Đến 7/5, có 15 trong hơn 30 trường đại học đào tạo ngành Y khoa công bố học phí dự kiến năm học 2026-2027.
Trường Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương đưa ra mức thấp nhất – 47,89 triệu đồng (một năm học có 10 tháng), kế đến là Đại học Trà Vinh với 63,8 triệu đồng.
Hai trường có học phí trên 100 triệu đồng là Đại học Phenikaa và Tân Tạo. Với các trường top đầu như Đại học Y Hà Nội, Y Dược TP HCM, Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, mức thu năm học tới trong khoảng 70-88 triệu đồng.
11 trường tăng học phí so với năm học trước. Trong đó, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch tăng nhiều nhất – 25,8 triệu, lên thành 81 triệu đồng.
Các trường cũng đều thu cao hơn mức trần là 35 triệu đồng/năm, theo quy định của Chính phủ với nhóm đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên. Lý do là đều chuyển sang tự chủ, được phép thu 2-2,5 lần mức trần.
Nếu chương trình đào tạo đã đạt mức kiểm định chất lượng, nhóm này còn được tự quyết mức thu.
Học phí ngành Y khoa năm học 2026-2027 của 15 trường dự kiến như sau:
Trong cả nước, hơn 50 đại học đã công bố học phí với tân sinh viên khóa 2026. Mức thu từ hơn 17 đến 150 triệu đồng, mức phổ biến là 20-40 triệu.
Ngành Y khoa thuộc nhóm cao nhất, tương đương hoặc cao hơn học phí chương trình tiên tiến, chất lượng cao, định hướng nghề nghiệp ở một số trường khối kinh tế, kỹ thuật.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Chất lượng giáo dục địa phương sau sáp nhập nhìn từ đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT

Thành công nổi bật của hoạt động đối sánh giai đoạn 2020-2025 là góp phần minh bạch chất lượng giáo dục phổ thông (GDPT). Thay vì chỉ dựa vào tỷ lệ tốt nghiệp hay số lượng điểm cao, dữ liệu đối sánh giúp nhận diện rõ hơn chất lượng thực của quá trình dạy và học. Nhờ đó, nhiều địa phương xác định được vị trí của mình trong tương quan cả nước (đối sánh ngang) và theo dõi được xu hướng tiến bộ hay thụt lùi qua các năm (đối sánh dọc).
Đối sánh cũng tạo ra áp lực cải tiến tích cực. Khi chênh lệch giữa điểm học bạ và điểm thi được chỉ ra, nhiều địa phương buộc phải rà soát lại công tác kiểm tra, đánh giá trong nhà trường. Một số nơi đã triển khai giải pháp nâng cao chất lượng và đạt kết quả rõ nét khi thứ hạng điểm trung bình thi (TBĐT) toàn quốc được cải thiện. Chẳng hạn, Nghệ An tăng hạng mạnh từ vị trí 38 năm 2020 lên hạng 2 năm 2025; Hà Tĩnh từ 24 lên 4; Vĩnh Phúc (cũ) không chỉ tăng hạng mà nhiều năm giữ vị trí dẫn đầu. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có xu hướng giảm hạng như Vĩnh Long, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Đà Nẵng (cũ).
Từ góc độ quản lý, đối sánh góp phần hình thành tư duy sử dụng dữ liệu trong hoạch định chính sách và điều chỉnh hoạt động dạy và học. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất hiện nay là đặt tất cả địa phương vào cùng một "mặt bằng so sánh", trong khi điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn lực giáo dục và chất lượng đầu vào rất khác nhau. Vì vậy, đối sánh theo nhóm các địa phương hoặc trường học có điều kiện tương đồng là cách tiếp cận hợp lý, giúp so sánh công bằng và hỗ trợ cải tiến chất lượng giáo dục.
Dữ liệu TBĐT kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021–2025 cho thấy có sự phân hóa rõ rệt giữa 12 địa phương, gồm 6 thành phố trực thuộc T.Ư và 6 địa phương sáp nhập vào các thành phố này, như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Dương, Quảng Nam, Sóc Trăng và Hậu Giang.
"TBĐT 5 năm" của mỗi địa phương được tính bằng trung bình cộng TBĐT từng năm của địa phương đó. Chẳng hạn, Bình Dương có TBĐT từng năm giai đoạn 2021-2025 lần lượt là 7,055, 7,021, 7,161, 7,320 và 6,480 thì "TBĐT 5 năm" của tỉnh này là 7,007.
Tính "TBĐT 5 năm" giai đoạn 2021–2025 của 12 địa phương cho thấy mức bình quân chung đạt 6,490 điểm. Lấy mốc này để so sánh, có 6 địa phương có điểm trung bình cao hơn, gồm: Bình Dương (7,007 điểm), Hải Phòng (6,765 điểm), Hải Dương (6,648 điểm), TP.HCM (6,625 điểm), Hà Nội (6,552 điểm) và Cần Thơ (6,525 điểm).
6 địa phương còn lại có điểm trung bình thấp hơn mức này, gồm: Bà Rịa – Vũng Tàu (6,474 điểm), Huế (6,453 điểm), Đà Nẵng (6,224 điểm), Quảng Nam (6,217 điểm), Hậu Giang (6,197 điểm) và Sóc Trăng (6,187 điểm).
Như vậy, trong 12 địa phương được so sánh, một nửa có kết quả cao hơn mức trung bình chung và một nửa thấp hơn.
Trong nhóm TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương nổi bật với điểm trung bình 7,007, luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. TP.HCM đạt 6,625 điểm, còn Bà Rịa – Vũng Tàu thấp hơn với 6,474 điểm.
Cặp Hải Phòng – Hải Dương có kết quả khá gần nhau (6,765 và 6,648 điểm), cho thấy chất lượng giáo dục trong vùng tương đối cân bằng.
Ở các nhóm còn lại, khoảng cách thể hiện rõ hơn. Đà Nẵng chưa tạo được chênh lệch đáng kể so với Quảng Nam (6,224 so với 6,217), dù điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Tại ĐBSCL, Cần Thơ giữ vai trò trung tâm với điểm trung bình cao hơn nhiều so với Hậu Giang và Sóc Trăng, phản ánh sự chênh lệch về chất lượng giáo dục. TBĐT và thứ hạng của 12 địa phương được thể hiện ở bảng sau:
Đối sánh nhóm 6 thành phố lớn sau sáp nhập
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 có nhiều thay đổi: thi theo Chương trình GDPT 2018, số môn thi giảm còn 4 (toán, ngữ văn và 2 môn tự chọn), ngoại ngữ chuyển từ bắt buộc sang tự chọn. Đồng thời, tuyển sinh ĐH không còn xét tuyển sớm, xét học bạ phải tính cả điểm học kỳ II lớp 12. Những điều chỉnh này đã làm thay đổi bức tranh kết quả thi giữa các địa phương, đặc biệt là 6 thành phố trực thuộc T.Ư.
Kết quả đối sánh năm 2025 cho thấy sự phân hóa khá rõ. Hà Nội dẫn đầu với 6,451 điểm, xếp thứ 5/34 toàn quốc. Hải Phòng đứng ngay sau với 6,346 điểm, xếp thứ 6/34, cho thấy chất lượng giáo dục ổn định. TP.HCM và Huế thuộc nhóm tiếp theo, lần lượt xếp thứ 8 và thứ 9.
Trong khi đó, Cần Thơ – sau khi sáp nhập thêm Hậu Giang và Sóc Trăng – xếp thứ 16/34, phản ánh những khó khăn đặc thù của giáo dục vùng ĐBSCL Cửu Long. Đà Nẵng đứng thứ 23/34, thấp nhất trong nhóm 6 thành phố. Đây không phải hiện tượng nhất thời mà là xu hướng kéo dài nhiều năm, khi Đà Nẵng và Quảng Nam thường nằm trong nhóm địa phương có điểm trung bình thấp.
Kết quả này cho thấy việc sáp nhập địa giới hành chính chủ yếu tạo ra không gian quản lý mới, còn mặt bằng chất lượng giáo dục giữa các vùng trong mỗi thành phố vẫn chưa thật sự đồng đều.
Xây dựng bản đồ chất lượng đến từng xã, phường, trường học
Để các "siêu đô thị" hình thành sau sáp nhập thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục quốc gia, hoạt động đối sánh theo nhóm cần được xác lập như một công cụ phản hồi và điều chỉnh chính sách. Giá trị cốt lõi của đối sánh không nằm ở xếp hạng, mà ở khả năng chỉ ra khoảng cách, nhận diện nguyên nhân và gợi mở cải tiến phù hợp.
Trước hết, các đô thị cần xây dựng bản đồ chất lượng giáo dục đến từng xã, phường, từng trường, phản ánh đầy đủ điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô trường lớp, đội ngũ giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Đây sẽ là cơ sở để phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tiễn, thay vì chia đều hay dựa vào địa giới hành chính. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 12 của Hà Nội vừa mới đây đã cho thấy rõ tính cần thiết của giải pháp này.
Thứ hai, cần mở rộng quyền tự chủ cho các địa phương và nhà trường khi phạm vi quản lý rộng lớn hơn, đồng thời thiết kế các gói hỗ trợ có mục tiêu rõ ràng cho những khu vực còn yếu, gắn chặt trách nhiệm giải trình với kết quả đầu ra. Đối sánh theo nhóm giúp xác định cụ thể đối tượng cần hỗ trợ, mức độ hỗ trợ và thời gian hỗ trợ, qua đó hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải nhưng hiệu quả thấp. Các trường học từng bước trở thành tổ chức tự học hỏi và tự cải tiến qua đối sánh và kiểm định.
Thứ ba, phát triển đội ngũ giáo viên theo vùng trong nội bộ đô thị là giải pháp then chốt. Việc tạo cơ chế luân chuyển, chia sẻ giáo viên giỏi giữa khu vực trung tâm và vùng ven, vùng khó khăn sẽ góp phần thu hẹp chênh lệch chất lượng đã kéo dài nhiều năm, đồng thời tạo môi trường phát triển nghề nghiệp công bằng hơn cho đội ngũ nhà giáo.

Sau khi thi ba môn chung Văn, Toán, Tiếng Anh vào ngày 23/5, sáng nay, hơn 1.000 thí sinh đăng ký lớp chuyên Toán và chuyên Tin trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên đã hoàn thành bài thi môn Toán chuyên (Toán vòng 2).
Dưới đây là phần lời giải chi tiết của thầy Võ Quốc Bá Cẩn, Nguyễn Lê Phước, Nguyễn Tiến Dũng (giáo viên trường Archimedes Academy, Hà Nội), thầy Trần Đức Hiếu (THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam), thầy Phan Quang Linh (THCS Giảng Võ) thầy Vũ Minh Đức, Nguyễn Văn Quý, Đào Phúc Long (câu lạc bộ CMATH), thầy Trần Quang Độ (Viện Toán học).
Bài 1:
Bài 2:
Bài 5:
* Tiếp tục cập nhật
Năm nay, trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên (thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận gần 4.000 hồ sơ đăng ký thi lớp 10, tăng gần 1.000 so với năm ngoái.
Thí sinh đăng phải thi bốn môn, gồm Toán (vòng 1), Văn, Tiếng Anh và môn chuyên, trong đó Tiếng Anh là môn mới. Điều kiện để học sinh được xét tuyển là đạt 4/10 điểm trở lên ở mỗi môn. Điểm xét tuyển là tổng điểm môn Toán (vòng 1) và môn chuyên nhân hệ số hai. Kết quả được công bố trước ngày 16/6.
Năm ngoái, với cách tính tương tự, điểm chuẩn lớp Toán và Tin cao nhất, cùng 19,5, còn lại ba lớp chuyên Lý, Hóa, Sinh cùng lấy 17.
Tin Gốc: Vnexpress

Từ 10.5.2026, Điều lệ mới đối với trường tiểu học, trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học (gọi chung là trường phổ thông) sẽ có hiệu lực thi hành.
Thông tư này thay thế các thông tư ban hành điều lệ riêng cho từng bậc học trước đây (điều lệ trường tiểu học năm 2020, điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học năm 2020).
Theo đó, trường phổ thông là cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông. Trường phổ thông được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Điều lệ quy định có các loại hình trường phổ thông gồm trường phổ thông có một cấp học (trường tiểu học, trường THCS, trường THPT) và trường phổ thông có nhiều cấp học (trường tiểu học và THCS; trường THCS và THPT; trường tiểu học, THCS và THPT).
Bên cạnh đó có trường chuyên biệt gồm trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường phổ thông nội trú; trường THPT chuyên, trường phổ thông năng khiếu nghệ thuật, thể dục, thể thao và các trường năng khiếu khác; trường, lớp dành cho người khuyết tật; trường giáo dưỡng...
Thông tư 19 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư năm 2024 quy định về dạy thêm học thêm, có hiệu lực từ 15.6, yêu cầu tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Giáo viên đang dạy học tại các trường khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo với hiệu trưởng về môn học, địa điểm, hình thức dạy thêm, mối quan hệ với chủ thể đứng tên đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm.
UBND cấp xã có trách nhiệm phải thiết lập và công khai niêm yết số điện thoại đường dây nóng trên Cổng thông tin điện tử của UBND cấp xã (nếu có) hoặc tại trụ sở cơ quan UBND cấp xã để tiếp nhận, xử lý các kiến nghị, phản ánh về hoạt động dạy thêm, học thêm trên địa bàn quản lý.
Cũng theo quy định này, học tăng cường ngoại ngữ, giáo dục STEM không được coi là dạy thêm, học thêm. Theo đó, các hoạt động giáo dục về văn hóa, nghệ thuật, thể thao; tăng cường năng lực ngoại ngữ, giáo dục STEM/STEAM, giáo dục năng lực số, trí tuệ nhân tạo, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống và các nội dung giáo dục khác theo quy định nhằm giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh mà không thuộc nội dung chương trình các môn học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành không phải là dạy thêm học thêm và được thực hiện theo các quy định khác của pháp luật.
Nghị định Quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo được Chính phủ ban hành ngày 28.3, có hiệu lực từ ngày 15.5, cho thấy trong thời gian tới toàn bộ quá trình học tập của người học (hồ sơ học tập suốt đời) trong hệ thống giáo dục quốc dân sẽ được lưu giữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo và tích hợp lên ứng dụng định danh quốc gia VNeID.
Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời được tạo lập bao gồm thông tin về học bạ ghi nhận toàn bộ quá trình học tập; kết quả học tập và rèn luyện của người học đối với giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; thông tin về văn bằng, chứng chỉ được cấp sau khi người học tốt nghiệp cấp học, hoàn thành chương trình giáo dục hoặc khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Bên cạnh đó là thông tin công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam, thông tin kết quả học tập của người học trong các chương trình giáo dục ĐH, giáo dục nghề nghiệp; chứng nhận kết quả đánh giá năng lực qua các kỳ thi hoặc kỳ kiểm tra; chứng nhận giải thưởng, thành tích học tập của người học...
Từ 15.5.2026, mỗi người học được cấp 1 mã hồ sơ học tập suốt đời theo số định danh cá nhân và trước 1.1.2027 sẽ hoàn thành cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời cho tất cả người học.
Mã số hồ sơ học tập suốt đời của cá nhân được dùng làm mã khóa truy cập để khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của người học lưu giữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo.
Bộ GD-ĐT chịu trách nhiệm hoàn thành việc cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo cho tất cả các cá nhân có liên quan trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

