Iran đang đối mặt với một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội tồi tệ nhất thập kỷ khi tăng trưởng GDP gần như bằng 0, lạm phát tăng vọt và bất ổn địa chính trị – xã hội leo thang. Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hồi tháng 1, GDP thực của Iran chỉ tăng 0,3% năm 2025, giảm mạnh so với các năm trước đó (3,7% năm 2024 và 5,3% năm 2023).
Trước khi chiến sự xảy ra, lạm phát tại Iran đã lên tới gần 50% trong tháng 2, theo số liệu của cơ quan thống kê nước này. Sau hơn 5 tuần xung đột, các vấn đề kinh tế chỉ càng thêm trầm trọng. Ngoài nỗi sợ bị tấn công mỗi ngày, tác động dễ thấy nhất của chiến sự là một vòng xoáy tăng giá mới, từ nhu yếu phẩm như thực phẩm, đồ uống, thuốc men, tã lót đến bữa trưa tại các nhà hàng sang trọng trong thành phố.
Ở ngoại ô thủ đô Tehran, Amir (40 tuổi) cho biết trên AFP rằng giá loại bánh mỳ anh thường mua đã đột ngột tăng từ 700.000 rial lên 1 triệu rial (khoảng 0,75 USD). Một người bạn của anh cũng phải trả 180 triệu rial cho một viên thuốc chữa ung thư, vốn chỉ có giá 3 triệu rial trước xung đột. “Mà anh ấy phải mua 20 viên mỗi ngày”, Amir nói.
Kaveh – một họa sĩ tại Tehran – cho biết quán cà phê nổi tiếng Dobar ở trung tâm Tehran “đã tăng giá 25% với tất cả món chỉ trong một ngày”. Ngay cả ở vùng tây bắc Iran – nơi thường có nguồn hàng nhập khẩu dồi dào từ Thổ Nhĩ Kỳ, “một số sản phẩm đã tăng giá gấp 3 bình thường”, một phụ nữ 50 tuổi cho biết trên AFP.
Nhận thấy lạm phát tăng nhanh, Ngân hàng Trung ương Iran giữa tháng trước đã phát hành tờ tiền 10 triệu rial – mệnh giá cao nhất đang lưu hành. Trước đó một tháng, cơ quan này đã ra mắt tờ 5 triệu rial – cũng là kỷ lục khi đó, phản ánh sự mất giá mạnh của nội tệ kể từ sau cuộc xung đột tháng 6 năm ngoái với Mỹ và Israel.
Khi giá cả tăng gây thêm áp lực lên ngân sách hộ gia đình, nhiều người cũng rơi vào cảnh thất nghiệp. Chiến sự khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, đẩy người lao động vào tình trạng bấp bênh và không biết có được trả lương hay không.
Chợ trên khắp cả nước rút ngắn thời gian mở cửa, các công ty xây dựng cũng sa thải hàng loạt lao động. Nhiều người trong số đó là lao động nhập cư từ Afghanistan. “Khi chiến sự bắt đầu, cơ hội việc làm trở nên hiếm hoi và mọi người ngừng xây dựng”, Faizullah Arab – một thợ sơn 23 tuổi cho biết khi trở về Afghanistan cuối tuần trước.
“Các chủ doanh nghiệp đã ra nước ngoài, nên việc kinh doanh cũng dừng lại”, Walijan Akbari, một lao động 42 tuổi, nói thêm.
Những người phụ thuộc vào Internet hoặc thương mại điện tử cũng gặp khó khăn trong hơn 5 tuần qua, khi chỉ còn mạng nội địa hạn chế của Iran hoạt động. “Tôi thực sự rất lo lắng về tương lai của chúng tôi, đặc biệt là về kinh tế. Sa thải hàng loạt, đóng cửa trên diện rộng… mọi thứ đều quá sức chịu đựng”, một phụ nữ 35 tuổi làm việc trong lĩnh vực tài chính tại Isfahan cho biết.
Các cuộc không kích nhằm vào ngành thép của Iran – lĩnh vực quan trọng với nhiều ngành công nghiệp – cùng các cơ sở hóa dầu, cầu đường, nhiều khả năng sẽ để lại tác động dài hạn lên nền kinh tế. Adnan Mazarei, cựu quan chức cấp cao của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về Trung Đông, nhận định hệ thống ngân hàng sau chiến sự cũng là một vấn đề đáng lo ngại..
“Trước khi xung đột nổ ra, các ngân hàng đã ở trong tình trạng khó khăn, dễ tổn thương, với bảng cân đối kế toán yếu”, ông nói. Mazarei cho rằng lĩnh vực này sẽ chịu thêm cú sốc do người tiêu dùng và doanh nghiệp không thể trả nợ.
Việc rút tiền tại các ATM trong thời gian chiến sự đã bị hạn chế, nhằm ngăn rút tiền hàng loạt. Tuy nhiên, thẻ và dịch vụ ngân hàng trực tuyến nhìn chung vẫn hoạt động trong phần lớn thời gian xung đột.
Vụ sụp đổ gần đây nhất là Ayandeh Bank, một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất nước này. Ayandeh sụp đổ cuối năm ngoái do nợ xấu và thua lỗ 5,2 tỷ USD.
Mazarei cho rằng Iran có thể cần tung thêm các gói giải cứu, buộc ngân hàng trung ương phải in thêm tiền. “Tất nhiên, điều này sẽ làm tăng cung tiền và tiếp tục đẩy lạm phát lên cao hơn”, ông cảnh báo.
Ngân hàng Kỷ Nguyên Thịnh Vượng (GPBank) vừa trở thành ngân hàng thứ 33 công bố giảm lãi suất huy động trong tháng 4 với mức giảm 0,3%/năm ở các kỳ hạn, kể cả kỳ hạn dưới 6 tháng.
Hiện lãi suất kỳ hạn 1-2 tháng theo phương thức tiết kiệm trực tuyến lĩnh lãi cuối kỳ chỉ còn 3,6%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng còn 3,7%/năm.
Lãi suất huy động trực tuyến kỳ hạn 6-8 tháng là 5,25%/năm, trong khi kỳ hạn 9 tháng giảm xuống 5,35%/năm.
Mức lãi suất cao nhất được ngân hàng này áp dụng cho tiền gửi kỳ hạn 12-36 tháng.
Với khách hàng gửi tiết kiệm tại quầy có số dư tiền gửi từ 1 tỉ đồng trở lên mức lãi suất là 5,05%/năm với kỳ hạn 6-8 tháng, 5,15%/năm kỳ hạn 9 tháng, 5,35%/năm kỳ hạn 12-13 tháng, lãnh lãi cuối kỳ.
Theo ghi nhận, nếu như ở thời điểm cuối tháng 3 lãi suất huy động tăng từng ngày thì trong tháng 4 tình hình đã thay đổi khi hầu hết các ngân hàng đều công bố giảm lãi suất huy động. Trong đó, SeABank, Agribank, VPBank đã giảm lãi suất hai lần trong vòng 1 tháng.
Lãi suất huy động giảm chủ yếu ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, với mức giảm phổ biến từ 0,2 - 0,5%/năm.
Trong đó ngân hàng giảm lãi suất mạnh nhất ở kỳ hạn 6 tháng là BIDV, VCBNeo, VPBank, Vikki Bank, Techcombank, PVcomBank, HDBank với mức giảm cao nhất lên đến 0,8%/năm.
Với lãi suất tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 12 tháng, BIDV và VCBNeo cũng là những ngân hàng dẫn đầu về mức giảm lãi suất, mức giảm lần lượt 0,9%/năm và 0,7%/năm so với tháng trước.
Dù giảm mạnh trong tháng 4, mặt bằng lãi suất huy động hiện nay nhìn chung vẫn cao hơn thời điểm cuối năm 2025, do nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất khá mạnh trong quý 1.
Tại họp báo công bố kết quả hoạt động ngân hàng quý 1 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức vừa qua, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) - cho biết việc giảm lãi suất huy động giúp các ngân hàng hạ chi phí vốn, từ đó tạo điều kiện tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số.
"Ngân hàng Nhà nước kiên định điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng. Trên cơ sở đó, tiếp tục tạo điều kiện để giảm mặt bằng lãi suất cho vay", ông Quang nhấn mạnh.
Trong khi đó báo cáo triển vọng kinh tế quý 2-2026 của Công ty CP Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) kỳ vọng xu hướng hạ nhiệt lãi suất sẽ rõ ràng hơn, với mức giảm bình quân khoảng 0,5 - 1%/năm so với thời điểm hiện tại nhờ nguồn vốn dồi dào từ dòng vốn đầu tư công giải ngân mạnh mẽ chạy vào hệ thống ngân hàng, tình hình xung đột tại Iran hạ nhiệt, giải tỏa áp lực lạm phát, tỉ giá…
Qua đó giúp Ngân hàng Nhà nước có dư địa chính sách hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng.
Ngoài ra, nhiều chính sách mới sẽ được đưa ra vào nửa cuối năm từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nhằm nỗ lực đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, trong đó bao gồm hạ nhiệt mặt bằng lãi suất.
Ngày 4/5, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về hợp đồng mua bán giảm phát thải với Tổ chức tăng cường tài chính lâm nghiệp (Emergent) và xây dựng nghị định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng.
Hợp đồng trên được Bộ Nông nghiệp và Môi trường ký Ý định thư với Emergent, cơ quan điều hành Liên minh Giảm phát thải thông qua tăng cường tài chính rừng (LEAF), bốn năm trước, tại Hội nghị khí hậu COP26.
Theo đó, Việt Nam dự kiến chuyển nhượng cho tổ chức này 5,15 triệu tín chỉ carbon rừng vùng Tây Nguyên và Nam Trung Bộ giai đoạn 2021-2025, thông qua Hợp đồng mua bán giảm phát thải (ERPA). Giá tối thiểu ở mức 10 USD mỗi tín chỉ.
Sau khi bán, toàn bộ tín chỉ này sẽ được giữ lại để tính vào đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. NDC là cam kết giảm thải của từng quốc gia, được đệ trình lên Liên Hợp Quốc 5 năm một lần.
Hợp đồng ERPA nhằm hỗ trợ các nước huy động nguồn tài chính quốc tế, qua đó thực hiện hoạt động giảm phát thải từ rừng như hạn chế mất, suy thoái rừng, bảo tồn, nâng cao trữ lượng carbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng (REDD+)...
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam đã hoàn thành các điều kiện kỹ thuật và thể chế để sẵn sàng tiếp cận nguồn chi trả. Bộ dự kiến đàm phán, ký kết và triển khai hợp đồng này sau khi nhận được chủ trương từ Thủ tướng hoặc Nghị định carbon rừng được ban hành.
Phó thủ tướng nêu rõ thẩm quyền đàm phán, ký kết thuộc về Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Sau khi Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng được ban hành, Bộ này cần đàm phán ngay trong tháng 6.
Liên quan đến dự thảo Nghị định trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ điều chỉnh theo hướng phân cấp thủ tục hành chính "cấp tín chỉ carbon rừng" cho địa phương. Bộ dự kiến hoàn thành thẩm định, cấp tín chỉ carbon rừng giai đoạn 2021-2022 vào quý này, đồng thời trình đề nghị cấp tín chỉ giai đoạn 2023-2025 trong quý III.
Phó thủ tướng nhấn mạnh tính cấp bách của việc ban hành nghị định này để tạo khung pháp lý đầy đủ, thống nhất cho các địa phương, chủ rừng triển khai hoạt động bán tín chỉ carbon rừng. Lãnh đạo chính phủ cơ bản thống nhất đề xuất của Bộ về nội dung phân cấp, phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng về cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền cho các địa phương. Tuy nhiên, Bộ cần thiết lập một cơ chế giám sát kiểm tra, để bảo đảm thị trường carbon hoạt động minh bạch, hiệu quả.
Tính đến nay Việt Nam đã tham gia khoảng 20 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 16 FTA đã được thực thi trong thời gian dài.
Các FTA thế hệ mới như CPTPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) hay EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu) mở ra cơ hội lớn khi nhiều thị trường áp thuế nhập khẩu gạo ở mức 0% hoặc rất thấp.
Tuy nhiên thực tế cho thấy xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống trong khu vực như Philippines và Indonesia - những quốc gia áp thuế nhập khẩu khá cao - lần lượt khoảng 35% và 25%.
Đáng chú ý trong khuôn khổ RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực), Philippines không tự do hóa ngành gạo, còn Indonesia vẫn duy trì mức thuế cao. Dù vậy hai thị trường này có thời điểm chiếm tới 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Trong khi đó các thị trường thuộc CPTPP như Canada áp thuế 0% đối với gạo Việt Nam, Mexico áp 10% với gạo và 0% đối với sản phẩm từ gạo. Đặc biệt theo EVFTA, Liên minh châu Âu dành hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm được miễn thuế, nhưng Việt Nam vẫn chưa tận dụng hết cơ hội này.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên thị trường dễ tiếp cận như Philippines, Indonesia do khoảng cách địa lý gần, thủ tục đơn giản. Tuy nhiên, theo các chuyên gia và doanh nghiệp, nguyên nhân không chỉ dừng lại ở việc "chọn dễ".
Ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ) - cho rằng doanh nghiệp không phải không muốn vào các thị trường FTA, mà chủ yếu do thiếu đơn hàng và gặp nhiều rào cản kỹ thuật.
Theo ông Bình, các thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản yêu cầu quy trình sản xuất chặt chẽ, truy xuất nguồn gốc rõ ràng và chất lượng ổn định. Trong khi đó phần lớn doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này, nên thường lựa chọn thị trường truyền thống có điều kiện nhập khẩu dễ hơn.
"Bên cạnh đó ngành lúa gạo Việt Nam vẫn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất phân tán, thiếu liên kết chuỗi. Việc đầu tư cho thương hiệu, công nghệ chế biến và tiêu chuẩn chất lượng còn hạn chế, khiến khả năng tiếp cận các thị trường cao cấp chưa tương xứng với tiềm năng", một doanh nghiệp ngành lúa gạo thừa nhận.
Dù dễ tiếp cận, các thị trường truyền thống lại tiềm ẩn nhiều rủi ro về giá. Theo ghi nhận, đã có thời điểm doanh nghiệp Việt Nam phải chịu lỗ khi xuất khẩu gạo sang Philippines do biến động thị trường.
Lãnh đạo một doanh nghiệp xuất khẩu gạo thừa nhận nhu cầu từ Philippines và Indonesia là "nhu cầu thực", giúp doanh nghiệp dễ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên việc lựa chọn thị trường này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận biên lợi nhuận thấp, thậm chí rủi ro thua lỗ, trong khi áp lực về giá thường chuyển sang người nông dân.
"Ngoài ra chi phí logistics, giá xăng dầu và vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến hiệu quả xuất khẩu. Những yếu tố này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sang các thị trường đòi hỏi đầu tư lớn về tiêu chuẩn và quy trình sản xuất", vị này nói.
Một lãnh đạo Tập đoàn Tân Long cũng cho biết hoạt động xuất khẩu gạo vẫn diễn ra bình thường, không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thuế nhập khẩu tại các thị trường. Theo vị này, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện FOB (giao hàng lên tàu), nên trách nhiệm về thuế và thủ tục nhập khẩu thuộc về đối tác nước ngoài. Do đó doanh nghiệp không trực tiếp nắm rõ mức thuế tại từng thị trường, mà chủ yếu sản xuất và bán hàng theo nhu cầu của khách hàng.
"Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay vẫn mang tính "theo đơn hàng", phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường, thay vì chủ động định hướng chiến lược khai thác các thị trường FTA", vị này thừa nhận.
Các chuyên gia cho rằng để tận dụng hiệu quả các FTA, ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển đổi mạnh sang sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp cần đầu tư bài bản vào chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong việc khai thác các ưu đãi từ FTA trong bối cảnh nhu cầu gạo thế giới vẫn ở mức cao, cơ hội mở rộng thị trường vẫn còn lớn. "Nếu không thay đổi cách tiếp cận, ngành gạo Việt Nam có thể tiếp tục phụ thuộc vào các thị trường "dễ tính", với giá trị gia tăng thấp và rủi ro cao", một chuyên gia khuyến cáo.