Hội nghị thượng đỉnh NATO năm 2026 sẽ được tổ chức vào ngày 7 và 8-7 tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ.
Tổng thống Pavel, người từng phục vụ trong lực lượng vũ trang Cộng hòa Czech trong hơn ba thập kỷ, đã tham dự mọi hội nghị thượng đỉnh của NATO kể từ khi trở thành nguyên thủ quốc gia vào tháng 3-2023.
Tuy nhiên theo thông báo đầu tuần này của Chính phủ do Thủ tướng Andrej Babiš đứng đầu, thành phần đoàn chính thức dự Hội nghị thượng đỉnh NATO sắp tới sẽ chỉ có Thủ tướng cùng vài bộ trưởng.
Quyết định đã vấp phải sự phản đối của Tổng thống Pavel, với việc ông đệ đơn lên Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Czech ngày 23-6.
Trong đơn kiện, ông Pavel yêu cầu làm rõ ai có thẩm quyền quyết định chuyện người đứng đầu Nhà nước có được phép tham dự Hội nghị thượng đỉnh NATO hay không. Tòa án dự kiến sẽ xem xét vấn đề này trong phiên họp hôm nay 24-6.
Trong một tuyên bố sau đó, ông Pavel lập luận rằng ông Babiš đang cố gắng “loại trừ” ông khỏi hội nghị thượng đỉnh, nỗ lực “hạn chế vai trò Hiến định” của ông.
Ông Pavel nhấn mạnh những người tiền nhiệm của ông đã tham dự tất cả các hội nghị thượng đỉnh NATO trước đây, và ông đã có mặt tại mọi cuộc họp của liên minh kể từ khi nhậm chức vào năm 2023.
Việc ai sẽ đại diện cho Cộng hòa Czech tại cuộc họp ở Ankara đã chứng kiến tranh cãi suốt nhiều tháng qua. Thủ tướng Babiš tuyên bố rằng người đứng đầu Nhà nước không thể tham gia đoàn chính thức vì “hội nghị lần này sẽ khác với những hội nghị trước đây”.
Năm ngoái, tại hội nghị thượng đỉnh ở Hà Lan, các thành viên NATO đã cam kết chi tiêu ít nhất 5% GDP hằng năm vào quốc phòng cốt lõi và các lĩnh vực liên quan đến quốc phòng, an ninh rộng hơn vào năm 2035.
Phát biểu tại Brussels (Bỉ) tuần trước, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth nói rằng trong khi nhiều quốc gia đã làm theo, một số “vẫn cần phải làm nhiều hơn nữa”. Ông Hegseth đồng thời cảnh báo sẽ nói thẳng về vấn đề này, cả trong trao đổi riêng lẫn công khai.
Theo truyền thông Czech, dự kiến tại cuộc họp NATO sắp tới, Thủ tướng Babiš sẽ phải biện minh cho quyết định cắt giảm chi tiêu quân sự cốt lõi xuống 1,8% GDP, thấp hơn mục tiêu 2% của NATO.
Theo giới quan sát, việc ông Babiš ngăn cản ông Pavel tham dự cuộc họp có thể liên quan đến việc tổng thống phản đối chuyện cắt giảm.
Trong tuyên bố mới nhất, Thủ tướng Babiš cho biết mặc dù ông “tôn trọng” quyết định khởi kiện của tổng thống, nhưng ông “không nghĩ đó là một ý kiến hay”. “Việc các quan chức theo hiến pháp kiện tụng lẫn nhau là không phù hợp”, ông viết trên X.
Tranh chấp này là sự leo thang mới nhất trong mối quan hệ đầy trắc trở giữa hai chính trị gia đã đối đầu nhau trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2023.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Chiều qua (6.4), Reuters dẫn một số nguồn tin tiết lộ Mỹ và Iran đã nhận được dự thảo thỏa thuận ngừng bắn trong 45 ngày và mở cửa trở lại eo biển Hormuz. Dự thảo này được đưa ra bởi Pakistan và cũng đã gửi cho Mỹ lẫn Iran. Tuy nhiên, phản hồi về vấn đề này, Tehran đã bác bỏ việc ngừng bắn ngắn hạn, cho rằng điều này chỉ giúp Mỹ "câu giờ" để chuẩn bị cho các cuộc tấn công khác.
Hãng thông tấn IRNA dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Esmail Baghaei tuyên bố nước này muốn có một thỏa thuận lâu dài là "chấm dứt chiến tranh và ngăn chặn tái diễn chiến tranh". Về đề xuất 15 điểm của Washington, ông Baghaei cho biết Tehran đã đưa ra phản hồi và sẽ công bố "khi cần thiết". Ông nói thêm rằng đừng gắn kết các đàm phán ngoại giao với các tối hậu thư và lời đe dọa bằng các hành động vi phạm tội ác chiến tranh.
Tối hậu thư và lời đe dọa mà người phát ngôn Baghaei đề cập ám chỉ việc Tổng thống Trump mới đây viết trên mạng xã hội rằng Iran phải mở cửa hoàn toàn eo biển Hormuz trước 8 giờ tối thứ ba theo giờ bờ Đông nước Mỹ (tức 7 giờ sáng ngày 8.4 theo giờ VN). Nếu không đáp ứng yêu cầu, Tổng thống Trump đe dọa sẽ tấn công hạ tầng dân sự và nhà máy điện của Iran để nước này phải "sống trong địa ngục". Lời đe dọa này bị các chính trị gia Mỹ chỉ trích là vi phạm tội ác chiến tranh theo luật quốc tế. Trước đây, ông Trump đã từng đưa ra tối hậu thư tương tự nhưng cũng 2 lần gia hạn.
Giữa bối cảnh đó, giá dầu thô tuy có lúc giảm chút ít nhưng vẫn luôn dao động ở mức cao. Đến tối qua, giá dầu Brent ở mức 108,6 USD/thùng, dầu WTI là 110,4 USD/thùng. Không những vậy, Tập đoàn Goldman Sachs đánh giá nguồn cung năng lượng sắp tới còn khó khăn hơn. Cụ thể, hơn 1 tháng qua thì thế giới vẫn còn nguồn dự trữ nhất định, nhưng nếu nguồn cung năng lượng qua eo biển Hormuz vẫn tiếp tục bị đình trệ trong thời gian tới thì tình trạng thiếu hụt toàn cầu sẽ tăng cao, nhất là thiếu hụt cục bộ, do các nguồn dự trữ bị giảm mạnh. Tình trạng thiếu hụt càng căng thẳng hơn với những nước như Hàn Quốc vốn có khoảng 50% nguồn cung đi qua Hormuz.
Do thiếu hụt nguồn cung, giá nhiên liệu máy bay từ cuối tháng 3 đã tăng lên mức 195 USD/thùng, cao gấp đôi so với mức giá hồi cuối tháng 2 trước khi chiến sự Iran bùng nổ. Khi cuộc chiến càng kéo dài, những quốc gia không tự chế biến nhiên liệu máy bay hoặc nguồn cung hạn chế thì tình hình càng khó khăn hơn.
Giám đốc Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cảnh báo tổn thất về nguồn cung dầu trong tháng 4 sẽ trầm trọng gấp đôi tháng 3 nếu tình hình còn tiếp diễn, dẫn đến việc thiếu hụt nhiên liệu máy bay và dầu diesel trên diện rộng. Thực tế tình trạng này đang khiến cho nhiều hãng hàng không phải xem xét giảm tần suất bay. Bloomberg dẫn lời người đại diện Hãng hàng không Lufthansa (Đức) đang xem xét ngừng hoạt động 40 chiếc máy bay. Phát ngôn viên của Scandinavian Airlines thì cho biết từ tháng 3 - 4, hãng này giảm khoảng 1.000 chuyến bay do chi phí nhiên liệu máy bay tăng vọt. Hãng hàng không Mỹ United Airlines dự kiến cắt giảm nhiều chuyến bay trong thời gian tới. Tình trạng này dẫn đến hệ quả tất yếu là chi phí di chuyển tăng cao, gây ảnh hưởng lớn đến ngành du lịch.
Chuyên gia Caitlin Welsh, Giám đốc Chương trình An ninh và thực phẩm toàn cầu - Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), cảnh báo sự gián đoạn thị trường năng lượng và phân bón, do cuộc chiến Iran gây ra, đang đe dọa thị trường nông nghiệp và giá lương thực trên toàn thế giới. Cụ thể hơn, bà Welsh chỉ ra cuộc chiến Iran đang ảnh hưởng hệ thống lương thực thông qua 2 lĩnh vực: giá năng lượng và giá phân bón.
Theo đó, giá năng lượng cao dẫn đến giá thực phẩm cao vì một số lý do. Năng lượng tác động từ máy kéo và hệ thống tưới tiêu đến vận chuyển và làm lạnh trong chuỗi cung ứng thực phẩm. Chi phí năng lượng cao sẽ làm cho giá cả tăng. Hơn nữa, khi giá nhiên liệu hóa thạch tăng dẫn đến nhu cầu chuyển hướng sang các nguồn nhiên liệu thay thế, bao gồm nhiên liệu sinh học. Như thế, nông dân có xu hướng chuyển sang canh tác các loại cây trồng phục vụ cho nhiên liệu sinh học. Bên cạnh đó, giá năng lượng cao làm tăng giá phân bón, bởi khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) là đầu vào quan trọng cho chế biến phân bón dựa trên nitơ. Thực tế, giá LNG kéo theo giá phân bón như amoniac và urê cũng tăng lên. Điều này kết hợp cùng việc giá dầu cao làm tăng chi phí chế biến và vận chuyển, nên mức giá cuối cùng càng cao hơn.
Không những vậy, trước khi cuộc chiến Iran bùng nổ, từ 20 - 30% sản lượng xuất khẩu phân bón toàn cầu đi qua eo biển Hormuz, bao gồm khoảng 23% amoniac, 34% urê, và 20% phốt phát được giao dịch. Eo biển này cũng là nơi lưu thông của khoảng 20% LNG và khoảng 45% xuất khẩu lưu huỳnh toàn cầu. Trong đó, lưu huỳnh là một sản phẩm phụ của quá trình chế biến dầu, được sử dụng để sản xuất phân bón phốt phát. Kết quả, đến cuối tháng 3, giá urê kỳ hạn toàn cầu ở mức 693 USD/tấn, tăng 49% so với giá ngay trước cuộc xung đột.
Những thực tế trên gây ảnh hưởng giá cả thực phẩm toàn cầu. Theo một dự báo, nếu cuộc chiến Iran kéo dài đến sau tháng 6 tới đây, đồng thời giá dầu tiếp tục duy trì ở mức trên 100 USD/thùng trong cùng giai đoạn, thì Chương trình Lương thực thế giới của Liên Hiệp Quốc (WFP) ước tính rằng số người phải đối mặt với nạn đói cấp tính có thể tăng thêm 45 triệu người trên khắp thế giới.
Nguồn: https://thanhnien.vn/the-gioi-thap-thom-cung-eo-bien-hormuz-truoc-gio-g-185260406231900811.htm
Thế Giới
Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka

Ngày 8-5, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên đến Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka. Sự kiện, theo chia sẻ của Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne, có ý nghĩa lịch sử, truyền cảm hứng không chỉ cho Quốc hội và các nghị sĩ Sri Lanka mà còn chứa đựng nhiều chia sẻ về kinh nghiệm quý cho đất nước này.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Quốc hội Sri Lanka.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội, Tiến sĩ Jagath Wickramaratne,
Thưa các vị nghị sĩ Quốc hội Sri Lanka,
Thưa toàn thể quý vị và các bạn,
Hôm nay, tôi rất vinh dự được phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, cơ quan lập pháp tối cao, nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Sri Lanka. Thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi tới Ngài Chủ tịch Quốc hội, các vị nghị sĩ và toàn thể Nhân dân Sri Lanka lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và tình hữu nghị chân thành nhất.
Tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.
Tôi chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của Nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.
Thưa quý vị và các bạn,
Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng xúc động của tình cảm mà Nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.
Đối với Nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của Nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc chúng ta đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21-7-1970, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka đã trải qua hơn nửa thế kỷ vun đắp. Năm ngoái, hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và tham dự Đại lễ Vesak Liên hợp quốc tại TP.HCM.
Những sự kiện đó cho thấy quan hệ hai nước không chỉ được xây dựng bằng văn kiện ngoại giao, mà còn bằng sự hiểu biết, sự tin cậy và tình cảm chân thành giữa Nhân dân hai nước.
Hôm nay, tại Quốc hội Sri Lanka, tôi muốn chia sẻ với quý vị về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua.
Gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Đất nước vừa trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế trì trệ, đời sống Nhân dân thiếu thốn, nguồn lực phát triển rất hạn hẹp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới.
Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Chúng tôi nhận thức rằng để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của Nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy các thành phần kinh tế; bảo đảm vai trò quản lý, định hướng và kiến tạo phát triển của Nhà nước; đồng thời tôn trọng quy luật thị trường, khuyến khích cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Trong nông nghiệp, Việt Nam trao quyền nhiều hơn cho người nông dân, khơi thông năng lực sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, từng bước chuyển từ tình trạng thiếu ăn sang tự chủ lương thực và trở thành một trong những quốc gia có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản.
Trong công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế, thúc đẩy thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Về đối ngoại, Việt Nam kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Từ thực tiễn ấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện qua các con số thống kê về kinh tế, xã hội (từ chỗ thiếu lương thực và nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nằm trong số 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới với quy mô GDP năm 2025 đạt mức 514 tỉ USD, GDP đầu người trên 5.000 USD/năm; là một trong 15 quốc gia có quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới, tham gia trên 20 hiệp định thương mại tự do, kết nối với hơn 60 nền kinh tế quan trọng trên thế giới...).
Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Năng suất lao động cần tiếp tục nâng cao; chất lượng tăng trưởng phải được cải thiện; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và những biến động của thương mại toàn cầu đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những kết quả đã đạt được không làm chúng tôi tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.
Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm mà chúng tôi cho rằng có thể có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển.
Thứ nhất, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh.
Độc lập, tự chủ là nền tảng để mỗi quốc gia bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép kín. Tự chủ là có đủ bản lĩnh, năng lực và niềm tin để hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng có lợi.
Việt Nam luôn coi nội lực là quyết định, nhưng ngoại lực là quan trọng. Nội lực là con người, thể chế, văn hoá, truyền thống, khát vọng và sức sáng tạo của Nhân dân. Ngoại lực là tri thức, thị trường, công nghệ, đầu tư, kinh nghiệm quản trị và hợp tác quốc tế. Sức mạnh của phát triển nằm ở khả năng kết hợp hài hòa giữa hai nguồn lực đó.
Hội nhập quốc tế mở ra cánh cửa rất lớn, nhưng năng lực nội sinh vẫn mang tính quyết định. Thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng không đủ. Phát triển bền vững đòi hỏi phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đang nỗ lực chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ hai, phát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển; đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế.
Phát triển bền vững cần một nền tảng pháp lý ổn định, minh bạch, công bằng và có khả năng thích ứng với thay đổi. Nếu Chính phủ mở đường bằng chính sách, thì Quốc hội bảo đảm con đường ấy được soi sáng bởi pháp luật, trách nhiệm giải trình và ý chí của Nhân dân.
Ở Việt Nam, Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong thể chế hóa đường lối phát triển, ban hành pháp luật, quyết định các vấn đề lớn của đất nước, giám sát hoạt động của Nhà nước và phản ánh nguyện vọng của Nhân dân. Hôm nay phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, tôi càng thấy rõ hơn vai trò của các cơ quan lập pháp trong việc tạo dựng niềm tin, thúc đẩy cải cách và bảo đảm phát triển bao trùm.
Một chính sách đúng có thể tạo ra chuyển biến trong một lĩnh vực. Nhưng một tư duy phát triển đúng có thể mở ra con đường cho cả quốc gia. Đổi mới ở Việt Nam không chỉ là thay đổi một số chính sách kinh tế, mà là thay đổi cách nhìn về phát triển, về vai trò của Nhà nước, thị trường, người dân và doanh nghiệp.
Chúng tôi vừa làm vừa tổng kết, vừa thí điểm vừa nhân rộng, không nóng vội, không cực đoan, nhưng kiên trì đổi mới. Bài học của Việt Nam là phải xuất phát từ thực tiễn đất nước mình, tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời biết học hỏi kinh nghiệm quốc tế một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ ba, lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển.
Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP. Phát triển phải được đo bằng cuộc sống tốt hơn của người dân, bằng cơ hội học tập của trẻ em, bằng việc làm ổn định của người lao động, bằng sự an toàn của cộng đồng và bằng niềm tin của Nhân dân.
Với quan điểm "dân là gốc", Việt Nam luôn gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, phát triển nông thôn và nâng cao chất lượng sống. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể sáng tạo, người tham gia và người làm chủ tiến trình phát triển.
Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi người dân cảm thấy họ là người thụ hưởng, người tham gia và người làm chủ của tiến trình phát triển ấy.
Thứ tư, coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.
Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế. Nông nghiệp còn gắn với an ninh lương thực, sinh kế của hàng triệu người dân, ổn định xã hội, văn hóa cộng đồng và khả năng chống chịu trước khủng hoảng.
Việt Nam bắt đầu nhiều bước đổi mới từ nông nghiệp và nông thôn. Từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi nhận thấy rằng bảo đảm sinh kế của nông dân, phát triển hạ tầng nông thôn, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, chế biến sâu, giảm thất thoát sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu và thích ứng với biến đổi khí hậu là những trụ cột rất quan trọng của phát triển bền vững.
Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho mọi quốc gia.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chúng tôi hiểu rõ khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn.
Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka: làm thế nào để phát triển nhanh hơn nhưng bền vững hơn; hiện đại hơn nhưng bao trùm hơn; hội nhập sâu hơn nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.
Mỗi quốc gia có lịch sử, văn hóa, điều kiện, nguồn lực và lựa chọn phát triển riêng. Điều chúng tôi mong muốn chia sẻ là hành trình mà chúng tôi đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.
Về quan hệ song phương, chúng tôi mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Tôi vui mừng thông báo với Quốc hội và Nhân dân Sri Lanka rằng trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.
Với khuôn khổ quan hệ mới này, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để làm sâu sắc hợp tác chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, giáo dục, văn hoá, du lịch, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và phối hợp đa phương.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số hướng hợp tác lớn.
Thứ nhất, tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện.
Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương.
Đặc biệt, Quốc hội hai nước có thể tăng cường trao đổi kinh nghiệm về lập pháp, giám sát, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động nghị viện, xây dựng pháp luật phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ nhóm yếu thế, thúc đẩy bình đẳng giới và tạo cơ hội cho thanh niên. Việt Nam mong muốn hai Quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.
Thứ hai, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Sri Lanka còn nhiều dư địa. Hai nước có thị trường, sản phẩm, vị trí địa lý và năng lực bổ trợ cho nhau. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Hai bên đã thống nhất mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 1 tỉ USD trong tương lai gần; đồng thời khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại.
Mục tiêu 1 tỉ USD không chỉ là một con số. Đó là biểu tượng cho niềm tin mới, động lực mới và không gian hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Tôi đề nghị các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hóa các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Các lĩnh vực có thể ưu tiên gồm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản xuất, năng lượng tái tạo, linh kiện điện tử và ô tô, dược phẩm, bệnh viện, viễn thông, logistics, hạ tầng, du lịch, dịch vụ và công nghệ thông tin. Đây là những lĩnh vực mà Sri Lanka đã bày tỏ quan tâm thu hút đầu tư và hợp tác với Việt Nam.
Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn.
Nông nghiệp là lĩnh vực rất gần gũi với cả hai quốc gia. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Sri Lanka như tinh thần Tuyên bố chung năm 2025. Tôi tin rằng hợp tác nông nghiệp giữa hai nước không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho người dân nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bao trùm.
Thứ tư, phát triển các động lực hợp tác mới: kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh.
Sri Lanka có vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, là điểm kết nối quan trọng của các tuyến hàng hải quốc tế. Việt Nam là quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Hai nước có thể hợp tác trong logistics, cảng biển, vận tải, thương mại hàng hải, bảo vệ môi trường biển, ứng phó thiên tai và phát triển kinh tế biển xanh.
Hai bên cũng có thể đẩy mạnh hợp tác trong chuyển đổi số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, chính phủ số, dịch vụ công số, giáo dục số, y tế số, năng lượng tái tạo và tài chính xanh. Hai nước đã cam kết hợp tác trong khai thác các công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và chuyển đổi số, phục vụ phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Trí tuệ, công nghệ, sáng tạo và dữ liệu có thể trở thành những cây cầu mới nối liền Việt Nam và Sri Lanka.
Thứ năm, tăng cường giáo dục, văn hoá, du lịch và giao lưu Nhân dân.
Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thật sự bền chặt khi được nuôi dưỡng không chỉ bằng thỏa thuận và văn kiện, mà bằng sự hiểu biết, giao lưu và tình cảm của người dân hai nước.
Việt Nam và Sri Lanka có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, du lịch Phật giáo, du lịch di sản, du lịch biển và du lịch sinh thái. Hai bên đã nhất trí tầm quan trọng của kết nối hàng không và khuyến khích các hãng hàng không sớm mở đường bay trực tiếp; đồng thời thúc đẩy các biện pháp tạo thuận lợi cho du lịch, kinh doanh và giao lưu Nhân dân.
Hai nước cũng cần tăng cường trao đổi sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, doanh nghiệp trẻ; mở rộng học bổng; thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu; tổ chức các tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Sri Lanka và Sri Lanka tại Việt Nam. Việt Nam trân trọng việc Sri Lanka sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về khảo cổ học, bảo tồn di sản văn hóa; đồng thời Việt Nam cũng mong muốn tăng cường hợp tác trong nghiên cứu Phật giáo, văn hóa và lịch sử giữa hai nước.
Tôi cũng mong Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam tại Sri Lanka ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại và đóng góp tích cực cho quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.
Thứ sáu, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Trong một thế giới đầy biến động, các quốc gia đang phát triển cần tăng cường đoàn kết, hợp tác và tiếng nói chung. Việt Nam và Sri Lanka cùng coi trọng chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, vai trò của Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết và các cơ chế hợp tác khu vực.
Hai nước cần tiếp tục phối hợp trong các vấn đề cùng quan tâm như hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải; chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, tội phạm mạng, nhập cư bất hợp pháp; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; ứng phó biến đổi khí hậu; thúc đẩy tài chính khí hậu cho các quốc gia đang phát triển; và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. Tuyên bố chung năm 2025 cũng khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Việt Nam hoan nghênh định hướng của Sri Lanka tăng cường hợp tác với Đông Nam Á và ASEAN. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để Sri Lanka mở rộng hợp tác với ASEAN; đồng thời mong muốn Sri Lanka tiếp tục là cầu nối để Việt Nam tăng cường quan hệ với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Các quốc gia vừa và nhỏ không tìm kiếm sức mạnh bằng đối đầu. Chúng ta tìm kiếm sức mạnh bằng đoàn kết, bằng luật pháp quốc tế, bằng năng lực tự cường, bằng chất lượng quản trị, bằng niềm tin của Nhân dân và bằng sự tin cậy giữa các dân tộc.
Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, bởi chúng tôi đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập, bởi chúng tôi đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển, bởi chúng tôi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của Nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Sri Lanka.
Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước.
Tôi tin tưởng rằng với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội,
Thưa các vị nghị sĩ,
Từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, chúng ta có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, Nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.
Chúc Quốc hội Sri Lanka tiếp tục là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và khát vọng của Nhân dân Sri Lanka.
Chúc Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và thịnh vượng.
Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Sri Lanka không ngừng phát triển, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới.
Trân trọng cảm ơn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Truyền thông đưa tin, ngày 13/5, Thượng viện đã bỏ phiếu với tỷ lệ 50-49 để không thông qua nghị quyết về quyền hạn chiến tranh của Tổng thống, hay bác bỏ dự thảo nghị quyết về chấm dứt xung đột với Iran.
Đây là lần thứ bảy trong năm nay các nghị sĩ Cộng hòa tại Thượng viện chặn đứng các dự thảo nghị quyết tương tự.
Các nghị sĩ Cộng hòa gồm Rand Paul của bang Kentucky, Susan Collins của bang Maine và Lisa Murkowski của bang Alaska đã bỏ phiếu thuận để tiếp tục thúc đẩy dự luật, trong khi nghị sĩ Dân chủ John Fetterman của bang Pennsylvania đã bỏ phiếu cùng phía Cộng hòa để ngăn chặn.
Cuộc bỏ phiếu này là lần đầu tiên tại Thượng viện kể từ khi cuộc xung đột Iran chạm mốc thời hạn 60 ngày vào ngày 1/5 để buộc Tổng thống Mỹ Donald Trump phải trình quốc hội về cuộc chiến. Khi đó, ông Trump tuyên bố rằng một lệnh ngừng bắn đã chấm dứt các hành động thù địch chống lại Iran.
Theo luật về quyền hạn chiến tranh năm 1973 của Mỹ, một tổng thống Mỹ chỉ có thể tiến hành hành động quân sự trong 60 ngày trước khi phải chấm dứt nó, đề nghị quốc hội cấp phép hoặc tìm kiếm sự gia hạn thêm 30 ngày vì "nhu cầu quân sự không thể tránh khỏi liên quan đến sự an toàn của lực lượng vũ trang Mỹ" trong khi rút quân.
Phía Dân chủ đã bác bỏ khẳng định của ông Trump về việc thời hạn trên không áp dụng do có lệnh ngừng bắn, nói rằng cuộc xung đột vẫn đang tiếp diễn.
"Không hề có sự đình chỉ các hành động thù địch. Hai bên vẫn đang tham gia vào các hành động thù địch, và vì vậy tôi không chấp nhận lập luận hành động thù địch đã bị đình chỉ", ông Merkley nói với các phóng viên trước cuộc bỏ phiếu, dẫn chứng việc Mỹ phong tỏa các cảng và tấn công các tàu Iran, cũng như việc Iran phong tỏa eo biển Hormuz và tấn công các tàu chiến và tàu dầu của Mỹ.
Ông Merkley và các nghị sĩ Dân chủ khác tại Thượng viện cho biết họ dự định sẽ đưa ra một dự thảo nghị quyết quyền hạn chiến tranh khác vào tuần tới, và mỗi tuần cho đến khi cuộc chiến kết thúc hoặc ông Trump phải tìm đến các nhà lập pháp để xin cấp phép.
Các nghị sĩ Dân chủ tại Hạ viện cũng đã giới thiệu các nghị quyết về quyền hạn chiến tranh, nhưng cũng bị đảng Cộng hòa ngăn chặn.
Đảng Dân chủ đã kêu gọi ông Trump trình quốc hội để xin phép sử dụng lực lượng quân sự, lưu ý Mỹ quy định rằng quốc hội, chứ không phải tổng thống, mới có quyền tuyên chiến. Họ cảnh báo, Mỹ có thể bị kéo vào một cuộc xung đột kéo dài mà không đưa ra một chiến lược rõ ràng.
Trong khi đó, các nghị sĩ Cộng hòa khẳng định các hành động của ông Trump là hợp pháp và nằm trong quyền hạn của ông với tư cách là tổng tư lệnh để bảo vệ Mỹ bằng cách ra lệnh cho các hoạt động quân sự có giới hạn.
Một số nghị sĩ Cộng hòa tại quốc hội đã cáo buộc đảng Dân chủ đệ trình các nghị quyết về quyền hạn chiến tranh chỉ vì sự phản đối mang tính đảng phái đối với ông Trump.
Cuộc xung đột giữa Mỹ và Iran nổ ra từ cuối tháng 2 sau khi Mỹ và Israel phối hợp không kích Iran. Lầu Năm Góc hôm 12/5 cho biết, cuộc chiến đến nay đã tiêu tốn khoảng 29 tỷ USD. Phía Iran nói rằng Mỹ có thể đã mất 39 máy bay quân sự trong 40 ngày giao tranh.
Tin Gốc: Dân Trí

