh bằng các giải thưởng như Veblen về Hình học (1981), giải Crafoord của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển (1994), giải Wolf (2010) và gần đây nhất là giải Shaw (2023).
Ngoài nghiên cứu, ông dốc toàn lực để xây dựng nền toán học Trung Quốc. Ông thường về thăm Trung Quốc trong kỳ nghỉ hè khi còn dạy tại Harvard, giúp đỡ các sinh viên xuất sắc sang Mỹ học tiến sĩ.
Ông cũng góp phần gây quỹ để thành lập loạt viện toán học ở Trung Quốc, như Viện Khoa học Toán học ở CUHK (1993), Trung tâm Toán học Morningside thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (1995) và Trung tâm Toán học và Khoa học tại ba đại học lớn, gồm Chiết Giang, Thanh Hoa và Quốc gia Đài Loan.
"Mục tiêu của tôi rất đơn giản, đó là chứng minh rằng Trung Quốc có thể phát triển một môn học cơ bản như toán học", ông Yau phát biểu vào năm 2015 tại lễ khánh thành Trung tâm Toán và Khoa học Yau-Đại học Thanh Hoa, nơi ông làm giám đốc cho đến nay.
Hiện, ông còn là chủ tịch Học viện Qiuzhen thuộc Thanh Hoa, nơi tập trung đào tạo các nhà toán học trẻ thông qua các chương trình đặc biệt. Ông cũng đang dẫn đầu nhóm 40 nhà toán học Trung Quốc và quốc tế, tham gia vận động để Hong Kong có thể đăng cai Đại hội Toán học quốc tế (ICM), nơi trao giải Fields, vào năm 2030.
Lê Võ Thiên Kim, học sinh lớp 12 Trường THPT Trần Phú (TP.HCM), là một trong 137.376 thí sinh sẽ dự thi V-ACT vào sáng mai, 5.4. Trao đổi với Thanh Niên, Kim kể nội dung thi em thấy thử thách nhất là tư duy logic do có nhiều dạng bài nữ sinh chưa từng tiếp xúc bao giờ. Phần sử dụng ngôn ngữ, gồm tiếng Việt, tiếng Anh, cũng khiến nữ sinh lo lắng bởi đề yêu cầu thí sinh phải vững kiến thức căn bản suốt 3 năm THPT.
Phần tư duy khoa học cũng là một rào cản đáng kể với Kim khi em chỉ đăng ký học tổ hợp có các môn lý, hóa, địa và tin. Còn với những môn không học nhưng đề vẫn ra thi như sinh, điều nữ sinh sợ nhất là "có các dạng bài yêu cầu tính toán và cần dùng đến kiến thức chuyên môn".
"Hiện em và bạn bè rất lo vì thấy mình học chưa đủ để đi thi, nhất là khi đề còn yêu cầu thêm cả kiến thức xã hội", nữ sinh bộc bạch, cho biết thêm em nhắm tới mốc 800 đến 900 điểm sau thời gian học trực tuyến và tự luyện đề trong sách tham khảo.
Là thủ khoa khối D07 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025, Trần Vĩnh Khang, sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội, đã từng lần lượt đạt 1.006 điểm và 1.024 điểm trong hai đợt thi V-ACT. Khang thẳng thắn cho biết việc làm được hết 120 câu trong 150 phút là "nhiệm vụ bất khả thi". Thế nên, cần lưu ý câu dễ làm trước, câu khó làm sau và bắt đầu làm từ phần thi mình giỏi nhất chứ không nên mặc định làm từ trên xuống.
"Nếu làm các câu quá khó ngay khi mới bắt đầu, thí sinh sẽ thấy 'ngộp', ảnh hưởng tới phong độ", anh nói.
Thực tế, ở cả hai đợt thi V-ACT, Khang đều chọn làm tư duy khoa học trước, sau đó tới sử dụng ngôn ngữ và cuối cùng mới là toán học - phần thi được Khang cho là "tốn nhiều dung lượng não nhất". Riêng với tư duy khoa học, dù học tổ hợp khoa học tự nhiên nhưng Khang cũng không gặp nhiều khó khăn với các câu sử, địa, kinh tế và pháp luật. "Câu hỏi có những gợi ý nhất định và dữ kiện cũng được cung cấp sẵn", anh nói.
Khang cũng nhấn mạnh, bí quyết quan trọng để đạt điểm cao là thí sinh phải duy trì trạng thái ổn định, bắt đầu từ lúc bước vào phòng thi để làm thủ tục và chờ phát đề, kéo dài cho tới khi hết giờ làm bài. Đó là lý do Khang chia thời gian trong phòng thi ra làm hai, gồm 60 phút đầu chuẩn bị và 150 phút làm bài thực tế.
"Thông thường mọi người không quá tập trung vào 60 phút này và đa số sẽ dành thời gian ôn lại bài hay đi ngủ. Theo tôi cả hai đều không nên vì nó sẽ khiến thí sinh hoặc lo lắng hoặc mất tập trung, tất cả đều dẫn đến việc không phát huy phong độ tốt nhất", anh kể.
Trong một tiếng ngồi chờ, Khang khuyên thí sinh hãy làm những điều để giúp các bạn thư giãn và giảm lo âu, như trong trường hợp của anh là ngồi vẽ. Khang còn mang theo "bùa hộ mệnh" là chiếc đồng hồ may mắn được thầy giáo cũ tặng để cảm thấy tự tin nhất.
Chia sẻ thêm về việc điền đáp án, Khang nhận định thí sinh thường có hai cách phổ biến là làm hết đề rồi mới bắt đầu tô trắc nghiệm hay làm xong câu nào tô ngay câu đó. Tuy nhiên, anh cho rằng cả hai đều có những nhược điểm, như cách đầu dễ tô sót còn cách sau lại tốn công. Để trung hòa, Khang chọn làm xong phần thi nào tô hết phần đó, chỉ bỏ trống các câu chưa giải được để dành làm vào cuối giờ.
Đạt 1.022 điểm thi V-ACT ở đợt 1, Nguyễn Nhật Nam, sinh viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), thú nhận anh không có bí quyết cao siêu, chủ yếu là nỗ lực đều đặn. Nam kể trong giai đoạn nước rút, mỗi ngày anh đều làm một đề thi thử và khi làm xong đều dò kết quả và đúc kết lại những lỗi sai để khắc phục. Trong khi đó, ở những tháng trước, mỗi tuần anh cũng đều luyện một đề.
"Tôi dành đủ thời gian để ăn uống, nghỉ ngơi chứ không thức khuya ôn tập", Nam nói. Anh chia sẻ thêm rằng, khi vào phòng thi sẽ ưu tiên làm phần thế mạnh của mình là toán sau đó mới tới các phần khác.
"Riêng với những môn không học mà vẫn thi, tôi chỉ thuần túy dựa vào suy luận chứ không cần phải đọc thêm kiến thức bên ngoài. Bởi đề thi đã cho sẵn công thức hoặc nội dung cần áp dụng chứ không ra câu hỏi theo hướng không học là không biết làm", anh nhấn mạnh.
Nam sinh này cho biết trong quá trình luyện đề, anh thường dư cỡ 20 - 30 phút cuối giờ để kiểm tra lại những câu chưa làm. Tuy nhiên, khi thi thực tế thì chỉ còn 10 phút. Đây là điểm thí sinh cần lưu ý để phân bổ thời gian làm bài phù hợp. Cũng theo Nam, giải xong câu nào anh đều tô ngay đáp án câu đó vào phiếu trả lời trắc nghiệm không đợi tới cuối giờ mới bắt đầu làm.
Hội thảo Toán học Hà Nội - Singapore diễn ra ngày 4 và 5/4, do khoa Toán của Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) tổ chức.
Song song chuỗi bài giảng đại chúng, GS Han Fei, Phó khoa Toán NUS, khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình cao học toán của trường, đặc biệt là chương trình tiến sĩ.
Ông cho hay khoa có 120 nghiên cứu sinh tiến sĩ nhưng lượng học viên Việt còn ít, chỉ 3-5 người. GS Fei cho rằng con số này chưa tương xứng với quy mô dân số và tiềm năng về nguồn học viên.
"Chúng tôi rất thích sinh viên Việt Nam. Các bạn có nền tảng giáo dục cao, thông minh, chăm chỉ, thái độ tốt", GS Fei nói, kỳ vọng số nghiên cứu sinh người Việt sẽ tăng lên.
Theo ông, họ sẽ được nâng cao kỹ năng nghiên cứu, mang kinh nghiệm và kiến thức trở về đóng góp cho Việt Nam. Ở chiều ngược lại, họ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và môi trường đa văn hóa ở NUS.
Ông Fei khuyến khích sinh viên Việt Nam ứng tuyển vào chương trình tiến sĩ Toán, ba chương trình thạc sĩ Toán, Tài chính định lượng và Khoa học dữ liệu và học máy.
Trong đó, chương trình thạc sĩ Toán là bước chuyển tiếp cho những sinh viên muốn học lên tiến sĩ và trở thành nhà nghiên cứu. Hai chương trình thạc sĩ còn lại định hướng giúp sinh viên đáp ứng nhu cầu của thị trường việc làm trong thời kỳ AI bùng nổ.
Về hướng giảng dạy và nghiên cứu, ngoài các lĩnh vực toán thuần túy, khoa Toán NUS tập trung phát triển ứng dụng vào Khoa học dữ liệu, Tin sinh học, Khoa học tính toán và phân tích số, Tối ưu hóa và Xử lý ảnh.
GS Đinh Tiến Cường, thành viên Hội đồng khoa học của VIASM, nhận định Singapore đang phát triển nhanh hơn sức tưởng tượng của nhiều người về khoa học công nghệ. So với khi ông bắt đầu làm việc tại đây 11 năm trước, ngày càng nhiều sinh viên quốc tế từ châu Âu hay Mỹ tới học, thay vì chỉ sinh viên ở châu Á.
Anh Trần Chiêu Minh, giáo sư bậc một tại khoa Toán NUS, đánh giá sinh viên Việt có cơ hội cạnh tranh ngang ngửa với những sinh viên giỏi tại NUS. Anh bày tỏ hy vọng có thêm nhiều hoạt động cộng tác của khoa tại Việt Nam.
Theo thông tin, nghiên cứu sinh tiến sĩ được trả toàn bộ học phí, nhận trợ cấp 4.000 SGD (khoảng 82 triệu đồng) mỗi tháng và 10.000 SGD chi phí đi lại tới các hội nghị, trường hè quốc tế,... Họ có thể nhận thêm 4.100-4.300 SGD nếu đạt học bổng của trường.
Sinh viên thạc sĩ cần tự trả học phí. Riêng nhóm tới từ ba trường đối tác của NUS tại Việt Nam, gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM và Đại học Bách khoa Hà Nội, có thể đăng ký học bổng NUS ASEAN Master's để được miễn.
Năm nay, hạn cuối nộp hồ sơ cho kỳ tuyển sớm với chương trình thạc sĩ Toán tại NUS là 15/7. Với bậc tiến sĩ, ứng viên muốn bắt đầu kỳ học tháng 1 năm sau cần hoàn thành mọi giấy tờ trước 15/5. Sinh viên nộp đơn qua cổng tuyển sinh của trường.
Đại học Quốc gia Singapore hiện đứng thứ 8 thế giới theo xếp hạng năm 2026 của QS và thứ 17 theo THE. Trong đó, chất lượng đào tạo Toán trong top 8 toàn cầu, theo QS.