Chủ đề của chương trình là: “Thăng Long: Linh khí ngàn năm, chiều sâu văn hiến”, nhằm tôn vinh chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa của Thăng Long – Hà Nội, đồng thời truyền tải thông điệp về sự tiếp nối của truyền thống, sự giao thoa hài hòa giữa quá khứ và hiện tại, cũng như tinh thần hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.
Trong không khí gần gũi và thân tình, thắm tình hữu nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân đã di chuyển tới cổng thành Đoan Môn.
Tiếp đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân tham quan Phòng trưng bày “Lịch sử Thăng Long – Hà Nội nghìn năm từ lòng đất” và Phòng trưng bày “Báu vật Hoàng cung Thăng Long”, là nơi trưng bày một số hiện vật được công nhận “Bảo vật quốc gia”.
Tại không gian chính điện Kính Thiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân đã nghe giới thiệu ý nghĩa của khu vực này, chính là nơi vua và các quan đại thần luận bàn việc nước, thiết triều, tiếp đón sứ giả nước ngoài và cử hành các nghi lễ quan trọng của triều đình trong 800 năm tại kinh đô Thăng Long.
Trong bầu không khí văn hóa truyền thống, với không gian trà lễ mang tính thanh nhã, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân cùng thưởng trà, trao đổi thân mật, xem chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
Mở màn với tiết mục hát Xoan, loại hình nghệ thuật cổ truyền có nguồn gốc từ vùng Phú Thọ, gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là những vị vua đầu tiên của Việt Nam.
Tiếp đó là tiết mục Nhã nhạc cung đình Việt Nam, là loại hình âm nhạc cung đình được hình thành và phát triển qua nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Nhã nhạc được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2003.
Nhã nhạc mang đến không gian âm nhạc trang trọng, tinh tế, sử dụng trong lễ đăng quang, tế lễ và tiếp sứ thần, thể hiện sự uy nghi của quốc gia. Việc tái hiện không gian lễ nghi trình diễn nhạc cung đình xưa thể hiện chiều sâu văn hóa và truyền thống lễ nhạc của Việt Nam, tạo sự tương đồng với truyền thống âm nhạc cung đình của nhiều quốc gia.
Tiết mục Chầu văn Huế, là hình thức diễn xướng nghi lễ gắn với đời sống tín ngưỡng dân gian, kết hợp hài hòa giữa âm nhạc, lời ca và yếu tố trình diễn, thể hiện sự tôn kính đối với các bậc tiền nhân và ước nguyện về bình an, thịnh vượng.
Màn kết của chương trình nghệ thuật là tiết mục múa Lục cúng hoa đăng, là điệu múa cổ mang tính nghi lễ, thể hiện sự thành kính và ước nguyện quốc thái dân an.
Các động tác múa chậm, trang nghiêm, đội hình cân đối, sử dụng hoa đăng biểu trưng cho ánh sáng trí tuệ và hòa bình. Lục cúng hoa đăng tạo điểm kết trang trọng, gửi thông điệp về hòa bình, hữu nghị và phát triển bền vững, thể hiện vẻ đẹp tinh tế của nghệ thuật truyền thống Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chiều 9.4, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố quyết định về đặc xá năm 2026 của Chủ tịch nước, nhân dịp 51 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài cho biết, năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển tiếp sang một giai đoạn phát triển mới của đất nước, gắn với nhiều sự kiện chính trị có tầm vóc chiến lược.
Trong bối cảnh đó, theo đề nghị của Chính phủ, ngày 7.4 - ngày làm việc đầu tiên của Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký quyết định về đặc xá năm 2026.
Ông Tài cho biết thêm, những năm qua, các đợt đặc xá được triển khai chặt chẽ, đúng quy định, đạt hiệu quả tích cực trên nhiều phương diện cả về chính trị, pháp lý, xã hội và đối ngoại.
Riêng năm 2025, hơn 22.000 phạm nhân được đặc xá tha tù trước thời hạn nhưng vẫn bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đa số người được đặc xá đã nhanh chóng ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, được người dân đồng tình và dư luận quốc tế ghi nhận.
Quyết định đặc xá năm 2026 tiếp tục khẳng định rõ quan điểm nhất quán: bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của pháp luật với chính sách khoan hồng, có điều kiện; việc xem xét đặc xá được thực hiện thận trọng, đúng đối tượng, gắn với yêu cầu giữ vững kỷ cương, trật tự, an toàn xã hội.
Theo quyết định đặc xá năm 2026, người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải đáp ứng đủ nhiều điều kiện.
Trong đó, phải có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Đã chấp hành án phạt tù ít nhất 1/3 thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù...
Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí; đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng...
Người có đủ các điều kiện nêu trên nhưng không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp: bị kết án phạt tù về phản bội Tổ quốc, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gián điệp, xâm phạm an ninh lãnh thổ...

Kết quả về công tác giám sát và phản biện được nêu bật trong dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031. Theo đó, MTTQ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, thực hiện giám sát và phản biện xã hội.
Công tác giám sát, phản biện xã hội được xác định là nhiệm vụ trọng tâm và triển khai đồng bộ trong hệ thống MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Bám sát Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26.10.2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp đã chủ trì, hiệp thương với các tổ chức chính trị - xã hội ban hành kế hoạch giám sát, phản biện xã hội năm 2025 từ sớm, bảo đảm lựa chọn các nội dung, vấn đề giám sát thiết thực, được nhân dân quan tâm.
Trong đó một số tỉnh, thành phố đã tổ chức giám sát hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp sau sắp xếp, giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của chính quyền địa phương cấp xã.
Các tổ chức chính trị - xã hội chủ động, linh hoạt trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội, phát huy tính đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho thành viên, hội viên của tổ chức mình. Ở cấp Trung ương, trong giai đoạn 2024 - 2026, MTTQ Việt Nam chủ trì thực hiện 5 nội dung giám sát; các tổ chức chính trị - xã hội chủ trì thực hiện 12 nội dung giám sát; ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp phối hợp với các cơ quan chức năng đã tổ chức hơn 2.300 cuộc giám sát.
Hoạt động phản biện xã hội được tăng cường, bám sát chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội; chương trình hoạt động của HĐND, UBND các cấp. Tập trung phản biện xã hội các dự án, dự thảo văn bản pháp luật, đề án, chính sách có phạm vi, nội dung điều chỉnh trực tiếp liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đoàn viên, hội viên, việc sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Ủy ban MTTQ Việt Nam cũng đã ban hành kế hoạch, tổ chức phản biện xã hội đối với 7 dự án luật.
Các địa phương đã tổ chức 1.362 hội nghị phản biện, tham vấn ý kiến góp ý vào các quyết sách của địa phương liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Ý kiến phản biện xã hội đa dạng, phong phú, sâu sắc, được cơ quan có thẩm quyền đánh giá cao và được xác định là tài liệu bắt buộc trong các hồ sơ trình ban hành. MTTQ Việt Nam đã tham gia góp ý trên 3.240 đề án, 4.670 chương trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội; nhiều ý kiến đã được tổng hợp, tiếp thu đưa vào báo cáo trình Quốc hội, HĐND các cấp.
Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã nêu cao tính chủ động trong công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; giáo dục liêm chính; tiếp nhận và xử lý các thông tin phản ánh, tố cáo về tham nhũng, tiêu cực; phản ánh, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm giải quyết; theo dõi, giám sát quá trình giải quyết. Cùng đó là giám sát đảng viên, người đứng đầu, cán bộ dân cử, thực hiện trách nhiệm của đảng viên nơi cư trú được xác định là nhiệm vụ trọng tâm và được triển khai thực hiện tại nhiều địa phương.
Công tác tổng hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân được thực hiện thường xuyên, nền nếp, bảo đảm tính khách quan, kịp thời. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã phối hợp với Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội ký ban hành Nghị quyết liên tịch quy định chi tiết việc tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp. Cạnh đó, MTTQ Việt Nam cũng duy trì hiệu quả việc phối hợp tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri và tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân, triển khai việc theo dõi, giám sát thực hiện chương trình hành động của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp.
Đáng chú ý, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt để nhân dân làm chủ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, kịp thời hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã; chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Công tác tiếp dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân được thực hiện theo đúng quy định; tăng cường tiếp công dân trong các kỳ họp Quốc hội, HĐND các cấp, đại hội đảng các cấp. Phối hợp xây dựng Nghị quyết số 99/2025/NQ/UBTVQH15 ngày 26.9.2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn hội thẩm.
Trong các mục tiêu cụ thể của nhiệm kỳ mới, dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031, chỉ rõ hằng năm Ủy ban MTTQ Việt Nam tổ chức đánh giá độc lập bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh, công bố kết quả an sinh cộng đồng, thực hiện "3 công khai - 3 giám sát". Cùng đó, Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp tỉnh cần tổ chức ít nhất 5 chương trình, nội dung giám sát xã hội; phản biện xã hội ít nhất 5 dự thảo văn bản; với cấp xã con số này là 3.
Chương trình hành động MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031 cũng nhấn mạnh cần tập trung thực hiện chất lượng, hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 26.10.2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng chủ động ngay từ khâu xây dựng và triển khai chính sách, đảm bảo tính dân chủ, khách quan, mang tính xây dựng.
Ban hành và triển khai có hiệu quả đề án đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giai đoạn 2026 - 2031. Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp chủ trì hiệp thương, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội lựa chọn các nội dung, chương trình giám sát và phản biện xã hội. Yêu cầu cần bám sát chủ trương, chính sách lớn, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, những vấn đề xã hội quan tâm, bức xúc, nhất là ở địa phương để xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát, phản biện xã hội nhiệm kỳ và hằng năm.
Cạnh đó, cần xác lập cơ chế theo dõi, đôn đốc đến cùng kết quả giải quyết các kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội. Nghiên cứu xây dựng cơ chế để khuyến khích, huy động có hiệu quả các chuyên gia, nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, người có kinh nghiệm thực tiễn, người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo và nhân dân tham gia hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền trong tiếp nhận, xử lý kết quả giám sát, phản biện xã hội.
Để công tác giám sát không trở nên chung chung, dự thảo cũng chỉ rõ cần thực hiện kỷ cương, minh bạch trong quá trình thực thi, thi đua thiết thực, kiểm tra đến cùng việc thực hiện áp dụng công thức "3 dễ - 3 rõ - 3 đo": dễ hiểu - dễ nhớ - dễ làm; rõ mục tiêu - rõ trách nhiệm - rõ thời hạn; đo đầu vào - đo đầu ra - đo tác động.
Tăng cường kiểm tra, giám sát, khen thưởng - kỷ luật nghiêm minh; không bao biện làm thay, không né tránh va chạm, không chạy theo thành tích. Cán bộ Mặt trận và các đoàn thể phải là hạt nhân nòng cốt, giữ "3 gần": gần dân - gần cơ sở - gần không gian số; "5 phải": phải lắng nghe - phải đối thoại - phải làm mẫu - phải chịu trách nhiệm - phải báo cáo kết quả; "4 không": không hình thức - không né tránh - không đùn đẩy - không làm sai chức năng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược tăng cường giữa Philippines và Việt Nam

Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố chung giữa Philippines và Việt Nam:
1. Nhận lời mời của Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr., Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Philippines từ ngày 31.5 đến ngày 1.6.2026.
2. Ngày 1.6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón và hội đàm chính thức với Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. và cùng chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác song phương. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã chủ trì buổi chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Philippines và tham dự diễn đàn doanh nghiệp.
3. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm, diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm triển khai hiệu quả quan hệ Đối tác chiến lược giữa Philippines và Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh tiềm năng hợp tác to lớn và nhất trí nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược hiện nay lên Đối tác chiến lược tăng cường.
4. Trên cơ sở khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường Việt Nam - Philippines, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tình hữu nghị lâu bền và hợp tác chặt chẽ giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và hợp tác quốc tế, đồng thời, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế và thượng tôn các nguyên tắc và nghĩa vụ theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiến chương ASEAN.
5. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ quyết tâm phát huy những thành quả hợp tác về chính trị - an ninh, an toàn và an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển, mở rộng thương mại và đầu tư, hợp tác nông nghiệp, giáo dục, du lịch, giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân... đồng thời bày tỏ mong muốn thúc đẩy kết quả hợp tác thực chất vì lợi ích hai nước và của khu vực. Các cuộc thảo luận giữa hai lãnh đạo đã đặt nền tảng cho khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường năng động, bền chặt và cùng có lợi, vì an ninh, thịnh vượng và ấm no của nhân dân hai nước.
6. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định các cuộc trao đổi cấp cao giữa Philippines và Việt Nam thể hiện tin cậy giữa hai nước và cam kết tăng cường quan hệ song phương, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo khẳng định tiếp tục triển khai các chuyến thăm và tiếp xúc thường xuyên trên tất cả các kênh và các cấp, giao lưu nhân dân và kết nối doanh nghiệp, góp phần duy trì tham vấn về các vấn đề chiến lược của khu vực và toàn cầu, và tăng cường tiềm năng bổ trợ giữa định hướng phát triển của mỗi nước. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ chế hợp tác mới giữa cơ quan lập pháp và chính quyền địa phương hai nước thông qua duy trì thường xuyên trao đổi, tiếp xúc song phương và tại các diễn đàn đa phương, chia sẻ thông tin và các thực tiễn tốt.
7. Hai bên nhất trí phát huy đầy đủ và triển khai thường xuyên các cơ chế đối thoại và hợp tác song phương đã được thể chế hóa ở các cấp, bao gồm Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương (JCBC), Tiểu ban Thương mại Việt Nam - Philippines (JTC), các đối thoại quốc phòng và an ninh và tham vấn về các vấn đề biển và đại dương, nhằm xác định và thúc đẩy các tiềm năng bổ trợ giữa hai nước. Hai nhà lãnh đạo giao Bộ Ngoại giao hai nước phối hợp chặt chẽ xây dựng kế hoạch hành động mới triển khai khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường.
8. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tầm hợp tác kinh tế giữa Philippines và Việt Nam, là hai nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới, góp phần tăng cường năng lực và khả năng tự cường của mỗi quốc gia. Cả hai nhà lãnh đạo bày tỏ mong muốn vượt mục tiêu thương mại song phương 10 tỉ USD theo hướng cân bằng thông qua mở rộng cơ hội thương mại hai chiều, cải thiện tiếp cận thị trường và giảm thiểu các rào cản thương mại và đầu tư.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích tăng cường các trao đổi cấp cao và phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các khu vực công và tư nhân của hai nước, đồng thời hoan nghênh nỗ lực khai phá những lĩnh vực hợp tác mới như khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số/bao trùm về số, quản trị số, các công nghệ mới, năng lượng, đầu tư hai chiều trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế sáng tạo và các sáng kiến kinh tế xanh. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường liên kết và hợp tác kinh tế khu vực trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bao gồm các nỗ lực xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN bao trùm, tự cường và bền vững.
9. Nhận thức rõ vai trò thiết yếu của nông nghiệp đối với sự phát triển và nền kinh tế của mỗi nước, hai nhà lãnh đạo cam kết thúc đẩy hợp tác nông nghiệp chặt chẽ hơn thông qua nghiên cứu và phát triển chung, nâng cao năng lực, trao đổi chuyên gia và thực tiễn tốt, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, và nghiên cứu các lĩnh vực hợp tác tiềm năng trong thương mại và đầu tư, nông nghiệp, đặc biệt về gạo, thủy sản, phát triển kinh tế biển xanh bền vững, nông nghiệp bền vững, nông nghiệp thông minh, quản lý thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp và giải quyết các thách thức liên quan đến lương thực và nông nghiệp, với mục tiêu chuyển đổi các ngành nông nghiệp và thủy sản thành những động lực tăng trưởng mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển nông thôn và tạo động lực cho các cộng đồng dân cư.
Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng lực chế biến thực phẩm và tăng cường chuỗi cung ứng nhằm nâng cao khả năng chống chịu và tính bền vững trước những thách thức toàn cầu. Hai nhà lãnh đạo kêu gọi tăng cường hợp tác song phương để phòng chống các hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) thông qua chia sẻ thông tin, nâng cao năng lực và hợp tác quản lý nghề cá và thực thi pháp luật.
10. Hai nhà lãnh đạo nhận thức rõ vai trò quan trọng của du lịch là một động lực tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hiểu biết văn hóa và kết nối nhân dân; cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác phát triển du lịch thông qua chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy các sáng kiến du lịch bền vững và bao trùm, và tạo thuận lợi cho các hoạt động trao đổi và hợp tác du lịch giữa hai nước.
11. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường các cơ chế hợp tác biển hiện có, bao gồm Ủy ban Hỗn hợp về các vấn đề biển và đại dương cấp Thứ trưởng, Nhóm công tác chung về các vấn đề biển và đại dương (JPWG-MOC), việc thực hiện Bản ghi nhớ về phòng ngừa và quản lý sự cố tại Biển Đông và Bản ghi nhớ về hợp tác biển giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines, đường dây nóng giữa cơ quan cảnh sát biển hai nước.
Hai bên cam kết xử lý các vấn đề trên biển bằng các biện pháp hòa bình, hữu nghị, phù hợp với luật pháp quốc tế. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng hợp tác về nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường, thủy đạc, kết nối hàng hải và bảo tồn các vùng biển quốc tế. Hai nhà lãnh đạo cũng tái khẳng định cam kết bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, sự an toàn, phúc lợi, quyền bình đẳng và nhân phẩm của thuyền viên.
Hai nhà lãnh đạo chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền rà soát và cải thiện các chính sách và cơ chế về thị thực cho thuyền viên để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập cảnh vào mỗi nước, phù hợp với luật pháp trong nước và các khuôn khổ ASEAN liên quan. Hai nhà lãnh đạo cam kết bảo đảm triển khai các cơ chế bảo đảm an toàn và an ninh cho ngư dân hai nước.
12. Hai bên nhấn mạnh hợp tác an ninh và quốc phòng ngày càng vững chắc là một trong những trụ cột chính của khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo nhất trí:
a. Duy trì các cuộc trao đổi cấp cao giữa ngành quốc phòng và an ninh hai nước, tăng cường đối thoại chiến lược và chính sách, chia sẻ thông tin, mở rộng hợp tác giáo dục và đào tạo, tiếp tục thể chế hóa và duy trì các cơ chế đối thoại, giao lưu giữa quân nhân các binh chủng và cơ quan hàng hải, thúc đẩy các hoạt động thăm viếng tàu và các hoạt động chung ứng phó với các vấn đề an ninh trên biển;
b. Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, quân y, hậu cần quân sự, thương mại quốc phòng, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai (HADR), an ninh hàng hải và hàng không, chống khủng bố và gìn giữ hòa bình;
c. Tăng cường trao đổi và hợp tác trong việc thúc đẩy và đề cao luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS).
13. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm lừa đảo trên mạng, các hoạt động lừa đảo trực tuyến, đưa người di cư trái phép và buôn người, đánh bạc bất hợp pháp, các hoạt động tài chính bất hợp pháp, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp và xử lý các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích các cơ quan liên quan hai bên tận dụng chuyên môn và kinh nghiệm của nhau trong các lĩnh vực này và thúc đẩy hợp tác trong đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật trong các khuôn khổ song phương và đa phương. Hai bên cam kết phối hợp chặt chẽ để không cho phép bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này để thực hiện các hoạt động tội phạm chống phá nước kia, phù hợp với luật pháp và quy định của mỗi nước.
14. Hai bên nhất trí triển khai các biện pháp sau nhằm tăng cường hợp tác thực thi pháp luật phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia:
a. Thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin thường xuyên để giải quyết tình trạng di cư trái phép, buôn người và lừa đảo trực tuyến ảnh hưởng đến người dân Philippines và Việt Nam;
b. Thông qua các hoạt động đào tạo và nâng cao năng lực để trao đổi thông tin và thực tiễn tốt về cơ chế phòng chống và kinh nghiệm truy tố tội phạm buôn người của mỗi bên, trong đó có thể tận dụng hợp tác với các cơ quan ASEAN liên quan như AMMTC/SOMTC và ASEANAPOL;
c. Cụ thể hóa cam kết thành các quy trình thông báo, điều tra và truy tố các băng nhóm lừa đảo và buôn người lôi kéo nạn nhân ở cả hai nước;
d. Mở rộng hợp tác về an ninh mạng và đấu tranh chống tội phạm trên không gian mạng.
15. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác pháp lý và tư pháp, đồng thời tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong quá trình đàm phán Hiệp định Dẫn độ, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa hai nước.
16. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các hoạt động giao lưu nhân dân thực chất, là nền tảng vững chắc để củng cố tình hữu nghị bền vững và đoàn kết giữa nhân dân Philippines và Việt Nam, thông qua các tổ chức hữu nghị, nhóm nghị sĩ hữu nghị và hợp tác giữa các chính quyền địa phương. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, thể thao và du lịch; tăng cường kết nối hàng không và hàng hải, góp phần thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa nhân dân hai nước, đặc biệt giữa phụ nữ, thanh niên và giới học giả.
17. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì các chương trình, hoạt động trao đổi và sáng kiến hợp tác trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Văn hóa 2024 - 2029, nhằm thúc đẩy hợp tác và trao đổi trong các lĩnh vực như bản quyền, thư viện, phát triển hồ sơ lưu trữ, văn học, bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng bảo tàng, các ngành công nghiệp sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn và liên ngành, điện ảnh và nội dung nghe nhìn...
18. Hai bên tái khẳng định cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam tại Philippines và người Philippines tại Việt Nam được sinh sống, làm việc và học tập trên cơ sở luật pháp của mỗi nước và thông lệ quốc tế. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác lao động nhằm thúc đẩy phúc lợi và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của lao động di cư Philippines và Việt Nam.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ thúc đẩy các nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN, đặc biệt trong năm Philippines đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2026, thông qua việc triển khai đầy đủ và hiệu quả Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và văn kiện "ASEAN 2045: Tương lai chung của chúng ta". Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN và xây dựng một cộng đồng tự cường và bền vững hơn. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự kết nối giữa các cơ chế hợp tác tiểu vùng, trong đó có Khu vực Tăng trưởng Đông ASEAN Brunei Darussalam - Indonesia - Malaysia - Philippines (BIMP - EAGA) và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 sắp tới tại Hà Nội là diễn đàn đóng góp cho đối thoại và hợp tác khu vực trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Philippines và việc ký kết và thông qua Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về Hợp tác Hàng hải tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu.
20. Hai nhà lãnh đạo nhất trí phối hợp chặt chẽ, tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong các ứng cử tại các tổ chức quốc tế và khu vực và các khuôn khổ đa phương, đặc biệt tại Liên Hiệp Quốc.
21. Hai nhà lãnh đạo trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế. Hai bên tái khẳng định lập trường nhất quán của ASEAN về Biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thúc đẩy tôn trọng đầy đủ các tiến trình pháp lý và ngoại giao, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định lập trường của mỗi nước về phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 về Biển Đông. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc các bên tự kiềm chế trong triển khai các hoạt động có thể làm leo thang căng thẳng và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết bảo đảm thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc, duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho đàm phán và sớm đạt được một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982.
22. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận cuộc trao đổi thực chất, mang định hướng dài hạn giữa hai nước đã tạo đà tích cực cho quan hệ song phương. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chân thành cảm ơn Tổng thống Marcos và nhân dân Philippines về sự tiếp đón nồng hậu và tái khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc tiếp tục củng cố quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường với Philippines. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Việt Nam vào thời điểm thuận tiện cho cả hai bên.
Tin Gốc: Thanh Niên

