Chủ đề của chương trình là: “Thăng Long: Linh khí ngàn năm, chiều sâu văn hiến”, nhằm tôn vinh chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa của Thăng Long – Hà Nội, đồng thời truyền tải thông điệp về sự tiếp nối của truyền thống, sự giao thoa hài hòa giữa quá khứ và hiện tại, cũng như tinh thần hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.
Trong không khí gần gũi và thân tình, thắm tình hữu nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân đã di chuyển tới cổng thành Đoan Môn.
Tiếp đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân tham quan Phòng trưng bày “Lịch sử Thăng Long – Hà Nội nghìn năm từ lòng đất” và Phòng trưng bày “Báu vật Hoàng cung Thăng Long”, là nơi trưng bày một số hiện vật được công nhận “Bảo vật quốc gia”.
Tại không gian chính điện Kính Thiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân đã nghe giới thiệu ý nghĩa của khu vực này, chính là nơi vua và các quan đại thần luận bàn việc nước, thiết triều, tiếp đón sứ giả nước ngoài và cử hành các nghi lễ quan trọng của triều đình trong 800 năm tại kinh đô Thăng Long.
Trong bầu không khí văn hóa truyền thống, với không gian trà lễ mang tính thanh nhã, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân cùng thưởng trà, trao đổi thân mật, xem chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
Mở màn với tiết mục hát Xoan, loại hình nghệ thuật cổ truyền có nguồn gốc từ vùng Phú Thọ, gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là những vị vua đầu tiên của Việt Nam.
Tiếp đó là tiết mục Nhã nhạc cung đình Việt Nam, là loại hình âm nhạc cung đình được hình thành và phát triển qua nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Nhã nhạc được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2003.
Nhã nhạc mang đến không gian âm nhạc trang trọng, tinh tế, sử dụng trong lễ đăng quang, tế lễ và tiếp sứ thần, thể hiện sự uy nghi của quốc gia. Việc tái hiện không gian lễ nghi trình diễn nhạc cung đình xưa thể hiện chiều sâu văn hóa và truyền thống lễ nhạc của Việt Nam, tạo sự tương đồng với truyền thống âm nhạc cung đình của nhiều quốc gia.
Tiết mục Chầu văn Huế, là hình thức diễn xướng nghi lễ gắn với đời sống tín ngưỡng dân gian, kết hợp hài hòa giữa âm nhạc, lời ca và yếu tố trình diễn, thể hiện sự tôn kính đối với các bậc tiền nhân và ước nguyện về bình an, thịnh vượng.
Màn kết của chương trình nghệ thuật là tiết mục múa Lục cúng hoa đăng, là điệu múa cổ mang tính nghi lễ, thể hiện sự thành kính và ước nguyện quốc thái dân an.
Các động tác múa chậm, trang nghiêm, đội hình cân đối, sử dụng hoa đăng biểu trưng cho ánh sáng trí tuệ và hòa bình. Lục cúng hoa đăng tạo điểm kết trang trọng, gửi thông điệp về hòa bình, hữu nghị và phát triển bền vững, thể hiện vẻ đẹp tinh tế của nghệ thuật truyền thống Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trọn cuộc đời, Người đã hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cho độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân.
"Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta". Lời khẳng định ấy là sự đúc kết chân thực về tầm vóc, tư tưởng, di sản và thời đại Hồ Chí Minh.
Lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp Hồ Chí Minh - Người đã tìm ra con đường cứu nước, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đề ra những luận điểm cơ bản về Đảng cầm quyền, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh; cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiến thắng hai thế lực thực dân, đế quốc trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và trực tiếp lãnh đạo công cuộc lập pháp; sáng lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay), tập hợp, quy tụ mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Điều còn mãi với dân tộc hôm nay là sự nghiệp cách mạng vẻ vang, là hệ thống tư tưởng toàn diện, sâu sắc, giàu tính nhân văn và tấm gương đạo đức sáng ngời của Người.
"Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại".
Đó là hệ thống các quan điểm về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về xây dựng Đảng ta "là đạo đức, là văn minh", cán bộ, đảng viên "vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân"; về đạo đức cách mạng, "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", "quét sạch chủ nghĩa cá nhân"; về quyền làm chủ của nhân dân, "lấy dân làm gốc", xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, "ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"; về an ninh quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, "không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước và các dân tộc trên thế giới...
Tất cả được Người luận giải một cách khoa học, biện chứng, sáng tạo trên cơ sở nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin và phù hợp với thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam.
Trong suốt cuộc đời hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, tư tưởng của Người thấm đẫm trong từng lời nói, hành động nhất quán, mẫu mực và sự hy sinh cao cả của một nhân cách vĩ đại.
Người đã luôn thực hành hệ thống các quan điểm lý luận phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam một cách giản dị, gần gũi mà sâu sắc của một trí tuệ uyên bác. Chính sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động ấy đã tạo nên sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong dòng chảy lịch sử.
Từ những ngày đầu thành lập Đảng, những văn kiện đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi đậm dấu ấn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt.
96 năm qua, nhất là trong 40 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thấm nhuần bài học kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định và chỉ đạo thực tiễn, tạo nên những thành tựu to lớn, nổi bật, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất nước.
Từ vị trí trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, đạt tương ứng trên 510 tỷ USD và trên 5.000 USD/người.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021.
Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Việt Nam đã chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế.
Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động", và tư tưởng Hồ Chí Minh "là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi".
Việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được Đảng ta xác định là nội dung quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng, vừa có vai trò nền tảng, vừa có vị trí then chốt; là cơ sở để nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết và lãnh đạo thực hiện để giải quyết hiệu quả những vấn đề thực tiễn đặt ra, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, góp phần xây dựng nền tảng, sức mạnh tinh thần xã hội trong phấn đấu thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.
Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15.5.2016 của Bộ Chính trị khóa XII "Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18.5.2021 của Bộ Chính trị khóa XIII, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã quán triệt, triển khai nghiêm túc, hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Cấp ủy các cấp đã căn cứ tình hình thực tế của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, đưa nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình hành động, nghị quyết, kế hoạch hằng năm gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị, các phong trào thi đua, các cuộc vận động; chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, các khâu đột phá phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề trọng tâm, bức thiết của thực tiễn.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào nội dung kiểm tra, giám sát hằng năm, toàn khóa đối với các cấp ủy, tổ chức đảng.
Công tác tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được chú trọng, với nhiều hình thức đa dạng.
Giải thưởng sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" do Ban Bí thư chỉ đạo, ngày càng đi vào chiều sâu, thu hút sự tham gia tích cực của văn nghệ sĩ, trí thức và các tầng lớp nhân dân.
Mô hình "Không gian văn hóa Hồ Chí Minh" từ sáng kiến của Thành ủy TP.HCM đang được nhân rộng ở nhiều tỉnh, thành phố và từng bước triển khai ở nước ngoài, góp phần đưa những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người đến gần hơn với cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Nhiều cơ quan, đơn vị xóa bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, bổ sung, xây dựng quy chế làm việc và bộ quy tắc ứng xử theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đổi mới tác phong làm việc, chú trọng gần dân, sát dân, lắng nghe và đối thoại với nhân dân.
Việc phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu gắn với thực hiện chuẩn mực đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức, lề lối, tác phong làm việc và kỷ luật, kỷ cương của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Từ những chuyển biến ấy, niềm tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước tiếp tục được củng cố.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực quản trị và sức cạnh tranh quốc gia, việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh càng phải đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn, thực sự là nguồn lực nội sinh cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao nhất tinh thần "tự chủ chiến lược, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc", thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Điều này đòi hỏi cần có chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân, quán triệt và thực hiện học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần hành động "nói ít - làm nhiều - làm đến cùng - làm có kết quả", giữ vững "bốn kiên định", phát huy tự chủ chiến lược, xác lập mô hình phát triển mới, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực quản trị và sức cạnh tranh quốc gia, việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh càng phải đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn.
Kiên định quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, không ngừng bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn.
Đây chính là tinh thần "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" mà Người từng căn dặn. Kiên định là giữ vững cái gốc, cái nền tảng, nhưng không có nghĩa là bảo thủ, rập khuôn, máy móc và giáo điều, mà là giữ vững những giá trị cốt lõi đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn.
Không máy móc trích dẫn câu chữ mà phải nắm bắt cái "thần", cái "tinh túy" trong phương pháp luận của Người. Cần có tổng kết thực tiễn, coi trọng việc đúc kết kinh nghiệm từ các mô hình hay, cách làm sáng tạo trong nhân dân, nâng tầm thành lý luận.
Phải vận dụng sáng tạo tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực, tập trung khơi thông các điểm nghẽn để kiến tạo phát triển, đề cao và phát huy tinh thần không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược, nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, bám sát thực tiễn, đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị quốc gia; chuyển hóa những giá trị đó thành các nguyên tắc dẫn đường, định hướng cho mọi quyết định và việc làm thực tế.
Lấy nguyên tắc "dân làm gốc" để chuyển hóa tư tưởng thành hành động; luôn đặt câu hỏi: "Việc này có lợi cho dân không? Có làm hại đến lợi ích của nhân dân không?" và "Làm thế nào để có lợi cho dân?".
Luôn thực hành "nói đi đôi với làm", "làm cho đến cùng", "làm có kết quả cụ thể", kiên quyết chống tình trạng "tư tưởng một đằng, hành động một nẻo", "làm cho có", "làm nửa chừng".
Phải thấm nhuần sâu sắc, hiểu đúng để tạo bước chuyển căn bản trong hành động, để việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trở thành nhu cầu tự thân, động lực đổi mới sáng tạo, nền tảng của phát triển.
Đồng thời chú trọng thực hành "tự soi, tự sửa" một cách thường xuyên, nghiêm túc và cầu thị trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước.
"Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý", cần "tự soi, tự sửa" từ đường lối, chủ trương, nghị quyết đến hành động thực tế.
Trong kỷ nguyên mới, hội nhập toàn cầu và khát vọng vươn mình của dân tộc, "tự soi, tự sửa" phải được thực hiện, nhìn nhận, đánh giá khách quan, minh bạch, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp, kết quả cụ thể, dữ liệu thời gian thực làm thước đo cao nhất.
Phải hành động quyết liệt và khoa học; kiên quyết sửa đổi tư duy lối mòn, loại bỏ tư duy cũ kỹ, sợ sai để chuyển sang mô hình quản trị hiện đại, gắn với đổi mới sáng tạo, tự đào tạo, nâng cao trình độ, không ngừng học hỏi và tiếp cận các kiến thức mới về quản trị, kinh tế số, xã hội số; hoàn thiện thể chế để người dân tham gia giám sát, phản biện xã hội.
Có thể nói, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp của tinh thần kiên định nhưng luôn sáng tạo; giữ vững nguyên tắc nhưng không giáo điều, máy móc; luôn xuất phát từ thực tiễn và hướng tới hạnh phúc của nhân dân.
Đó chính là giá trị bền vững, nguồn sức mạnh tinh thần to lớn tiếp thêm niềm tin và ý chí cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên hành trình phát triển đất nước.
Tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh sẽ mãi là nền tảng tư tưởng vững chắc, nguồn sức mạnh nội sinh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vững vàng tiến bước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển phồn vinh, văn minh, thịnh vượng và hùng cường.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Chuyện chưa kể về chuyến bay bí mật đưa Hồ Chủ tịch tới Vinh và Đồng Hới

21 giờ ngày 14.6.1957, đồng chí Đặng Đình Ninh - khi đó là quyền Trưởng ban Cơ vụ Không quân nhân dân Việt Nam - lên gặp Cục trưởng Cục Không quân Đặng Tính để nhận nhiệm vụ đặc biệt. Trong bối cảnh lực lượng Không quân của ta còn non trẻ, trang thiết bị thiếu thốn, trước khi giao nhiệm vụ, Cục trưởng Đặng Tính đã hỏi rất kỹ về tình trạng kỹ thuật của cả 6 chiếc máy bay hiện có.
Sau khi nghe quyền Trưởng ban Cơ vụ Đặng Đình Ninh báo cáo, Cục trưởng Đặng Tính cho biết nhiệm vụ được giao là đưa một đồng chí cán bộ cao cấp vào Vinh và Đồng Hới trên chiếc máy bay Li-2 số hiệu 203.
Thời kỳ này, ngành kỹ thuật hàng không Việt Nam hầu như chưa có gì. Mọi nội dung kiểm tra chuyên cơ đều do chuyên gia bạn thực hiện, thợ máy ta quan sát, sau đó cùng tiến hành kiểm tra. Sau khi kiểm tra xong, theo lệnh của Cục trưởng Đặng Tính, tổ thợ máy không được rời khỏi máy bay cho đến khi cất cánh.
Từ chỉ thị đặc biệt này, tổ bay đã đoán được vị "cán bộ cấp cao" chỉ có thể là Bác Hồ. Vinh dự được thực hiện nhiệm vụ có các đồng chí: Đặng Đình Ninh, Địch Thanh, Trần Tê và Nguyễn Thế Tài. Đêm trước ngày bay, cả tổ trải bạt nằm ngay dưới cánh máy bay, lòng hồi hộp, thao thức không sao ngủ được trước vinh dự lớn lao.
Sáng 16.6, chiếc Li-2 cất cánh hướng về Nghệ An. Trên chuyến bay lúc này chỉ có tổ bay và Cục trưởng Đặng Tính, không thấy vị "cán bộ cấp cao" xuất hiện. Mãi đến khi bay qua Phủ Lý, Cục trưởng Đặng Tính mới tiết lộ: Bác Hồ đã vào Vinh từ hôm trước bằng đường bộ; chuyến bay này vào để đón Bác, chờ đến hôm sau thì đưa Người vào Đồng Hới.
Sáng hôm sau, 17.6, tổ bay có mặt từ sớm để chuẩn bị khởi hành bay Đồng Hới. Khoảng hơn 6 giờ, một chiếc com-măng-ca tiến vào sân bay. Trên xe có lái xe và 1 người mặc bộ đồ kaki, đầu đội mũ cát-két. Đoán đó là người lính cận vệ của Bác, cả tổ bay đều hướng ánh mắt về đoàn 6 chiếc xe đang nối đuôi nhau tiến về phía nhà khách sân bay. "Căng mắt" quan sát, anh em tổ bay vẫn không thấy Bác đâu. Hóa ra, người vận bộ đồ kaki kia mới chính là Bác Hồ. Bác đã có mặt trong nhà khách của sân bay từ trước đó.
Nhận ra Bác, các cán bộ chiến sĩ vui mừng khôn xiết, vây quanh vị lãnh tụ kính yêu trong không khí đầm ấm, thân tình. Đến giờ máy bay cất cánh, các nhân viên trong tổ bay đã về đúng vị trí. Đồng chí Đặng Đình Ninh đón Bác ở cửa máy bay. Bác tươi cười hỏi: "Các chú đã chuẩn bị xong rồi chứ?".
"Thưa Bác , xong rồi ạ, mời Bác lên!", đồng chí Ninh lễ phép đáp.
Đi theo Bác có đồng chí Vũ Kỳ, bác sĩ bảo vệ sức khỏe, 1 đồng chí bảo vệ, 1 cần vụ và 2 người quay phim. Bác ngồi ở hàng ghế đầu, phía trước là 1 chiếc bàn nhỏ trên có đặt mấy tờ họa báo. Cục trưởng Đặng Tính ngồi ngay sau Bác.
Trên chuyến bay, khi qua vùng biển Hà Tĩnh, Bác nhìn xuống và đọc những câu thơ trong truyện Kiều: "Buồn trông cửa bể chiều hôm/Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa". Thấy Bác lảy Kiều, Cục trưởng Đặng Tính vội ứng khẩu: "Bác về thăm lại quê nhà /Năm mươi năm trước nay đà đổi thay".
Đến lúc này, tổ công tác mới biết lần thăm quê hương Nam Đàn vừa rồi của Người là sau đúng 50 năm xa cách (Bác xa nhà từ năm 1907). Bất giác, tất cả cùng im lặng và ai cũng bồi hồi thương Bác.
Chuyến bay từ Vinh vào Đồng Hới kéo dài 40 phút. Khi đến đầu thị xã Đồng Hới, Cục trưởng Đặng Tính yêu cầu tổ lái cho máy bay lượn một vòng quanh thị xã để Bác quan sát cảnh quan phía dưới. Chiều hôm đó, Bác dự mít tinh và nói chuyện với cán bộ, nhân dân Quảng Bình ở sân vận động thị xã Đồng Hới. Buổi tối, Bác làm việc với Tỉnh ủy Quảng Bình và gặp mặt các vị lão thành cách mạng của tỉnh.
Theo kế hoạch, tổ cơ vụ chuẩn bị máy bay để 7 giờ sáng 18.6 sẽ đưa Bác về Hà Nội. Thế nhưng, chuyến bay phải đẩy lên lúc 4 giờ 30 để tránh một cơn giông. Đúng giờ, ô tô đưa Bác đến sân bay. Bác không vào nhà khách mà quyết định ngồi ngay xuống bên vạt cỏ gần máy bay đậu để trò chuyện với các phi công và thợ máy.
Bác hỏi tỉ mỉ về công việc, quê quán của từng người và ân cần dặn dò: "Nước ta còn nghèo, kỹ thuật của ta còn kém, các chú phải nhớ cố gắng học tập và làm việc cho tốt để sau này làm chủ những sân bay hiện đại hơn...".
6 giờ 50 ngày 18.6, máy bay hạ cánh an toàn xuống sân bay Gia Lâm. Cả tổ bay ai nấy đều rất hạnh phúc vì đã hoàn thành chuyến chuyên cơ đặc biệt chở Bác Hồ. Hai ngày sau, một vinh dự bất ngờ lại đến: cả đội phi công và tổ cơ vụ được mời sang Phủ Chủ tịch gặp Bác. Người dành gần một giờ đồng hồ để tiếp đón đội bay vừa phục vụ mình. Lúc chia tay Bác, đồng chí Ninh xin phép "chúng cháu về để Bác đi nghỉ ạ!". Bác cười đôn hậu và dí dỏm: "Bác cũng còn phải làm việc chứ, giờ này sao lại nghỉ!".
Ít ngày sau, mỗi thành viên trong tổ công tác đều nhận được món quà quý giá từ Bác là tấm ảnh chụp kỷ niệm cùng Người tại Phủ Chủ tịch.
Những người thợ máy trẻ vinh dự được phục vụ Bác năm nào nay đều đã quá cái tuổi "xưa nay hiếm". Mỗi khi gặp lại nhau, họ vẫn thường ôn lại kỷ niệm về chuyến bay đi Vinh, Đồng Hới ngày ấy với tình cảm rất đặc biệt. Chính sự quan tâm và những lời dạy của Bác là nguồn động viên cổ vũ to lớn đối với tổ bay chuyên cơ và đối với ngành Kỹ thuật hàng không quân sự trong quá trình xây dựng và trưởng thành.
Và đồng chí Đặng Đình Ninh, mãi sau này mới "bật mí" thêm, là khi bay đến Đồng Hới, Bác bỗng nảy ra ý định muốn bay tiếp sâu hơn về phía vĩ tuyến 17 để nhìn thêm mảnh đất miền Nam yêu dấu. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn tuyệt đối chuyến bay theo đúng kế hoạch, Cục trưởng Đặng Tính đã xin phép Bác được quay về Hà Nội. Điều này một lần nữa khẳng định lời Người: "Miền Nam luôn trong trái tim tôi".
(Ghi theo hồi tưởng của đại tá Phạm Cơ, nguyên Trưởng bộ phận Lịch sử, Tổng kết kỹ thuật, hậu cần, Ban Tổng kết Quân chủng Phòng không Không quân - người ghi lại lời kể của Trưởng đoàn bay Đặng Đình Ninh)
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Giảm tiếp xúc trực tiếp người dân với cán bộ, góp phần phòng ngừa tham nhũng vặt

Sáng 13.7, Ban Nội chính Trung ương tổ chức hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 của ngành Nội chính Đảng và hoạt động của ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh.
Tại hội nghị, Trưởng ban Nội chính Trung ương yêu cầu tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ.
Đáng chú ý là yêu cầu, hoàn thiện cơ chế hoạt động, tăng cường phối hợp và kiểm soát quyền lực từ cơ sở, trong đó đặc biệt chú trọng kiểm soát quyền lực, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở cấp xã.
Các ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy cần xây dựng cơ chế phối hợp với đảng ủy cấp xã; tăng cường phối hợp với ủy ban kiểm tra và các cơ quan liên quan để chủ động nắm tình hình, bảo đảm chế độ thông tin, báo cáo, kịp thời phát hiện, xử lý các vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở.
Cạnh đó, Trưởng ban Nội chính Trung ương yêu cầu, tăng cường giám sát thường xuyên ngay từ đầu, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa, không để những vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn; tập trung kiểm tra những lĩnh vực, địa bàn, nội dung tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm kịp thời, công khai, minh bạch, đúng quy định; giải quyết vụ việc ngay từ cơ sở, không để phát sinh điểm nóng, đồng thời khai thác hiệu quả nguồn thông tin phục vụ công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách tư pháp.
Trưởng ban Nội chính Trung ương Lê Minh Trí yêu cầu, tập trung phòng, chống lãng phí, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.
Phòng, chống lãng phí không chỉ đối với tiền, tài sản mà còn phải chú trọng phòng, chống lãng phí thời gian và cơ hội phát triển.
Các cơ quan quản lý nhà nước cần nghiên cứu lượng hóa thành các tiêu chí cụ thể để xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Các ban chỉ đạo cấp tỉnh lựa chọn một số vụ án, vụ việc lãng phí điển hình để tập trung chỉ đạo xử lý, tạo sức răn đe, phòng ngừa.
Các địa phương khẩn trương rà soát việc thực hiện các quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực; lập danh mục, xây dựng phương án xử lý các công trình, dự án dôi dư, chậm tiến độ, kéo dài, gây lãng phí trên địa bàn.
Các ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy phải đi đầu trong chuyển đổi số, chủ động tham mưu cấp ủy thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch, giảm tiếp xúc trực tiếp giữa người dân với cán bộ, công chức, góp phần phòng ngừa tham nhũng vặt.
Đồng thời, Trưởng ban Nội chính Trung ương yêu cầu, thực hiện nghiêm yêu cầu của Nghị quyết số 04-NQ/TW về đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, kịp thời điều động, luân chuyển, bố trí cán bộ phù hợp, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác tham mưu trong tình hình mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

