Sinh ra với căn bệnh bại não, chị Phạm Thị Hằng (24 tuổi, ở TP.HCM) từng có nhiều năm chỉ quanh quẩn ở nhà, sống trong sự chở che của gia đình. Từ một cô gái hiếm khi bước ra ngoài, chị đã bén duyên với thể thao, thi đấu song song 2 bộ môn boccia và điền kinh. Mới đây, cô gái bại não xuất sắc giành 3 huy chương bạc Giải vô địch quốc gia môn điền kinh người khuyết tật năm 2026 tổ chức tại Thái Nguyên.
Từ nhỏ, chị Hằng chưa từng nghĩ sẽ có ngày mình bước vào con đường thể thao, tham gia tập luyện và khoác lên mình màu áo thi đấu.
Bước ngoặt đến vào đầu năm 2024, khi chị được một người quen giới thiệu đến gặp huấn luyện viên boccia – môn thể thao đầu tiên chị theo đuổi.
“Những ngày đầu tập luyện có thể là khó khăn nhất vì đó giờ tôi cũng rất ít khi hoạt động nên cơ thể rất yếu, với cả cơ thể cũng rất cứng, chưa có sự linh hoạt nên phải mất rất lâu để làm quen với bộ môn mới này”, chị Hằng chia sẻ.
Sau gần 1 năm gắn bó với boccia, chị được tham gia giải đấu đầu tiên và có thành tích. Đó không chỉ là phần thưởng cho những ngày tháng kiên trì tập luyện mà còn giúp chị có thêm niềm tin vào bản thân. Hiện nay, chị Hằng sinh hoạt tại Câu lạc bộ của Trung tâm Cung ứng phường Tân Thới Hiệp.
Từ nền tảng của boccia, đầu năm 2025 chị quyết định thử sức với điền kinh. Đây là quyết định không hề dễ dàng bởi chị phải bắt đầu làm quen với những nội dung hoàn toàn mới gồm ném lao, đẩy tạ và ném đĩa.
Để có thể theo được các bài tập, ngoài thời gian rèn luyện kỹ thuật, chị phải tập thêm rất nhiều bài bổ trợ nhằm tăng sức mạnh cho các nhóm cơ.
“Đối với người bình thường luyện tập bộ môn này có thể sẽ phải kết hợp linh hoạt cả cơ thể để thực hiện động tác. Còn đối với tôi vì không thể đứng dậy nên chủ yếu là ngồi thực hiện động tác nên lực sẽ tác động lên phần hông và phần vai”, chị Hằng nói.
Mỗi tuần chị dành 3 buổi cố định để tập luyện. Khi gần đến các giải đấu, huấn luyện viên sẽ tăng cường thêm số buổi tập để nâng cao thể lực và hoàn thiện kỹ thuật.
Dù việc đi lại còn nhiều khó khăn nhưng chị chưa từng bỏ một buổi tập nào. Với chị, mỗi buổi đến sân đều là cơ hội để bản thân khỏe hơn và tiến bộ hơn một chút so với ngày hôm trước.
Nhà cách trung tâm khoảng 30 phút đi xe nhưng hầu như ngày nào cha chị cũng đưa con gái đến tập luyện rồi đón về. Cha mẹ chị không tạo áp lực về thành tích mà chỉ mong chị có sức khỏe và được làm điều mình yêu thích.
Mỗi khi chị mang huy chương về nhà, người vui nhất chính là mẹ. Chị kể mẹ thường cầm những tấm huy chương và bằng khen đi khoe với hàng xóm, người quen. Những niềm vui giản dị ấy lại trở thành động lực để chị tiếp tục cố gắng trong mỗi buổi tập.
Buổi sáng chị đến trung tâm tập luyện, còn từ chiều đến tối lại tiếp tục đi bán vé số. Dù công việc khá vất vả nhưng chị chưa bao giờ xem đó là gánh nặng. Ngược lại, chị cảm thấy hạnh phúc vì bản thân đã dám bước ra khỏi vùng an toàn, được gặp gỡ nhiều người hơn và nhìn cuộc sống bằng một tâm thế tích cực hơn.
“Mình không dám bỏ cuộc vì thấy mọi người xung quanh từ gia đình, những người đồng đội và huấn luyện viên dồn hết tâm sức vào mình như vậy nên mình cũng cố gắng hơn. Nếu bỏ cuộc thì phụ lòng kỳ vọng của mọi người lắm”, chị Hằng tâm sự.
Đối với chị, câu lạc bộ không chỉ là nơi tập luyện mà còn giống như ngôi nhà thứ hai. Đây là nơi mọi người luôn sẵn sàng động viên, chia sẻ và hỗ trợ nhau trong cả tập luyện lẫn cuộc sống. Chính môi trường ấy đã giúp chị dần thay đổi, trở nên tự tin hơn và có thêm động lực để bước tiếp.
Đồng hành với chị từ những ngày đầu là huấn luyện viên Duy Minh người mà chị luôn nhắc đến với sự biết ơn đặc biệt. “Ban đầu không ai nhận tôi vào tập hết, chỉ có thầy Minh nhận tôi vào tập thôi”, chị Hằng nhớ lại.
Theo chị, huấn luyện viên chưa bao giờ nóng vội hay tạo áp lực phải đạt thành tích sớm. Ông luôn kiên nhẫn hướng dẫn từng động tác, động viên chị cố gắng mỗi ngày và chờ chị tự vượt qua những giới hạn của bản thân.
Nhìn lại chặng đường đồng hành cùng học trò, huấn luyện viên Duy Minh cho biết điều khiến ông tự hào nhất không phải là những tấm huy chương mà chính là sự thay đổi của chị Hằng sau từng buổi tập.
“Đối với tôi, Hằng là một vận động viên có ý chí rất mạnh mẽ. Ban đầu lúc mới tập Hằng rất yếu, ném 3 quả bóng cũng đã mệt rồi. Nhưng bây giờ điều thấy rõ nhất là sức khỏe của bạn đã tăng lên rõ rệt. Bạn không ngừng cố gắng và trong mỗi cuộc thi đều làm hết sức mình”, người thầy chia sẻ.
Má tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đất trứ danh đậu phộng Đức Hòa (Long An cũ, nay là Tây Ninh). Năm 19 tuổi, sau khi về làm dâu được ba tháng thì bà nội dắt mẹ đi mua bán… món khoái khẩu nơi đây.
Trên mỗi chuyến xe đi giao hàng thành phẩm đã tách vỏ tại kho nông sản ở Khu đèn Năm ngọn (TP.HCM), má đều mang theo chiếc bình ắc quy để ghé sạc bình ở gần Chợ Lớn. Chờ lúc xe chuẩn bị xuất phát má bảo anh tôi là tài xế lái xe chở đậu phộng: "Vũ nhớ đem theo cái bình ắc quy lát ghé gửi tiệm chú Năm sạc bình nghe con!".
Và cứ thế, mỗi lần xe ghé tiệm chú Năm là một cái bình ắc quy được để lại sạc, một bình ắc quy đã sạc đầy bình được mang lên xe về nhà. Khi ấy, dòng điện từ chiếc bình ắc quy, dòng điện từ TP.HCM đã nối nhịp bờ vui của không chỉ anh chị em gia đình tôi mà còn lan tỏa ra cả xóm chung một niềm vui lớn. Ánh sáng từ bóng đèn để anh chị em tôi học bài mỗi tối; có tivi trắng đen để học hỏi nắm bắt thông tin kiến thức về khoa học, kinh tế, nâng cao đời sống.
Cách biệt mấy mươi năm, má tôi giờ đây cũng đã già và cửa hàng sạc bình của chú Năm cũng đã đóng cửa do sự đổi thay của cuộc sống hiện đại; nhưng những dòng điện từ chiếc bình ắc quy của chú Năm năm nào mãi còn đó những nhịp bờ vui.
Trên chuyến xe đi tái khám bệnh suy tim cho má tôi từ nhà lên bệnh viện tại TP.HCM luôn có chị hai đi cùng. Khi xe đi ngang qua khu vực Công ty Pouyuen VN thì ký ức những ngày chị đi làm trong xưởng lại hiện về như vừa mới hôm qua. Lúc đó, ở quê công việc chính là làm ruộng, hết vụ mùa thì người dân nhàn rỗi. Thế là chị em trong xóm bảo nhau đi làm công ty may giày.
Chị tâm tình: "Hồi năm 1996, Công ty Pouyuen mới thành lập lớn nhất vùng này, chuyên gia công giày thể thao lớn nhất VN đó". Nghe chị nói, tôi ngạc nhiên hỏi: "Sao hồi đó mình không làm gần nhà mà đi làm chi xa vậy?". Chị kể: "Tại hồi đó em còn nhỏ không biết, lúc đó đang vào giai đoạn hội nhập đổi mới 1986 - 1995, TP cùng Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, góp phần quan trọng vào cuộc sống xây dựng và phát triển".
Thấy tôi trầm ngâm, chị kể tiếp: "Chính EVNHCMC đã cung cấp điện cho Pouyuen hoạt động. Em nhìn kìa, phía khuôn viên gần cổng phụ chính là khu vực lưới điện cùng các trạm bình biến áp để truyền tải điện đó".
"Ngành điện thành phố đi tới đâu, kinh tế phát triển tới đó, có công ty này thì không chỉ chị mà những chị em ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, kể cả các khu vực biên giới như Đức Huệ cũng được đến đây làm việc, có đồng lương ổn định để trang trải cuộc sống, đóng tiền ăn học cho các con, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đó em ạ", chị tôi tâm sự.
Mùa Phật đản 2026, phật tử lại hướng về chốn thiền môn thanh tịnh. Huế là vùng đất được mệnh danh là kinh đô Phật giáo của Việt Nam với hơn 300 ngôi chùa lớn nhỏ. Mỗi ngôi cổ tự nơi đây sở hữu một kiến trúc, bố cục cùng tông phái khác nhau.
Chùa Thiên Mụ không chỉ là một ngôi cổ tự có tuổi đời hơn 400 năm mà còn được người đời tôn vinh là danh lam thắng cảnh vào bậc nhất của xứ cố đô. Đứng từ xa, tầm mắt du khách đã bị hút vào cấu trúc đồ sộ nhưng thanh thoát của tháp Phước Duyên gồm 7 tầng, tạo nên một sự cân đối tuyệt mỹ giữa khoảng không gian khoáng đạt bên bờ sông Hương.
Lịch sử của ngôi danh lam này gắn liền với bước chân mở mang bờ cõi của chúa Nguyễn Hoàng. Tương truyền, năm 1601, khi đi xem xét địa thế, chúa bắt gặp ngọn đồi thế đất tựa rồng quay đầu. Người dân kể rằng, ban đêm có bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện báo mộng về một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch.
Cũng từ đó ngôi chùa mang tên "Thiên Mụ" được chúa Nguyễn cho ra đời. Dưới triều Nguyễn, ngôi chùa được trùng tu quy mô, đặc biệt vào năm 1844 khi vua Thiệu Trị cho xây dựng tháp Phước Duyên và đình Hương Nguyện.
Đến với chùa Thiên Mụ, bước qua Nghi Môn vào khu nội điện là điện Đại Hùng uy nghiêm, đứng ở không gian này du khách cảm nhận rõ bản sắc cung đình xưa cũ, nơi tiếng chuông chùa vang vọng, rũ bỏ hết muộn phiền của lữ khách.
Tọa lạc trên dốc Nam Giao (số 1 đường Sư Liễu Quán), chùa Từ Đàm là ngôi cổ tự danh tiếng gắn liền với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam hiện đại.
Theo các tài liệu lịch sử, đây là ngôi cổ tự danh tiếng gắn liền với phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam hiện đại. Khởi nguồn vào thế kỷ 17, từ một thiền thất của nhà sư Minh Hoằng Tử Dung khi từ Trung Hoa sang Thuận Hóa tu hành, nơi đây dần được mở rộng và đến năm 1703 được chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch "Sắc tứ Ấn Tông Tự".
Chùa Từ Đàm chính là chứng nhân của những sự kiện lịch sử trọng đại như: năm 1936 là trung tâm của phong trào chấn hưng Phật giáo; năm 1951 là nơi tổ chức hội nghị thống nhất Phật giáo ba miền; và năm 1960 là trung tâm của các hoạt động đấu tranh Phật giáo.
Bước qua cổng tam quan, một khoảng sân rộng lớn mở ra với cây bồ đề cổ thụ sum suê, được chiết cành từ nơi Đức Phật thành đạo ở Ấn Độ mang về năm 1936. Bên cạnh là bảo tháp 7 tầng uy nghi mới xây dựng. Đến nay ngôi chùa vẫn vẹn nguyên những báu vật thời gian như quả đại hồng chung đúc từ thời vua Gia Long và các bức hoành phi cổ kính, mang lại cảm giác bình yên sâu lắng cho bất kỳ ai ghé chân.
Nép mình khuất sau rừng thông rộng lớn lên đến 50.000 m² tại đường Lê Ngô Cát (phường Thủy Xuân), tổ đình Từ Hiếu mang một không gian trầm mặc, nguyên sơ với những khe nước nhỏ uốn lượn hiền hòa.
Theo các tài liệu lịch sử, ngôi chùa nguyên thủy là am An Dưỡng do hòa thượng Nhất Định khai sáng từ thế kỷ 19. Tên gọi "Từ Hiếu" đầy thiêng liêng này xuất phát từ giai thoại cảm động.
Tương truyền, khi mẹ già lâm bệnh nặng, hòa thượng Nhất Định gạt bỏ qua mọi lời đàm tiếu, hằng ngày đi chợ mua cá nấu cháo tẩm bổ cho mẹ. Cảm phục tấm lòng hiếu thảo này, vua Tự Đức sau đó đã ban tặng tấm biển đề "Sắc tứ Từ Hiếu tự".
Qua các đợt đại trùng tu, chùa vẫn giữ trọn vẹn lối kiến trúc truyền thống chữ Khẩu đặc trưng. Điểm đặc biệt, làm nên nét trầm mặc của Từ Hiếu chính là khu nghĩa trang u tịch của các thái giám triều Nguyễn nằm nép mình bên hông chùa.
Đáng chú ý, tổ đình Từ Hiếu cũng chính là chiếc nôi thiêng liêng nơi vị thiền sư nổi tiếng thế giới Thích Nhất Hạnh từng xuất gia tu học, và cũng là nơi người lựa chọn để quay trở về tĩnh dưỡng rồi an nhiên viên tịch trong lòng đất mẹ.
Chùa Diệu Đế (số 100B đường Bạch Đằng, phường Phú Xuân, thành phố Huế) tọa lạc bên dòng sông Đông Ba hiền hòa, sở hữu không gian đặc biệt mang đậm kiến trúc cung đình triều Nguyễn.
Một số tài liệu chép lại rằng, ngôi chùa vốn là phủ cũ của Phúc Quốc Công và là nơi vua Thiệu Trị chào đời. Sau khi lên ngôi, vào năm 1844, vua đã sắc phong nơi này thành Quốc tự, điều động tới 600 binh lính xây dựng chùa nhằm cầu phúc cho nhân dân.
Trải qua thăng trầm, chùa Diệu Đế ngày nay vẫn giữ được nét uy nghiêm với hệ thống La Thành kiên cố, chánh điện Đại Hùng và hai quả đại hồng chung quý giá do chính vua Thiệu Trị chủ trì đúc.
Báu vật độc đáo nhất khiến Diệu Đế trở nên nổi tiếng chính là kiệt tác tranh "Long vân khế hội" được vẽ vô cùng tinh xảo trên trần chánh điện. Được công nhận là "Bức tranh vẽ trên trần chánh điện xưa và lớn nhất Việt Nam", tác phẩm dài 10 m, rộng 11 m, tái hiện 9 con rồng ẩn hiện giữa tầng mây và quấn quanh 4 cột trụ lớn, thể hiện đỉnh cao nghệ thuật triều Nguyễn.