Đây là hiểu nhầm về ngành Logistics mà TS Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo, trường Đại học Công nghiệp TP HCM, bắt gặp khi tư vấn tuyển sinh ở nhiều địa phương.
Ông giải thích Logistics (hậu cần) và quản lý chuỗi cung ứng là quá trình lập kế hoạch, kiểm soát việc lưu trữ, vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng một cách an toàn, tiện lợi với chi phí thấp nhất. Quy trình này bao gồm kho bãi, vận chuyển, quản lý đơn hàng, đóng gói và vật tư.
Người làm trong ngành này phải tính toán vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, thủy, sắt hay hàng không tối ưu hơn; đặt kho ở gần hay xa trung tâm tương ứng với chi phí ra sao; xếp hàng trong kho như thế nào để lấy và nhập nhanh nhất,… Đây là những kiến thức, kỹ năng mà sinh viên sẽ được học.
“Đây là bài toán kết hợp giữa quản lý và kỹ thuật, đặc biệt là lý thuyết tối ưu”, ông cho hay. “Người làm ngành này không chạy ngoài đường giao hàng, không đứng kho bốc xếp hàng hóa”.
Theo ông, thị trường logistics Việt Nam được định giá khoảng 80 tỷ USD, chiếm gần 5% GDP nhưng chi phí logistics vẫn cao hơn so với trung bình khu vực và thế giới. Với nhu cầu phát triển kinh tế, đa dạng hình thức vận tải, chi phí mặt bằng, bài toán logistics ngày càng đa dạng và cần thiết với các doanh nghiệp.
Do đó, cơ hội việc làm trong ngành vẫn rộng mở. Dự báo năm 2022 của Viện Nghiên cứu và phát triển Logistics Việt Nam cho biết đến năm 2030, Việt Nam cần thêm 2,2 triệu lao động trong ngành Logistics, 10% trong đó là nhân lực chất lượng cao, có trình độ ngoại ngữ. Trong khi đó mỗi năm, chỉ khoảng 2.500 cử nhân ngành này tốt nghiệp.
Hiện, nhiều trường đại học đào tạo ngành Logistics, điểm chuẩn thường ở mức cao, từ 22 đến 28/30. Học phí phổ biến khoảng 20-60 triệu đồng một năm.
Chiều 9.5, Trường Kỹ thuật và Công nghệ (trực thuộc Trường ĐH Nha Trang) tổ chức hội thảo "Kỹ thuật và Công nghệ Thủy sản thông minh - TESF 2026", thu hút sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, doanh nghiệp và sinh viên trong lĩnh vực thủy sản trong và ngoài nước.
Phát biểu khai mạc, TS Trần Doãn Hùng, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Nha Trang, nhấn mạnh trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang được ứng dụng sâu rộng, ngành thủy sản đang đứng trước nhiều cơ hội đổi mới để nâng cao năng suất, chất lượng và hướng đến phát triển bền vững. Ông kỳ vọng hội thảo sẽ thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ ngành thủy sản trong thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số.
Hội thảo có 4 báo cáo chính từ các chuyên gia trong và ngoài nước, tập trung vào các chủ đề: ứng dụng IoT và AI trong thu thập, phân tích dữ liệu nuôi tôm, giúp giám sát môi trường và phát hiện dịch bệnh theo thời gian thực; chiến lược cung ứng cá ngừ đáp ứng tiêu chuẩn thị trường Mỹ và EU với trọng tâm kiểm soát toàn chuỗi cung ứng và tuân thủ quy định IUU; tối ưu hóa đa mục tiêu trong công nghệ thông minh; và giải pháp xây dựng nhà máy chế biến thủy sản thông minh ứng dụng hệ thống điều hành sản xuất MES, giúp loại bỏ báo cáo thủ công và tối ưu hóa tỷ lệ thu hồi nguyên liệu.
Bên cạnh phiên toàn thể, hội thảo còn có 12 tham luận kỹ thuật chia thành 2 phân ban: kỹ thuật và thiết bị trong nuôi trồng thủy sản; công nghệ cơ khí và thiết bị khai thác, chế biến thủy sản. Các nghiên cứu tập trung vào hệ thống AIoT giám sát chất lượng nước, ứng dụng ROV kết hợp AI trong giám sát nuôi biển, công nghệ Digital Twin, tái chế ngư cụ thải bỏ tại Khánh Hòa và nhiều chủ đề khác.
Đây là lần thứ 3 hội thảo TESF được tổ chức, tiếp nối chuỗi hoạt động khoa học thường niên của Trường Kỹ thuật và Công nghệ (trực thuộc Trường ĐH Nha Trang) nhằm tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà quản lý. Ban tổ chức kỳ vọng chuỗi hội thảo sẽ góp phần mở ra nhiều cơ hội hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành thủy sản trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số.
Theo Cục Giáo dục Hong Kong (EDB), tổng cộng 15 trường tiểu học (gồm 1 trường công lập và 14 trường được chính quyền trợ cấp) đối mặt với nguy cơ xóa sổ do không tuyển đủ số lượng học sinh tối thiểu. Đây là con số cao kỷ lục trong những năm gần đây.
Cụ thể, 4 trường sẽ bắt đầu lộ trình giải thể và chấm dứt hoạt động muộn nhất vào năm học 2029-2030. Trong số còn lại, 9 trường đã nộp đơn xin sáp nhập, còn một trường đang xem xét chuyển sang mô hình tư thục.
Theo quy định, một trường phải tuyển được ít nhất 16 học sinh mới đủ điều kiện mở một lớp 1 và được chính quyền trợ cấp. Những trường không đạt chỉ tiêu phải trình "kế hoạch sinh tồn". Nếu không được phê duyệt, họ sẽ phải đóng cửa sau 3 năm.
Hong Kong (Trung Quốc) chứng kiến số lượng trẻ em trong độ tuổi đi học giảm dần trong 10 năm qua, theo Cục trưởng Giáo dục Christine Choi. Trước tình hình này, giới chức giáo dục liên tục hối thúc các trường cân nhắc phương án sáp nhập.
Các trường trong danh sách rủi ro phải nộp đề án chi tiết trước cuối tháng 4, đồng thời giữ thông tin thông suốt với đội ngũ nhân viên và phụ huynh.
Nằm trong nhóm bị ảnh hưởng, trường Fresh Fish Traders' School tại Tai Kok Tsui - vốn có truyền thống "vượt khó" để được hoạt động - cho biết đã nộp đơn xin sáp nhập với một trường trong quận. Đại diện nhà trường tin rằng việc hợp nhất sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực.
Tương tự, trường SKH Tseung Kwan O Kei Tak cũng đề xuất sáp nhập với một trường tiểu học cùng hệ thống tại Wong Tai Sin, sau khi được phụ huynh và các bên liên quan đồng ý.
Một trường hợp đặc biệt là trường ELCHK Faith Love Lutheran tại Chai Wan đã nộp đơn kháng nghị quyết định của Cục Giáo dục. Nhà trường giải thích nhu cầu nhập học sắp tăng, do một dự án nhà ở xã hội hơn 1.700 căn chuẩn bị hoạt động ngay gần, nên hy vọng được tiếp tục duy trì các lớp 1.
Hiện, hai trường xác nhận nộp đề án lên cơ quan chức năng, chờ phản hồi cuối cùng để thông báo tới phụ huynh.
Hong Kong đối mặt tỷ lệ sinh giảm nhiều năm gần đây. Khoảng 31.700 em bé được sinh tại thành phố này trong năm 2025, kém năm ngoái 14% và là thấp nhất trong 7 năm. Tổng số học sinh lớp 1 tại các trường mầm non từ năm học 2021-2022 đến 2024-2025 đã giảm từ khoảng 50.000 xuống 37.000, tức tỷ lệ giảm 26%.
Ở châu Á, tỷ lệ sinh thấp cũng đẩy nhiều trường học tại Hàn Quốc hay Nhật Bản vào cảnh vắng bóng học sinh. Ước tính hơn 4.000 trường học tại Hàn Quốc đã biến mất, dự kiến 100 trường khác dừng hoạt động trong vòng nửa thập kỷ tới.