Thanh Hằng
Nguồn: https://vnexpress.net/ai-giau-nhat-dong-nam-a-5059227.html

Giáo Dục
Phạt học sinh bằng kim tiêm: Giáo dục đang dạy con người hay đối tượng?

Chiều 24.4, ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Vinh phường Bến Cát (TP.HCM) đã có quyết định điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm, đối với giáo viên L.T.M khi cô này phạt học sinh lớp 3 tự đâm kim tiêm vào tay do các lỗi như không đeo khăn quàng đỏ, nói chuyện trong lớp…
Trước đó, sự việc vỡ lở khi một phụ huynh trường này thấy con về nhà mệt mỏi, gặng hỏi mãi mới biết. Ngày 13.4, lãnh đạo Trường tiểu học Lương Thế Vinh ghi nhận ít nhất 5 học sinh đã từng tự chích vào tay mình theo cách ấy.
Là người làm giáo dục gần 20 năm, làm tham vấn tâm lý vài năm gần đây, tôi đã có dịp trò chuyện với hàng ngàn thầy cô, cha mẹ đang vật lộn với cảm giác bất lực trước học sinh, trước con cái. Tôi hiểu áp lực của việc quản lý một lớp học 40-50 em hiếu động, hiểu nỗi sợ bị đánh giá khi lớp thiếu kỷ luật. Tôi không viết bài này để thêm một tiếng nói phẫn nộ. Tôi viết vì đằng sau sự việc "rợn người" nói trên, có một quan niệm đang âm thầm vận hành trong tâm thức nhiều người làm các công việc chạm đến con người như giáo dục.
Triết gia Martin Buber, trong tác phẩm Ich und Du (1923), phân biệt hai cách con người có thể tương tác trong thế giới: "Tôi-Người" và "Tôi-Vật". Trong quan hệ Tôi-Người, tôi đối xử với bạn như một chủ thể trọn vẹn, không thể bị rút gọn thành chức năng hay mục đích sử dụng. Trong quan hệ Tôi-Vật, bạn là một đối tượng có thể đo lường, phân loại, chỉnh sửa.
Buber không cho rằng quan hệ Tôi-Vật là xấu. Khi tôi vận hành một chiếc máy, quan hệ ấy là hợp lẽ. Điều ông cảnh báo là khi cách nhìn Tôi-Vật len lỏi vào những mối quan hệ lẽ ra phải là Tôi-Người, như giữa cha mẹ và con, giữa thầy và trò, thì những hành xử quan tâm và nhân bản bị đánh mất, và bạo lực trở thành một lựa chọn thuận tiện. Trong câu chuyện cô giáo phạt học trò bằng kim tiêm, nếu cô giáo đã xem học sinh là đối tượng, thì mọi đau đớn xảy ra với đối tượng ấy đều có thể quy về "lỗi của đối tượng". Trong mắt của cô giáo ấy, đứa trẻ đã không còn là một con người đang loay hoay lớn lên, mà đã trở thành một đối tượng chờ được răn đe.
Tôi không viết bài này để buộc tội một cô giáo vừa vào nghề ba năm. Điều làm tôi đau lòng không phải một hành vi cá biệt như vậy, mà sâu hơn, tôi có cảm giác rằng những hành vi ấy nảy sinh từ một "mảnh đất tâm thức" đã tồn tại từ lâu.
Trong tâm thức một bộ phận không nhỏ thầy cô lẫn cha mẹ Việt Nam, đứa trẻ vẫn được hình dung như đất sét - hỗn độn chưa thành hình, chờ bàn tay người lớn nhào nặn thành hình dạng họ mong muốn. Tâm thức ấy nếu không được quân bình lại bằng tinh thần tôn trọng phẩm giá con người - dù con người ấy nhỏ bé đến đâu, nó có thể trở thành "giấy phép" để đàn áp một cách thô bạo bất cứ thứ gì không vừa khuôn.
Quan niệm "học sinh/trẻ em là đối tượng để uốn nắn" tồn tại vì nó tiện lợi. Khi tôi xem bạn là con người trọn vẹn, tôi phải dừng lại, phải hỏi, phải lắng nghe, phải thừa nhận giới hạn của bạn và của chính mình. Nhưng khi tôi xem bạn là đối tượng cần định hình, tôi chỉ việc thẳng tay áp dụng kỹ thuật và kỷ luật. Một lớp học 40 em mà xem mỗi em là một con người độc đáo thì có vẻ mệt quá, trong khi một lớp học 40 đối tượng cần quản lý thì cứ "theo đúng công thức" là được.
Đó là lý do vì sao khẩu hiệu "lấy học sinh làm trung tâm" được treo ở nhiều trường, nhưng kim tiêm lại vẫn xuất hiện trên bàn một giáo viên. Khẩu hiệu là ngôn từ bề mặt, trong khi tâm thái và quan niệm là nền tảng sâu bên trong. Khi nền tảng chưa thay đổi, khẩu hiệu chỉ là lớp sơn bóng bẩy bên ngoài.
Cô giáo trong câu chuyện trên sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp, như mới đây, cô bị điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm. Tôi cũng mong những người làm việc với cô vẫn sẽ cân nhắc tất cả các phương diện của cô như một con người toàn vẹn chứ không phải một "đối tượng để xử lý" khác. Mặt khác, những người còn lại chúng ta - thầy cô, cha mẹ, nhà quản lý giáo dục, nhà tham vấn, bác sĩ… mọi nghề nghiệp làm việc chính với con người phải đối diện một câu hỏi khó hơn nhiều: Chúng ta có đang thật sự cư xử với mỗi người mình gặp như một con người trong công việc hàng ngày của mình không, hay đã quen xem họ như "đối tượng làm việc"?
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản đã dành cả đời để bảo vệ một điều đơn giản: Con người - bất kể tuổi tác, hành vi - xứng đáng được đón nhận vô điều kiện với phẩm giá của mình. Không phải chấp nhận mọi hành vi, mà là dù hành vi nào xảy ra, con người ấy vẫn là con người, không thể bị rút gọn thành hành vi và dán nhãn bằng một vài kết luận hạn hẹp.
Một đứa trẻ nói chuyện trong giờ học không phải là đứa ồn ào, mà là một con người đang học cách điều tiết bản thân và cần người lớn đồng hành. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy quyết định cách tương tác nào là phù hợp ở lớp học. Khi nhìn học sinh như một con người, kỷ luật của giáo viên là đối thoại - có giới hạn, có hậu quả, nhưng vẫn trong không gian tôn trọng phẩm giá. Ngược lại, khi nhìn học sinh như đối tượng thì những thứ như kim tiêm, roi vọt, lời lăng mạ hay chửi mắng trở thành những lựa chọn "thích đáng".
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 3.4, Ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư phối hợp với Bộ GD-ĐT, ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức hội thảo quốc gia: "Giải pháp công nghệ trong thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục".
Chia sẻ tại hội thảo, ông Lê Trường Tùng, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH FPT, cho hay ở trường ông yêu cầu về tiếng Anh không phải là chuẩn đầu ra mà là chuẩn đầu vào. Sau khi trúng tuyển, em nào không đạt yêu cầu về tiếng Anh sẽ được tham gia một khóa học trước khi học chuyên ngành. Nhấn mạnh "tiếng Anh là công cụ, không phải là một môn học, bởi nếu là môn học thì mãi mãi nó chỉ là môn học", ông Tùng cho biết phần lớn chương trình đào tạo, thi cử… trong trường là bằng tiếng Anh.
Theo ông Tùng, để tiếng Anh như một công cụ, trách nhiệm lớn thuộc về các trường phổ thông. Sở dĩ hiện nay trường đại học (ĐH) phải dạy dự bị tiếng Anh cho sinh viên mới nhập học vì trường phổ thông chưa làm tốt việc đó, trường ĐH phải làm thay.
Ông Tùng đề nghị Bộ GD-ĐT cần cho phép trường phổ thông được sử dụng sách giáo khoa toán và các môn khoa học tự nhiên của nước ngoài, thay thế cho sách giáo khoa trong nước để nhà trường có thể dạy các môn này bằng tiếng Anh.
Đồng tình với ý kiến phải coi tiếng Anh là công cụ chứ không phải môn học, ông Đỗ Tuấn Minh, Chủ tịch Hội đồng trường Trường ĐH Ngoại ngữ (ĐH Quốc gia Hà Nội), cũng cho hay: "Chừng nào còn là môn học thì tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai còn xa vời lắm. Nó phải là công cụ", ông Tuấn Minh dẫn ví dụ một trong số ít trường ĐH đang có sự chuyển biến tích cực trong việc tuyên bố tiếng Anh không phải là ngoại ngữ mà là một ngôn ngữ là ĐH Kinh tế quốc dân. Tiếng Anh xuất hiện trong giáo trình đào tạo, trong các văn bản hành chính và giao tiếp, làm việc tự nhiên hằng ngày ở ĐH này.
Tiếp lời, ông Lê Anh Đức, Trưởng phòng Quản lý đào tạo, ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết dù trường có khoảng 50 - 60% chương trình đào tạo thuần túy bằng tiếng Anh nhưng cách tiếp cận không chỉ coi đây là công cụ trong hoạt động chuyên môn mà trong các hoạt động khác của trường.
Việc tuyển dụng giảng viên, theo ông Đức, cũng chia 2 mảng, trong đó yêu cầu phải có chứng chỉ tiếng Anh đủ để sử dụng trong công việc, ưu tiên những người tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo quốc tế. Việc tuyển dụng nhóm hành chính cũng tương tự, nhóm tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, giảng viên, sinh viên thì yêu cầu phải sử dụng được tiếng Anh trong soạn thảo văn bản, giao tiếp…
Ông Đức cũng cho biết mới đây ĐH này đã tiến hành khảo sát trình độ tiếng Anh của đội ngũ trong toàn trường để đánh giá lại và có những kế hoạch tiếp theo cho việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai. Về hạ tầng, tất cả các bảng chỉ dẫn trong trường đều trình bày ở dạng song ngữ…
Ông Lê Anh Đức cho rằng Nhà nước cần có chính sách cụ thể, bởi nếu các ĐH chỉ ưu tiên sinh viên đầu vào có năng lực tiếng Anh tốt thì các em đến từ địa bàn vùng sâu, vùng xa sẽ bất lợi, có thể giảm cơ hội vào trường tốt của các em. Do vậy, nếu có chính sách chung của Nhà nước thì các nhà trường sẽ tổ chức một khóa dự bị về tiếng Anh cho sinh viên ở những địa bàn khó khăn khi các em mới vào trường, tạo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục cho các em
Đại diện Trường ĐH Sư phạm Hà Nội chia sẻ đã bổ sung 15 tín chỉ tiếng Anh dành cho sinh viên mới vào trường. Nhà trường cũng đã có các tài liệu chuẩn bị cho việc bồi dưỡng giáo viên phổ thông dạy một số môn (khoa học tự nhiên) bằng tiếng Anh trên toàn quốc.
Tham luận tại hội thảo, nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên, Đinh Ngọc Long, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng khó khăn lớn nhất là định kiến sai lầm của xã hội về tiếng Anh và ngôn ngữ Anh như một công cụ hay một điểm thi quốc tế.
Nhóm cũng nêu đề nghị VN cần đưa ra một định nghĩa chính thức "tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai" là gì và phân biệt với việc chỉ học thêm một ngoại ngữ.
Nhóm tác giả Nguyễn Đăng Nguyên, Đinh Ngọc Long cũng cho rằng cần đào tạo đội ngũ giáo viên (GV) có đủ năng lực giảng dạy song ngữ một cách bài bản. Đối với việc giảng dạy những môn học vốn đang được dạy bằng tiếng Việt hoặc những môn đại cương, cần rà soát khẩn trương khả năng giảng dạy bằng tiếng Anh của đội ngũ GV hiện có, kể cả với các GV có chứng chỉ ngoại ngữ. Vì việc biết một thứ tiếng không thể đảm bảo rằng GV có đủ khả năng giảng dạy chuyên môn của mình bằng thứ tiếng đó.
Khi đã hoàn tất quy trình rà soát, ngành giáo dục có thể đặt hàng các khóa đào tạo tiếng Anh chuyên ngành hoặc giảng dạy bằng tiếng Anh chuyên ngành ở các cơ sở giáo dục ĐH để vừa nâng cao trình độ ngôn ngữ vừa đảm bảo kỹ năng giảng dạy cho GV.
Ông Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cũng thông tin trong các nhóm khó khăn thì đội ngũ giảng viên cũng là một yếu tố cản trở. Khả năng thu hút và giữ chân giảng viên có trình độ chuyên môn cao, năng lực ngoại ngữ xuất sắc còn hạn chế tại nhiều trường do cạnh tranh từ các cơ sở đào tạo khác hoặc khu vực tư nhân.
Cạnh đó, vấn đề cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính là khó khăn phổ biến của nhiều trường. Môi trường học tập và cơ hội thực hành tiếng Anh còn hạn chế. Thiếu môi trường sử dụng tiếng Anh thường xuyên và tự nhiên ngoài giờ lên lớp, đặc biệt tại những trường ở các tỉnh, vùng xa trung tâm, làm giảm cơ hội thực hành và duy trì động lực học tập của sinh viên…
Ông Vũ Thanh Mai, Phó ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư, khẳng định vai trò người thầy là quan trọng nhất trong việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của đội ngũ GV, giảng viên phải được ưu tiên hàng đầu.
Bà Nguyễn Thị Mai Hữu, Trưởng ban quản lý Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân (Bộ GD-ĐT), nêu: "Việc triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục ĐH cần được thiết kế theo hướng phân tầng mục tiêu rõ ràng, nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với sự đa dạng của hệ thống giáo dục ĐH VN. Đối với nhóm các ĐH nghiên cứu và trường trọng điểm, mục tiêu là từng bước hình thành hệ sinh thái đào tạo song ngữ và tiến tới triển khai rộng rãi các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh (EMI) ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong các ngành khoa học, công nghệ, kinh tế và quản trị. Các cơ sở này cần đi đầu trong việc phát triển chương trình đào tạo song ngữ, trong đó từ 30% đến 70% học phần được giảng dạy bằng tiếng Anh, đồng thời mở rộng các chương trình EMI hoàn toàn với tỷ lệ học phần bằng tiếng Anh (trừ các nội dung bắt buộc triển khai bằng tiếng Việt)".
Nguồn: https://thanhnien.vn/can-coi-tieng-anh-la-cong-cu-khong-phai-la-mon-hoc-185260403220209412.htm

