Phát biểu tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI sáng 6.4, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở đầu cho một nhiệm kỳ mới, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp.
Đây cũng là kỳ họp tập trung thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tạo nền tảng pháp lý, thể chế và động lực chính sách để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới: phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc.
Chúc mừng kết quả bầu cử tốt đẹp và các vị đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp đã được cử tri cả nước tín nhiệm lựa chọn, Tổng Bí thư cũng ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Quốc hội, các vị đại biểu, ủy viên HĐND các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025, là nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa XVI kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao mới.
Nhấn mạnh thế giới đang biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc trên cả chiều rộng và chiều sâu, Tổng Bí thư cũng nêu rõ các thách thức từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, dòng vốn toàn cầu… Trong bối cảnh ấy, quốc gia nào chủ động chiến lược, cải cách thể chế kịp thời, giải phóng được sức sáng tạo, huy động được nguồn lực toàn dân, nắm bắt được thời cơ mới, quốc gia đó sẽ vượt lên và phát triển.
Theo Tổng Bí thư, đất nước ta, với lịch sử hàng ngàn năm văn hiến, qua 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm đổi mới, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại.
“Nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào sự thật rằng: yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, nhanh hơn và quyết liệt hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng quản trị quốc gia, về năng lực phản ứng chính sách, về kỷ luật thực thi và nâng cao mức sống của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tiến trình đó, Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn để thực hiện đầy đủ, xứng đáng trọng trách hiến định của mình.
“Mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn ý thức sâu sắc rằng mình không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, không chỉ mang theo lá phiếu tín nhiệm của cử tri, mà còn gánh trên vai trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, đối với niềm tin của nhân dân, đối với tương lai của các thế hệ mai sau”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện tốt 4 nhiệm vụ lớn. Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, xây dựng bằng được một hệ thống pháp luật hiện đại, thống nhất, ổn định, khả thi và kiến tạo phát triển.
Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đáng kể, nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên thông; có những quy định chưa rõ, chưa ổn định, chưa theo kịp thực tiễn, làm tăng chi phí tuân thủ, làm chậm cơ hội phát triển, làm khó cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy thực thi.
Vì vậy, Quốc hội cần chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật quốc gia, kiên quyết khắc phục tình trạng “luật bó”, chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.
Đặc biệt, phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai. Luật không chỉ “mở đường” mà còn phải “sửa đường”.
Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, từ lợi ích chính đáng của nhân dân; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động tiêu cực làm méo mó chính sách. Phải chuyển mạnh từ tư duy “làm luật cho đủ” sang tư duy “làm luật để phát triển”; từ “pháp luật tốt trên giấy” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”. Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp.
Thứ hai, nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả. Giám sát không chỉ để “kiểm tra việc đã làm”, mà còn phải giúp “định hình việc cần làm”, nhận diện sớm những bất cập có thể phát sinh và phải đi đến cùng câu hỏi cuối cùng: vấn đề đã được giải quyết hay chưa.
Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội nhiệm kỳ này tập trung giám sát những vấn đề lớn, những lĩnh vực then chốt, những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong phát triển; những vấn đề bức xúc mà cử tri và nhân dân quan tâm; đặc biệt là việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, việc tổ chức thi hành pháp luật, việc sử dụng nguồn lực quốc gia, quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Thứ ba, Quốc hội phải nâng cao bản lĩnh và tầm nhìn khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyết định phải đúng, trúng, kịp thời, vì lợi ích lâu dài của quốc gia.
“Giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt lịch sử của đất nước đòi hỏi Quốc hội không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời; bởi chậm một quyết sách có thể làm lỡ một thời cơ chiến lược”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn.
Trong một thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành theo nhịp độ cũ, cách thức cũ. Quốc hội phải có năng lực thích ứng nhanh hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn, quyết định vấn đề nhanh hơn nhưng vẫn chặt chẽ, đúng đắn.
Tổng Bí thư lưu ý cần tiếp tục nghiên cứu tăng hợp lý số kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nhất là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả trong xem xét, quyết định chính sách.
Cạnh đó, phải tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu chuyên trách. Mỗi đại biểu vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực phản biện, vừa có khả năng truyền tải trung thực tiếng nói của nhân dân đến nghị trường.
Quốc hội phải gắn bó mật thiết hơn với nhân dân; mở rộng các kênh tiếp nhận, lắng nghe ý kiến của cử tri, nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học; tăng cường công khai, minh bạch trong toàn bộ hoạt động của mình. Xây dựng Quốc hội số, hiện đại, thông minh, nhưng trước hết phải là một Quốc hội gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân.
“Khi lòng dân được lắng nghe, khi ý dân được phản ánh trung thực, khi quyết sách xuất phát từ thực tiễn đời sống, thì Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn, niềm tin xã hội sẽ lớn hơn”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Chiều 15.5, tại Hà Nội, Báo Thanh Niên phối hợp cùng các cơ quan liên quan tổ chức hội thảo với chủ đề "Công tác chính trị, tư tưởng đi trước, mở đường trong kỷ nguyên mới".
Tham dự hội thảo có anh Nguyễn Minh Triết, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thường trực Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam; bà Đinh Thị Mai, Phó trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; ông Ngô Văn Cương, Phó bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và các chuyên gia, nhà khoa học...
Phát biểu tại hội thảo, ông Ngô Văn Cương đánh giá đây là hội thảo có ý nghĩa rất quan trọng, đồng thời ghi nhận và đánh giá cao sáng kiến tổ chức hội thảo của Báo Thanh Niên cùng các đơn vị phối hợp.
Theo ông Ngô Văn Cương, trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới với nhiều thời cơ, thuận lợi nhưng cũng đan xen không ít khó khăn, thách thức, vai trò của công tác chính trị, tư tưởng càng trở nên đặc biệt quan trọng.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo, truyền thông số đã làm thay đổi căn bản phương thức tiếp cận thông tin, hình thành dư luận xã hội và tác động trực tiếp đến tư tưởng, nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.
"Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên không gian mạng với nhiều thủ đoạn tinh vi, phức tạp, lợi dụng các vấn đề xã hội, các vụ việc nhạy cảm để xuyên tạc, kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Điều đó đòi hỏi công tác chính trị, tư tưởng phải được đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương thức và tư duy triển khai", ông Ngô Văn Cương đánh giá.
Để thực hiện mục tiêu công tác chính trị, tư tưởng thực sự "đi trước, mở đường" trong kỷ nguyên mới, ông Ngô Văn Cương đề nghị cần tập trung nghiên cứu, thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm.
Trước hết là nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng. Đây không phải nhiệm vụ riêng của lĩnh vực tuyên giáo, dân vận hay một cơ quan chuyên trách nào mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên.
Bên cạnh đó, phải đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng gần gũi, thiết thực, hiện đại, phù hợp với từng đối tượng, nhất là thanh niên.
"Muốn công tác tư tưởng hiệu quả thì phải hiểu thanh niên nghĩ gì, quan tâm điều gì, tiếp cận thông tin ra sao. Không thể sử dụng tư duy cũ, phương pháp cũ để tác động đến một thế hệ đang sống trong môi trường số và toàn cầu hóa", ông Ngô Văn Cương nhấn mạnh.
Theo đó, các tổ chức đoàn thể cần chủ động tận dụng ưu thế của công nghệ số, mạng xã hội, truyền thông đa nền tảng để lan tỏa thông tin tích cực, truyền cảm hứng, định hướng giá trị sống tốt đẹp, khơi dậy tinh thần yêu nước, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến trong thanh niên.
Đặc biệt, ông Ngô Văn Cương cho rằng, công tác chính trị, tư tưởng phải gắn chặt với thực tiễn đời sống, với những vấn đề người dân và thanh niên quan tâm.
"Chúng ta không chỉ tuyên truyền bằng lời nói mà phải bằng hành động cụ thể, bằng kết quả thực tiễn của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, bằng tinh thần trách nhiệm, sự nêu gương của cán bộ, đảng viên", ông Ngô Văn Cương nói.
Ông Ngô Văn Cương cho rằng cần đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác chính trị, tư tưởng có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, am hiểu công nghệ, có kỹ năng truyền thông hiện đại và khả năng nắm bắt, xử lý nhanh các vấn đề phát sinh trong xã hội.
Đồng thời, ông Ngô Văn Cương khẳng định, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương xác định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức chính trị - xã hội để đổi mới công tác chính trị, tư tưởng theo hướng chủ động, kịp thời, hiệu quả, sát với thực tiễn để góp phần củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
"Chúng tôi mong muốn các cơ quan báo chí, đặc biệt là Báo Thanh Niên, tiếp tục phát huy vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa; tăng cường các tuyến bài, diễn đàn, chương trình có chiều sâu, góp phần lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trong thế hệ trẻ", ông Ngô Văn Cương nhấn mạnh.
Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố:
1. Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka Anura Kumara Dissanayake, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Sri Lanka từ ngày 7 đến ngày 8.52026. Ngày 8.5.2026, tại Phủ Tổng thống, Thủ đô Colombo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón trọng thể với 21 loạt đại bác chào mừng và hội đàm với Tổng thống Sri Lanka. Hai nhà lãnh đạo cũng đồng chủ trì gặp gỡ báo chí chung, dâng hoa tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn viên Thư viện Công cộng Colombo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến và cùng Thủ tướng Harini Amarasuriya dự lễ khai mạc Diễn đàn Thương mại - Đầu tư - Du lịch Việt Nam - Sri Lanka tại Colombo; hội kiến Chủ tịch Quốc hội Jagath Wickramaratne và phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka.
2. Chuyến thăm tái khẳng định tình hữu nghị truyền thống và sự tin cậy hơn 55 năm qua được vun đắp dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, các giá trị và cam kết chung vì hòa bình, ổn định và phát triển. Quan hệ song phương càng được thúc đẩy bởi khát vọng chung về hòa bình, độc lập, tự cường, bởi tầm nhìn chung về an ninh, thịnh vượng kinh tế, phát triển bền vững, tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
3. Tại hội đàm, Tổng thống Dissanayake gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhân dịp đồng chí Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện sự tin tưởng và tín nhiệm sâu sắc. Tổng thống Dissanayake bày tỏ tin tưởng chắc chắc rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những thành tựu to lớn và phát triển bền vững hơn nữa.
Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi toàn diện và thực chất về các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên hài lòng trước sự phát triển của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước và chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện.
Với việc nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện, Hai nhà lãnh đạo cam kết tiếp tục củng cố và tăng cường hợp tác hữu nghị, xác lập tin cậy chính trị ở mức cao, mở rộng quy mô và mức độ hợp tác theo hướng toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực. Việc nâng cấp này cũng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hệ thống chính trị và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
4. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục tăng cường tiếp xúc, trao đổi cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh, trong đó có giao lưu nhân dân để làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có.
5. Hai bên cũng nhất trí về tầm quan trọng và nhu cầu thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan lập pháp hai nước thông qua trao đổi giữa các ủy ban, nhất là giữa nhóm nữ đại biểu quốc hội, nhóm đại biểu quốc hội trẻ; thúc đẩy thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Sri Lanka.
6. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2011; khuyến khích các hoạt động hợp tác thực chất hơn, nhất là đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc; nhất trí hợp tác trong các lĩnh vực như dịch vụ sửa chữa và mua sắm thiết bị quốc phòng; đẩy nhanh đàm phán, hướng tới ký kết các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng để tạo cơ sở hợp tác; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ quốc phòng.
7. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh và nhất trí triển khai hiệu quả cơ chế đối thoại an ninh; rà soát, cập nhật Thỏa thuận hợp tác về đấu tranh, phòng chống tội phạm ký năm 2009; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, khủng bố, nhập cư bất hợp pháp; mở rộng hợp tác an ninh hàng hải, cảnh sát và an ninh mạng.
8. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa hai nước thông qua việc đàm phán và ký kết bản ghi nhớ hợp tác mới giữa hai Bộ Tư pháp để thay thế bản ghi nhớ ký năm 2013 đã hết hiệu lực.
9. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác thương mại và đầu tư song phương. Hai bên nhất trí nâng cao hiệu quả thực chất cơ chế Tiểu ban Thương mại hỗn hợp và thực hiện các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường hợp tác thương mại, bao gồm tạo thuận lợi về thương mại, trao đổi thông tin và thúc đẩy doanh nghiệp. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tiềm năng to lớn của việc mở rộng hơn nữa hợp tác kinh tế và nhất trí đạt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 1 tỷ USD vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, phía Việt Nam ghi nhận mong muốn của Sri Lanka về việc sớm trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
10. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư giữa hai nước. Phía Việt Nam đánh giá cao đầu tư của Sri Lanka tại Việt Nam; phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn thu hút thêm đầu tư từ Việt Nam. Hai bên sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hướng đến một số dự án mang tính biểu tượng trong các lĩnh vực như hạ tầng, viễn thông, giáo dục, y tế, nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, bán lẻ, logistics, hạ tầng du lịch và năng lượng tái tạo.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật điện, điện tử và tự động hóa; thúc đẩy ký kết văn kiện hợp tác về chuyển đổi số; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển, cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin.
12. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của các sáng kiến chia sẻ kiến thức và nâng cao năng lực. Hai bên cũng nhất trí tích cực triển khai kế hoạch công tác giai đoạn 2024 - 2026 trên cơ sở Bản ghi nhớ năm 2009 về Hợp tác phát triển nông nghiệp và chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.
13. Phía Sri Lanka đề nghị Việt Nam cung cấp phân bón phục vụ canh tác lúa gạo theo thỏa thuận cấp Chính phủ. Xét tầm quan trọng của ngành nông nghiệp đối với cả hai nước và những thách thức hiện tại về nguồn cung, phía Việt Nam xem xét tích cực đề nghị này.
14. Ghi nhận mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tình hữu nghị lâu đời, các hoạt động giao lưu Phật giáo trải dài qua nhiều thế kỷ và bắt nguồn từ những giá trị chung cũng như di sản văn hóa phong phú, hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; tăng cường xây dựng và triển khai các chương trình giao lưu, quảng bá văn hóa, lịch sử và thể thao; tăng cường kết nối giữa các tổ chức Phật giáo; thúc đẩy đối thoại liên văn hóa và nghiên cứu tổ chức các diễn đàn, hoạt động hành hương và tiến tới đồng đăng cai các sự kiện Phật giáo khu vực và quốc tế.
15. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm triển khai hiệu quả các cơ chế song phương hiện có trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; nhất trí hợp tác sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình giới thiệu về văn hóa, con người và lịch sử của hai nước.
16. Trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác giáo dục, hai bên nhất trí khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu hai bên, triển khai việc trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh hai nước.
17. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận những chuyển biến trong nỗ lực sớm đưa vào vận hành các đường bay thẳng giữa hai nước ngay trong năm nay, nhằm tăng cường kết nối, thúc đẩy hiệu quả hợp tác du lịch, thương mại và giao lưu nhân dân.
18. Sri Lanka và Việt Nam ghi nhận tầm quan trọng của thúc đẩy hợp tác giữa các hội hữu nghị, hội đoàn kết hai nước; nhất trí tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị, trong đó có giao lưu thanh niên, phụ nữ và mở rộng hơn nữa giao lưu nhân dân.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác khu vực và đa phương, đặc biệt là trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), coi đây là nền tảng quan trọng cho đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực chất về các vấn đề cùng quan tâm. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, bao gồm việc đồng chủ trì cuộc họp giữa kỳ của ARF về cứu trợ thiên tai gần đây và nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác trong quản lý thiên tai và hỗ trợ nhân đạo. Phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn trở thành Đối tác Đối thoại theo Lĩnh vực của ASEAN và cảm ơn sự ủng hộ liên tục của Việt Nam về vấn đề này.
20. Sri Lanka và Việt Nam tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và tự do hàng hải, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của việc tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) năm 1982, nhằm bảo đảm trật tự hàng hải quốc tế ổn định và hòa bình.
21. Hai bên nhất trí ủng hộ chủ nghĩa đa phương với vai trò trung tâm của Liên Hiệp Quốc; nhất trí tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực như Liên Hiệp Quốc, Phong trào Không liên kết (NAM), Hợp tác Nam - Nam, Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Diễn đàn Nghị viện Châu Á - Thái Bình Dương (APPF) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
22. Hai nhà lãnh đạo cũng trao đổi về các thách thức toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu; nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động chung, đặc biệt là hỗ trợ các nước đang phát triển thông qua khả năng tiếp cận tài chính khí hậu và chuyển giao công nghệ. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng. Sri Lanka bày tỏ ủng hộ sáng kiến thành lập Trung tâm khu vực về chống tội phạm mạng của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) tại Hà Nội.
23. Nhân chuyến thăm, hai nước đã ký một số văn kiện hợp tác về an ninh, khoa học và công nghệ, tôn giáo, văn hóa, thông tin và truyền thông.
24. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Sri Lanka về sự đón tiếp trọng thị, thân tình và nồng hậu dành cho đoàn trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Sri Lanka.
1. Bản ghi nhớ giữa Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an Việt Nam và Học viện Cảnh sát quốc gia, Bộ Công an và các vấn đề Nghị viện Sri Lanka.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Khoa học - Công nghệ Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ Sri Lanka về các lĩnh vực khoa học và công nghệ.
3. Bản ghi nhớ giữa Bộ Dân tộc - Tôn giáo Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác văn hóa giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
5. Bản ghi nhớ hợp tác về hợp tác trong lĩnh vực Thông tin và Truyền thông giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Y tế - Truyền thông đại chúng Sri Lanka.
Chiều 27.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến sân bay quốc tế Udon Thani (tỉnh Udon Thani), bắt đầu thăm chính thức Thái Lan theo lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thái Lan Anutin Charnvirakul và phu nhân từ ngày 27 - 29.5.
Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay, phía Thái Lan có: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã Thái Lan Watcharaphon Khaokham; lãnh đạo tỉnh Udon Thani…
Về phía Việt Nam có: Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan Phạm Việt Hùng và phu nhân; Tổng lãnh sự Việt Nam tại Khon Kaen Đinh Hoàng Linh và phu nhân; các cán bộ Đại sứ quán, Tổng lãnh sự quán Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.
Ngay sau khi xuống sân bay quốc tế Udon Thani, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh; gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.
Việt Nam và Thái Lan là hai nước láng giềng gần gũi, có nhiều lợi ích tương đồng trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực. Trải qua gần 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 - 2026), quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển mạnh mẽ, toàn diện, trở thành một trong những mối quan hệ năng động và hiệu quả nhất trong ASEAN.
Thời gian gần đây, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã có những bước phát triển rất tích cực, thực chất và toàn diện. Hai nước nâng cấp quan hệ từ Đối tác chiến lược lên Đối tác chiến lược tăng cường và hiện nay là Đối tác chiến lược toàn diện, phản ánh mức độ tin cậy chính trị ngày càng cao giữa hai bên.
Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến Thái Lan lần này thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ với Thái Lan cũng như đối với khu vực Đông Nam Á.
Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về các định hướng lớn nhằm triển khai hiệu quả khuôn khổ hợp tác mới, qua đó tạo thêm xung lực cho quan hệ song phương trong thời gian tới.