Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an vừa ban hành kết luận điều tra, đề nghị truy tố bà Chu Thị Thành, cựu Chủ tịch Tập đoàn Thiên Minh Đức, về tội Tham ô tài sản và In, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.
Cùng vụ án, 22 bị can khác cũng bị đề nghị truy tố về các tội Tham ô tài sản, Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước và Trốn thuế.
Trong số này, Hà Ngọc Vinh, tổ trưởng tổ kế toán kho PVoil Vũng Áng, và Cao Bảo Ngọc, cựu Giám đốc Công ty Việt Trung, cùng bị đề nghị truy tố về tội Tham ô tài sản.
Theo kết luận điều tra, từ tháng 8/2013 đến năm 2025, PVoil Vũng Áng ký và thực hiện 3 hợp đồng bán xăng, dầu với Công ty Việt Trung. Đơn giá hàng bán được điều chỉnh theo từng thời điểm, căn cứ thông báo của PVoil Vũng Áng.
Quá trình bán hàng cho Công ty Việt Trung từ tháng 12/2016 đến tháng 4/2025, Hà Ngọc Vinh đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để bán xăng, dầu không xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Cao Bảo Ngọc, không hạch toán trên phần mềm kế toán, nhằm chiếm đoạt tài sản của PVoil Vũng Áng.
Cơ quan điều tra xác định, ngoài số hàng được xuất hóa đơn theo đúng quy trình, Vinh thỏa thuận bán xăng, dầu cho Ngọc nhưng không xuất hóa đơn, với giá thấp hơn giá PVoil Vũng Áng công bố từ 500 đồng đến 1.000 đồng/lít.
Khi cần tiền sử dụng cá nhân, sau khi Ngọc giao nhân viên đặt hàng, lấy hàng theo đúng quy trình, Vinh báo cho Ngọc biết chuyến hàng nào không xuất hóa đơn để Ngọc bán cho các chủ tàu cá không cần lấy hóa đơn. Đồng thời, Vinh xóa bỏ thông tin các chuyến hàng này trên phần mềm kế toán.
Có trường hợp chuyến hàng đã được xuất hóa đơn nhưng Công ty Việt Trung chưa thanh toán tiền, Vinh lại hủy hóa đơn đã xuất và xóa dữ liệu chuyến hàng. Sau khi bán xăng, dầu, Ngọc nộp tiền vào tài khoản của mình và vợ là Nguyễn Thị Phương Thảo, rồi chuyển tiền vào tài khoản của Vinh hoặc đưa tiền mặt cho Vinh để trả tiền mua hàng, sau khi trừ chiết khấu theo thỏa thuận.
Để cân đối sổ sách đối với lượng hàng xuất ra không hóa đơn, Vinh bị cáo buộc lợi dụng đặc tính thể tích xăng, dầu thay đổi theo nhiệt độ, cách thức quản lý hàng tồn kho, sơ hở của phần mềm kế toán và việc bản thân được giao nhiều nhiệm vụ để che giấu sai phạm.
Theo kết luận điều tra, Vinh sửa trên phần mềm kế toán, làm tăng lượng xăng, dầu V15 xuất ra cho nhiều chuyến hàng của các khách hàng khác tại kho Vũng Áng. Mỗi lần, bị can sửa tăng từ 200 đến 400 lít, tương đương 2-3%, để tổng lượng hàng sau chỉnh sửa vẫn phù hợp với quy luật giãn nở của xăng, dầu, tránh bị phát hiện.
Đến kỳ kiểm kê, tổng lượng hàng V15 xuất không hóa đơn được cân đối bằng đúng tổng lượng hàng V15 đã bị điều chỉnh tăng ở các chuyến hàng khác.
Hàng ngày, dù nhận được bảng kê số liệu hàng thực xuất của ngày hôm trước để đối chiếu, Vinh không có ý kiến. Hằng tháng, bị can còn xác nhận trên thẻ kho theo đúng số liệu thực để Phòng Quản lý hàng hóa báo cáo lãnh đạo công ty. Vì vậy, PVoil Vũng Áng không phát hiện có lượng hàng xuất ra nhưng chưa được xuất hóa đơn.
Trong năm 2024, một số chuyến xuất không hóa đơn tại kho Vũng Áng chưa được hợp thức bằng cách sửa lượng xuất V15 của các chuyến khác. Vinh tiếp tục lợi dụng các thông báo điều chuyển nguồn của PVoil và PVoil Vũng Áng để lập lệnh trên phần mềm kế toán, điều chuyển hàng từ kho Vũng Áng đến các kho khác như Nghi Sơn, Chân Mây với lượng điều chuyển cao hơn thông báo hoặc điều chuyển khống.
Cuối năm 2024, còn khoảng 600.000 lít xăng, dầu xuất không hóa đơn tại kho Vũng Áng chưa được hợp thức. Để cân đối sổ sách, tồn kho, Vinh lập lệnh điều chuyển hàng từ kho Vũng Áng và lượng chưa cân đối ở các kho khác đến gửi kho Petec Hải Phòng, tổng cộng 587.904 lít xăng, dầu.
Sau đó, bị can làm giả biên bản đối chiếu, xác nhận còn hàng gửi kho Petec Hải Phòng rồi gửi cho đơn vị kiểm toán báo cáo tài chính. Thực tế, PVoil Vũng Áng không còn hàng gửi tại kho này.
Cơ quan điều tra cáo buộc, bằng các thủ đoạn trên, từ tháng 12/2016 đến ngày 14/4/2025, Vinh đã xuất bán 187 chuyến hàng không có hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty Việt Trung, với tổng khối lượng hơn 5,09 triệu lít xăng, dầu các loại, trị giá hơn 94 tỷ đồng.
Số hàng này được Cao Bảo Ngọc bán không hóa đơn cho các chủ tàu cá tại Quảng Trị, thu lời 200 đồng/lít. Ngọc chuyển trả cho Vinh tiền hàng sau chiết khấu tổng cộng gần 89,4 tỷ đồng và hưởng lợi hơn 4,6 tỷ đồng từ khoản chiết khấu.
Theo kết luận điều tra, Vinh đã chuyển toàn bộ số tiền chiếm đoạt đến nhiều tài khoản khác nhau và khai nhận dùng để đánh bạc.
Sau khi sai phạm bị phát hiện, Vinh đã nộp khắc phục cho PVoil Vũng Áng hơn 6,2 tỷ đồng. Cao Bảo Ngọc trả cho PVoil Vũng Áng 4,69 tỷ đồng.
Theo hồ sơ vụ án xảy ra tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, ngày 22/10/2020, Lê Vũ Hồng Sơn (44 tuổi, ngụ TP Cần Thơ) bị TAND tỉnh Bình Dương (cũ) tuyên phạt 3 năm tù về tội Đánh bạc và ủy thác thi hành án cho TAND TP Biên Hòa (cũ).
Ngày 26/11/2020, TAND TP Biên Hòa ban hành quyết định thi hành án phạt tù đối với Sơn. Để trốn tránh việc chấp hành án, Sơn bàn bạc với vợ nhờ người quen đang công tác tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa can thiệp, giúp làm hồ sơ kết luận giám định tâm thần nhằm được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và được trừ thời gian chữa bệnh vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Thông qua các mối quan hệ quen biết, vợ Sơn đã chi 190 triệu đồng để chồng mình được kết luận mắc bệnh tâm thần.
Ngày 14/12/2020, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 ban hành Công văn số 246/BVTW2 xác nhận Sơn đang điều trị tâm thần nội trú. Tiếp đó, ngày 28/12/2020, Viện trưởng Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa quyết định thành lập Hội đồng giám định pháp y tâm thần đối với Sơn.
Mặc dù biết rõ Sơn không bị bệnh tâm thần, nhưng nhằm giúp người này đủ điều kiện được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, ngày 27/1/2021, Hội đồng giám định đã ban hành Kết luận giám định pháp y tâm thần số 84/KL-VPYTW, kết luận: “Lê Vũ Hồng Sơn hiện nay mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Căn cứ kết luận giám định trên, ngày 17/2/2021, TAND TP Biên Hòa (cũ) quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Lê Vũ Hồng Sơn.
Đến ngày 8/9/2023, cơ quan chức năng đình chỉ việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Sơn với lý do đã khỏi bệnh.
Ngày 12/9/2023, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (nay là TP Đồng Nai) xác nhận Sơn đã chấp hành xong án phạt tù do được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam và thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời hạn chấp hành án.
Tuy nhiên, đến ngày 1/11/2023, TAND TP Biên Hòa ban hành thông báo đính chính, xác định thời gian bắt buộc chữa bệnh của Sơn không được tính trừ vào thời gian chấp hành án phạt tù.
Sau đó, ngày 16/11/2023, Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai ban hành công văn thu hồi giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù đã cấp cho Lê Vũ Hồng Sơn.
Trong thời gian bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, Sơn được cho ra ngoài trái phép. Ngày 27/3/2021, Sơn tham gia đánh bạc và bị Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (cũ) bắt quả tang.
Ngày 2/4/2021, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định tâm thần đối với Sơn tại Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa.
Đến ngày 27/4/2021, Viện trưởng Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa tiếp tục quyết định thành lập Hội đồng giám định pháp y tâm thần.
Dù biết rõ Sơn không mắc bệnh tâm thần, nhưng do trong thời gian điều trị bắt buộc chữa bệnh, Viện Pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đã để Sơn ra ngoài xã hội trái quy định pháp luật, nên ngày 31/5/2021, Hội đồng giám định ban hành Kết luận giám định pháp y tâm thần số 389/KL-VPYTW với nội dung: “Lê Vũ Hồng Sơn hạn chế khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi tại thời điểm gây án; mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm giám định”.
Căn cứ kết luận này, Công an huyện Vĩnh Cửu đã tách hành vi đánh bạc của Sơn để thụ lý, giải quyết theo thủ tục tin báo về tội phạm, sau đó ra quyết định tạm đình chỉ.
Đến ngày 17/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với hành vi đánh bạc của Lê Vũ Hồng Sơn để tiếp tục xử lý theo quy định pháp luật.
Tối 8-4, Công an TP Hà Nội cho biết Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao vừa xử lý một người đăng tải bài viết sử dụng AI chế ảnh người ngất xỉu tại cây xăng.
Qua công tác nắm tình hình trên không gian mạng, Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phát hiện tài khoản Facebook đăng tải bài viết "Giá xăng dầu "quay xe" - anh em đi đổ xăng ngay".
Bài đăng kèm hình ảnh tạo từ AI về một người đàn ông bị ngất xỉu tại cây xăng.
Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã làm rõ người đăng bài viết là N.T.Đ. (21 tuổi, trú tại phường Hoàng Mai, Hà Nội).
Tại cơ quan công an, anh N.T.Đ. thừa nhận việc sử dụng hình ảnh AI sai sự thật nhằm mục đích câu view, câu like.
Anh N.T.Đ. đã tự giác gỡ bỏ bài viết vi phạm trên mạng xã hội và cam kết không tái phạm.
Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao khuyến cáo người dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội.
Không đăng tải, chia sẻ các hình ảnh, video do AI tạo dựng hoặc chưa được kiểm chứng, đặc biệt là những nội dung gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến an ninh trật tự.
Cảnh giác với hình ảnh, thông tin trên mạng xã hội, kẻ xấu có thể lợi dụng công nghệ AI để tạo dựng hình ảnh giả, xuyên tạc sự thật nhằm câu view, câu like hoặc phục vụ mục đích xấu.
TAND TP Đà Nẵng vừa có bản án dân sự phúc thẩm tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa nguyên đơn là ông H.T.T. (57 tuổi, trú Đà Nẵng), và bị đơn là Tổng công ty cổ phần B. (TP.HCM).
Theo trình bày của nguyên đơn, ông T. là chủ sở hữu tàu cá QNa 90187. Ngày 17-1-2024, ông T. có mua bảo hiểm của Tổng công ty cổ phần B. cho tàu cá với giá trị trách nhiệm bảo hiểm thân tàu là hơn 2,2 tỉ đồng. Khi mua bảo hiểm, ông T. không được nhân viên bán bảo hiểm giải thích về quyền lợi của người mua cũng như các quy tắc loại trừ bảo hiểm.
Ông T. cùng các thuyền viên xuất bến để hành nghề lưới rê. Khoảng 23h30 ngày 1-4-2024, thuyền trưởng cho tàu di chuyển, bất ngờ có sóng lớn vỗ vào tàu. Lúc này gió khoảng cấp 6, thuyền trưởng cho một thuyền viên cầm lái, còn mình đi kiểm tra và phát hiện nước vào mạn trái, ở gần khoang mũi có vết thủng. Thuyền trưởng đã cho dùng bơm để hút nước ra ngoài.
Khi thấy ánh điện của tàu khác, tàu QNa 90187 đã di chuyển đến gần, đồng thời thuyền trưởng dùng máy bấm nút "SOS" và gọi điện về cho người thân báo cơ quan chức năng hỗ trợ. Thuyền viên đã quăng dây cố định tàu.
Cùng lúc đó, thuyền viên tàu QB 91449 đã đem các bơm để hút nước trong tàu QNa 90187, nhưng nước càng lúc càng nhanh và mạnh, các thuyền viên vẫn tiếp tục dùng bơm hút nước ra ngoài nhưng không thành công.
Thuyền trưởng cùng các thuyền viên hai tàu thấy không thể cứu tàu và để đảm bảo an toàn nên đã rời qua tàu QB 91449, còn tàu QNa 90187 chìm dần. Sau đó, tàu QB 91449 đưa các thuyền viên cùng thuyền trưởng tàu gặp nạn sang một tàu khác để đi nhờ vào đất liền. Khi về đến bờ, ông H.T.T. đã thông báo cho Tổng công ty cổ phần B. để yêu cầu chi trả tiền bảo hiểm đối với tàu cá QNa 90187 theo hợp đồng đã ký.
Tuy nhiên, Tổng công ty cổ phần B. từ chối chi trả tiền bảo hiểm vì cho rằng sự kiện chìm tàu cá trên không thuộc trường hợp được bảo hiểm do định biên thuyền viên không đủ người và văn bằng chứng chỉ chuyên môn của thuyền trưởng, thuyền viên không phù hợp.
Ông T. cho rằng lý do của Công ty B. đưa ra là không có cơ sở, vì sự cố xảy ra do thời tiết xấu bất thường là nguyên nhân bất khả kháng trực tiếp gây nên thiệt hại tài sản.
Thời điểm tàu đánh bắt tại tọa độ có sóng lớn, gió mạnh đập vào mạn trái gây ra vết thủng dài 50cm và rộng 2cm, khiến nước tràn vào tàu nhanh.
Ngay khi phát hiện sự cố, ông T. và thuyền viên đã thực hiện mọi biện pháp để khắc phục sự cố, lái tàu về phía tàu QB 91449 để nhờ ứng cứu (tất cả thuyền viên hai tàu đã cùng nhau hiệp lực để cứu tàu), gọi SOS... Và ông T. có chứng chỉ thuyền trưởng hạng IV.
Vì vậy, ông T. đề nghị tòa buộc Tổng công ty cổ phần B. chi trả cho ông số tiền hơn 1,7 tỉ đồng và tiền lãi.
Phía bị đơn cho rằng nguyên đơn để máy trưởng và một thuyền viên về bờ (vì giảm chi phí và bị bệnh) mà không có phương án bố trí máy trưởng với thuyền viên thay thế để vận hành trang thiết bị máy móc trong quá trình khai thác hải sản, dẫn đến tình trạng tàu không có máy trưởng, thiếu thuyền viên.
Điều này vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về duy trì điều kiện khai thác thủy sản và về đảm bảo định biên an toàn tối thiểu…. Vì vậy, Tổng công ty B. không có trách nhiệm bồi thường vụ chìm tàu cá QNa 90187 nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bản án sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.T.T. về việc tranh chấp hợp đồng bảo hiểm với Tổng công ty cổ phần B.
Buộc Tổng công ty cổ phần B. phải trả tiền bảo hiểm cho ông T. số tiền 2.015.520.000 đồng, gồm tiền bảo hiểm do tổn thất toàn bộ của tàu cá QNa 90187 là 1.768.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả của tiền bảo hiểm tính từ ngày 3-5-2024 đến ngày 27-9-2025 là 247.520.000 đồng.
Sau đó, Tổng công ty cổ phần B. đã kháng cáo. Tòa phúc thẩm đã bác toàn bộ kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.