Giá vàng trong nước tiếp tục điều chỉnh. Chốt phiên 3/6, giá vàng miếng SJC giảm 500.000 đồng/lượng mỗi chiều, hiện niêm yết lần lượt ở mức 154-157 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).
Tương tự, các thương hiệu lớn niêm yết giá vàng nhẫn ở ngưỡng 154-157 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 500.000 đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra.
Chênh lệch mua vào – bán ra vàng neo cao quanh mức 3 triệu đồng/lượng, tiềm ẩn nguy cơ thua lỗ đối với nhà đầu tư.
Trên thế giới, vàng giao ngay cũng giảm 0,94% về mức 4.448 USD/ounce. Giá vàng thế giới quy đổi theo tỷ giá hiện hành (chưa bao gồm thuế, phí) đang ở mức 142 triệu đồng/lượng. Như vậy, vàng trong nước đang cao hơn khoảng 15 triệu đồng/lượng so với vàng thế giới, khoảng cách này thu hẹp đáng kể so với trước đó (có thời điểm lên đến 21-22 triệu đồng mỗi lượng).
Giá vàng thế giới đang giằng co trong biên độ hẹp khi thị trường cùng lúc chịu tác động từ nhiều yếu tố trái chiều. Đồng USD mạnh lên và giá dầu thô tăng tiếp tục tạo áp lực lên kim loại quý, trong khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ hạ nhiệt phần nào hỗ trợ giá vàng.
Dữ liệu mới công bố tại Mỹ cho thấy số vị trí việc làm còn trống trong tháng 4 tăng lên 7,6 triệu, cao hơn mức 6,9 triệu của tháng trước và vượt dự báo của thị trường, thể hiện nhu cầu lao động tại Mỹ chưa suy yếu rõ rệt.
Tuy nhiên, số người nghỉ việc và hoạt động tuyển dụng đều giảm, phản ánh tâm lý thận trọng hơn từ cả người lao động lẫn doanh nghiệp trước báo cáo việc làm tháng 5 dự kiến công bố vào cuối tuần.
Một yếu tố khác tiếp tục chi phối thị trường là căng thẳng quanh eo biển Hormuz. Việc đàm phán giữa Mỹ và Iran liên quan đến hoạt động lưu thông qua khu vực này chưa có kết quả rõ ràng khiến giá dầu duy trì ở mức cao.
Về kỹ thuật, vùng 4.500-4.526 USD/ounce đang được xem là ngưỡng kháng cự quan trọng của giá vàng. Nếu vượt qua vùng này, giá vàng có thể hướng đến các mốc cao hơn quanh 4.550 USD/ounce, sau đó là 4.576 USD/ounce.
Ngược lại, nếu đánh mất vùng hỗ trợ gần 4.462 USD/ounce, giá vàng có thể chịu áp lực điều chỉnh sâu hơn về khu vực 4.418 USD/ounce, thậm chí 4.400 USD/ounce.
Trong ngắn hạn, giá vàng được dự báo tiếp tục biến động mạnh theo diễn biến của đồng USD, giá dầu, lợi suất trái phiếu Mỹ và các thông tin mới liên quan đến thị trường lao động Mỹ. Về dài hạn, giá vàng vẫn tích cực nhờ nhu cầu mua ròng từ ngân hàng trung ương và người mua cá nhân.
Đồng USD duy trì đà tăng trước những diễn biến căng thẳng mới tại khu vực Vùng Vịnh. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,32%, hiện ở mức 99,54.
Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với USD tăng 4 đồng, hiện ở mức 25.145 đồng.
Kết phiên giao dịch ngày 21/4, VN-Index giảm 3,63 điểm, xuống còn 1.833,48 điểm. Thanh khoản trên sàn HoSE đạt 24.947 tỷ đồng, toàn sàn ghi nhận 227 mã giảm giá, áp đảo so với 99 mã tăng, phản ánh áp lực điều chỉnh chiếm ưu thế.
Diễn biến thị trường cho thấy xu hướng dòng tiền tập trung vào một số cổ phiếu trụ, đáng chú ý là VIC, STB, LPB, VHM và NVL. Trong đó, STB thu hút sự quan tâm khi Sacombank bất ngờ bãi bỏ tờ trình gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập.
Theo kế hoạch, Sacombank sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông vào ngày mai, với nội dung đáng chú ý là bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2022-2026.
Hiện tại ông Dương Công Minh giữ chức Chủ tịch HĐQT, còn ông Nguyễn Đức Thụy đảm nhiệm vai trò Quyền Tổng giám đốc từ ngày 23/12/2025, sau khi hoàn tất chuyển giao vị trí Chủ tịch HĐQT tại LPBank và chính thức trở thành Tổng giám đốc Sacombank từ ngày 3/3.
Quay trở lại diễn biến chung, các cổ phiếu gây áp lực lên thị trường gồm FPT, VPB, MWG, SSI và PNJ.
Về giao dịch khối ngoại, nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng 677 tỷ đồng trên HoSE, tập trung tại các mã FPT, VCB, MSB, SSI và PNJ. Trong khi đó, lực mua ròng ghi nhận tại HPG, MSN, EIB và LPB.
Chính phủ ban hành Nghị định số 198 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ 20 đơn vị. Tuy nhiên, đơn vị này thực hiện việc đổi tên Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thành Vụ Tín dụng. Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính thành Vụ Dự báo, Thống kê.
Đồng thời Nghị định số 198 cũng bổ sung quy định "Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước" và thay đổi số lượng phòng thuộc các vụ.
Theo quy định mới, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ bao gồm: Vụ Chính sách tiền tệ; Vụ Thanh toán; Vụ Tín dụng; Vụ Dự báo, Thống kê; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Pháp chế; Vụ Tài chính - Kế toán; Vụ Tổ chức cán bộ; Văn phòng; Thanh tra Ngân hàng Nhà nước; Sở Giao dịch.
Các cục thuộc Ngân hàng Nhà nước gồm: Cục Công nghệ thông tin; Cục Phát hành và Kho quỹ; Cục Quản lý ngoại hối; Cục Phòng, chống rửa tiền; Cục Quản lý, Giám sát tổ chức tín dụng; Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Ngoài ra là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực (Ngân hàng Nhà nước khu vực); Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam và Thời báo Ngân hàng.
Ngoại trừ hai đơn vị gồm Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam và Thời báo Ngân hàng là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước, các đơn vị còn lại là tổ chức hành chính giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng ngân hàng trung ương.
Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước.
Hiện tại, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là ông Phạm Đức Ấn, thay bà Nguyễn Thị Hồng được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội hồi tháng 4. Các Phó Thống đốc đương nhiệm gồm các ông: Đoàn Thái Sơn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Thanh Hà, Phạm Quang Dũng, Nguyễn Ngọc Cảnh.
Công ty Chứng khoán VPS (HoSE: VCK) vừa công bố báo cáo tài chính quý 1-2026 với kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh, thiết lập mức lợi nhuận cao nhất theo quý từ trước đến nay.
Trong kỳ, tổng doanh thu hoạt động đạt 2.519 tỉ đồng, tăng 72% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng thêm 1.051 tỉ đồng so với quý 1-2025. Đây là mức doanh thu theo quý cao nhất của doanh nghiệp kể từ quý 4-2021.
Xét theo cơ cấu, doanh thu môi giới đạt 1.003 tỉ đồng, tăng 73% so với cùng kỳ; lãi từ hoạt động cho vay đạt 948 tỉ đồng, tăng 88,5%; lãi từ tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) đạt 393 tỉ đồng, tăng 75%.
Ngoài ra, công ty ghi nhận 58 tỉ đồng lãi từ tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS), trong khi cùng kỳ năm trước không phát sinh khoản mục này.
Chi phí hoạt động trong quý 1 tăng 72% lên 920 tỉ đồng, trong đó riêng chi phí môi giới chiếm 837 tỉ đồng, tăng 68%.
Sau khi trừ chi phí, VPS ghi nhận lợi nhuận trước thuế 1.547 tỉ đồng, tăng 68% so với quý 1-2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 1.235 tỉ đồng, tăng 67,8%, đều là mức cao nhất trong lịch sử hoạt động theo quý.
Năm 2026, VPS đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế 5.750 tỉ đồng. Như vậy sau quý đầu năm, công ty đã thực hiện khoảng 27% mục tiêu cả năm.
Trên thị trường, VPS tiếp tục dẫn đầu thị phần môi giới cổ phiếu trên HoSE với tỉ lệ 15,32%, tăng so với mức 14,28% của quý 4-2025, qua đó nới rộng khoảng cách với nhóm công ty xếp sau.
Tại thời điểm ngày 31-3-2026, tổng tài sản của VPS đạt 53.217 tỉ đồng, tăng 10% so với đầu năm.
Trong đó các khoản cho vay chiếm tỉ trọng lớn nhất với 30.407 tỉ đồng.
Riêng dư nợ cho vay ký quỹ (margin) đạt 29.979 tỉ đồng, tăng 36% so với đầu năm, trong khi cho vay ứng trước tiền bán đạt 428 tỉ đồng.
Ở phía nguồn vốn, nợ phải trả của công ty tăng 18% so với đầu năm, lên 23.120 tỉ đồng.
Tại thời điểm 31-3-2026, danh mục đầu tư cổ phiếu của VPS chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ, chưa đến 1% tổng giá trị danh mục FVTPL.
Cụ thể tổng thể, danh mục tài sản FVTPL của VPS có giá gốc 9.353,0 tỉ đồng và giá trị hợp lý 9.346,1 tỉ đồng, tương ứng lỗ khoảng 6,9 tỉ đồng (-0,07%) tại thời điểm cuối quý.
Cổ phiếu đăng ký giao dịch trên UPCoM có giá gốc khoảng 596 triệu đồng và giá trị hợp lý đạt khoảng 2,1 tỉ đồng, tương ứng tăng hơn 250%. Tương tự, cổ phiếu niêm yết có giá gốc 14,2 tỉ đồng và giá trị hợp lý 20 tỉ đồng, tương ứng tăng khoảng 41%.
Ở chiều ngược lại, các khoản đầu tư vào tài sản thu nhập cố định chiếm khoảng 84,6% danh mục, tương ứng 7.913,3 tỉ đồng tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi cùng 1.409,6 tỉ đồng trái phiếu. Các khoản mục này không ghi nhận chênh lệch đáng kể so với giá gốc.