Theo Sina, tài tử 63 tuổi thực hiện talkshow về đời tư, sự nghiệp, phỏng vấn ông là Jada – con của Lý Liên Kiệt và vợ hiện tại, Hoa hậu châu Á 1986 Lợi Trí. Ở tập đầu, cha con nói về những tin đồn kéo dài nhiều năm liên quan mối quan hệ giữa tài tử và hai con với vợ đầu tiên, Hoàng Thu Yến.
Hàng chục năm qua, Lý Liên Kiệt mang tiếng “bỏ bê, lạnh lùng” với các con gái Lý Tư và Lý Đài Mật. Ông cho biết ngay từ khi mới kết hôn, Lợi Trí nói sẽ thay ông gửi tiền cho con học tập. Bấy giờ, hai bé được mẹ và các anh chị của Lý Liên Kiệt chăm sóc.
Năm 1999, tài tử đăng ký kết hôn với Lợi Trí. Trên SMG Shanghai TV, diễn viên từng nói vợ sống khép kín, ít bạn bè, chỉ chăm lo cho chồng và con gái, không quan tâm tới trang sức, hàng hiệu. Sao hành động giao toàn bộ tài sản cho Lợi Trí quản lý, nghe lời vợ ở việc đầu tư, chi tiêu. Anh khen vợ dạy dỗ các con tốt, hai con gái không khiến vợ chồng anh phải lo lắng việc học hành. Con gái lớn – Jane – tốt nghiệp Đại học Harvard, tích cực tham gia các hoạt động xã hội.
Liên Kiệt sinh năm 1963 ở Bắc Kinh, học võ từ nhỏ. Từ năm 1975 đến 1979, diễn viên năm lần liên tiếp giành quán quân cuộc thi võ thuật toàn Trung Quốc. Năm 1980, ở tuổi 17, Lý Liên Kiệt nổi tiếng với phim Thiếu Lâm Tự, tiếp đó đóng chính trong hàng loạt phim võ thuật ăn khách như Hoàng Phi Hồng, Tiếu ngạo giang hồ, Anh hùng, Hoắc Nguyên Giáp, Tinh Võ anh hùng. Năm nay, ông tham gia một số phim ngắn chủ đề võ thuật.
Tin Gốc: Vnexpress

Tối 19/6, ông Đặng Trần Cường - Cục trưởng Điện ảnh - cho biết công văn được gửi đến các đơn vị sản xuất, phát hành phim. Theo đại diện Cục, gần đây, cơ quan quản lý đánh giá các phim kinh dị có xu hướng gia tăng đáng kể. Trong đó, một số tác phẩm tập trung quá mức vào các yếu tố bạo lực, máu me hoặc mê tín, giật gân.
Nhiều phim chưa đầu tư tương xứng cho chất lượng nghệ thuật, ngôn ngữ điện ảnh, chưa thể hiện được các giá trị nhân văn, thông điệp xã hội. Ngoài các phim Việt, nhiều phim nhập khẩu thuộc thể loại kinh dị cũng phải chỉnh sửa nội dung để phù hợp với quy định.
Cục đề nghị các đơn vị đề cao trách nhiệm xã hội, góp phần định hướng thẩm mỹ, đặc biệt với giới trẻ và các nhóm khán giả dễ bị tác động. Nhà sản xuất, phát hành cần cân đối, đa dạng về đề tài và thể loại, khuyến khích các tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật và tính nhân văn cao, phản ánh chân thực đời sống.
Cục Điện ảnh cũng kêu gọi các đơn vị ưu tiên những tác phẩm quảng bá lịch sử, văn hóa, thiên nhiên và con người Việt Nam; lan tỏa những câu chuyện tích cực, truyền cảm hứng về lòng yêu nước. Từ đó, góp phần bồi đắp niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước với thế hệ trẻ.
"Đối với phim Việt Nam và phim nước ngoài nhập khẩu, phát hành tại Việt Nam, cần cân nhắc thận trọng trong việc lựa chọn, khai thác và thể hiện các đề tài có yếu tố bạo lực, kinh dị, mê tín dị đoan hoặc các nội dung dễ gây tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi của người xem", công văn nêu.
Từ đầu năm đến nay, xu hướng làm phim kinh dị lên ngôi, lấn át thể loại khác, nhiều tác phẩm thắng lớn trên phòng vé. Dịp lễ 30/4 và 1/5, Phí phông, Heo năm móng - hai phim Việt lấy cảm hứng từ truyền thuyết linh dị - đều vượt mốc trăm tỷ đồng. Đầu tháng 6, Ma xó - phim có nghệ sĩ Hạnh Thúy, Lê Khánh, Tín Nguyễn tham gia - thu về 135 tỷ đồng, vào top phim kinh dị Việt có doanh thu cao nhất từ trước đến nay.
Theo đại diện Box Office Vietnam - đơn vị quan sát phòng vé độc lập, hiện top ba phim ăn khách nhất trong tuần đều thuộc đề tài tâm linh hoặc zombie, gồm Ma xó, Lầu chú Hỏa và phim Hàn Quốc Colony (Bầy xác sống). Tuy nhiên, đa số phim mắc lỗ hổng về kịch bản, lạm dụng chiêu trò hù dọa theo lối jumpscare hoặc cách xử lý cao trào còn rập khuôn, nhiều tình tiết thiếu hợp lý.
Tin Gốc: Vnexpress

"Ở đâu đó giữa tình yêu vĩnh cửu và tình bạn. Mừng bốn năm kết hôn", Son Ye Jin viết trên Instagram cá nhân, kèm theo hai bức ảnh cưới chưa từng công bố của vợ chồng cô hồi 31/3/2022.
Ngoài 2,5 triệu lượt thả tim, hình ảnh còn hút gần 42.000 bình luận. Phần lớn nghệ sĩ Hàn lẫn quốc tế chúc phúc, nói ngưỡng mộ chuyện tình Son Ye Jin - Hyun Bin.
Nhiều bình luận của người hâm mộ toàn cầu nhận lượng lớn sự đồng tình như: "Một trong những cặp phim giả tình thật nổi tiếng nhất Hàn Quốc", "Hiếm có cặp sao Hàn nào tương xứng cả ngoại hình, danh tiếng, tài năng, độ giàu có và khiêm tốn như anh chị", "Cuộc đời họ đẹp như thước phim lãng mạn", "Mỗi lần nhìn Son Ye Jin - Hyun Bin, tôi lại có niềm tin vào tình yêu, hôn nhân".
Son Ye Jin - Hyun Bin bén duyên sau hai lần đóng chung phim - Cuộc đàm phán sinh tử, Hạ cánh nơi anh. Họ kết hôn năm 2022, có một con trai. Mỗi lần xuất hiện, cặp sao luôn là tâm điểm chú ý của báo giới.
Dự giải Rồng Xanh cuối tháng 11/2025, Hyun Bin gây "sốt" với lời phát biểu: "Vợ tôi, Ye Jin, chỉ cần cô ấy hiện diện là đã đủ cho tôi sức mạnh".Tại Liên hoan phim Toronto 2024 ở Canada ngày 9/9, Hyun Bin nói biết ơn vợ vì luôn hiểu, khích lệ anh mọi việc. Trước đó, Son Ye Jin nhiều lần nói "si mê" chồng vì anh thẳng thắn, nhẹ nhàng, thư sinh, đáng tin cậy.
Son Ye Jin sinh năm 1982, tên thật Son Eon Jin, nổi tiếng ở tuổi 17 nhờ vẻ đẹp thánh thiện, đôi mắt đượm buồn, nụ cười tươi. Các đạo diễn nhận định cô phù hợp mẫu nhân vật chính hiền lành nhưng bất hạnh, thịnh hành cuối thập niên 1990, đầu 2000. Các phim Hương mùa hè, Tuyết tháng tư, Cô đơn trong tình yêu đưa Ye Jin lên hàng ngũ sao hạng A. Bước vào độ tuổi U40, cô vẫn gây "bão" với Và em sẽ đến, Chị đẹp mua cơm ngon cho tôi và Hạ cánh nơi anh.
Hyun Bin bằng tuổi vợ, tên thật Kim Tae Pyung, chạm ngõ màn ảnh năm 2003. Anh ghi dấu với loạt phim truyền hình Tôi là Kim Sam Soon, Nữ hoàng tuyết, Thế giới họ đang sống, Khu vườn bí mật.Ở mảng điện ảnh, tài tử tham gia nhiều dự án ăn khách như Mối tình đầu của triệu phú, Thu muộn, Nhiệm vụ tối mật, Dạ quỷ. Trước Son Ye Jin, anh từng công khai hẹn hò Hwang Ji Hyun (giai đoạn 2005-2007), Song Hye Kyo (2009-2011), Kang So Ra (2016-2017).
Như Anh
Nguồn: https://vnexpress.net/son-ye-jin-hyun-bin-ky-niem-4-nam-cuoi-5056978.html

Thomas Mann, trong Essays of Three Decades, viết: "Nhà văn là người thấy công việc viết lách khó hơn những người khác". Có lẽ vì vậy, những tiểu thuyết lớn thường không cho người đọc cảm giác tác giả đang cố viết hay. Người đọc không chú ý tới kỹ thuật hay tham vọng văn chương của tác giả, họ chỉ cảm thấy mình đang chạm vào một kinh nghiệm sống thật sự. Nhưng cũng có những cuốn sách để lại cảm giác ngược lại: Chúng ý thức quá nhiều về văn chương, quá nóng lòng nâng trải nghiệm thành ý nghĩa, quá vội vàng biến đau khổ thành cái đẹp. Thuyền của Nguyễn Đức Tùng, với tôi, thuộc trường hợp thứ hai.
Thuyền kể về một người đàn ông Việt lưu vong luôn bị ám ảnh bởi ký ức chiến tranh, hành trình vượt biên và đời sống tha hương sau 1975. Tiểu thuyết được dựng lại qua 55 "chương" hay "đoản khúc"- những mảnh hồi tưởng đứt đoạn về tuổi thơ, gia đình, tình yêu, cái chết và chuyến vượt biển đầy sợ hãi trên một con thuyền chở những con người tuyệt vọng đi tìm tự do, rồi cuối cùng là cảm giác "mất cội rễ" và liên tục sống trong sự giằng co giữa hiện tại và ký ức về Việt Nam.
Nguyễn Đức Tùng có một tham vọng tạo dựng một cuốn tiểu thuyết viết theo "văn học dòng ý thức". Cuốn tiểu thuyết nhiều lần tự ý thức về sự đổ vỡ của tự sự truyền thống. Nhân vật chính trong tiểu thuyết nói: "thời đại chúng ta thiếu mất cấu trúc của một câu chuyện kể". Tuy vậy, người ta thường hiểu sai về văn học dòng ý thức như một thứ tự do của văn chương. Cứ câu dài hơn, liên tưởng nhiều hơn, thời gian đảo lộn hơn thì tưởng rằng đã bước vào địa hạt của James Joyce hay Virginia Woolf. Nhưng văn học dòng ý thức thật ra không phải sự hỗn loạn. Nó có một trật tự khác, kín đáo hơn và khó phát hiện hơn, nơi cấu trúc không còn nằm ở chuỗi sự kiện mà nằm ở kỷ luật của ký ức. Một tác phẩm dòng ý thức lớn luôn có một lực hút xoáy bên trong. Những hình ảnh, hồi tưởng, liên tưởng tượng như tản mạn cuối cùng đều quay trở lại cùng một vùng tối. Người đọc có thể lạc trong thời gian, nhưng không lạc trong cảm xúc văn học.
Điều thú vị là dù mang tham vọng của "văn học dòng ý thức", Thuyền vẫn được tổ chức theo một hải trình rất quen của văn học vượt biển: Rời thành phố, bến mua, vượt biên, hải phận quốc tế, cướp biển, trại tị nạn, định cư, trở về. Một tiểu thuyết dòng ý thức dĩ nhiên vẫn có thể có cốt truyện rõ ràng và tuyến tính ở bề mặt. Nhưng khi phần khung sự kiện còn giữ trật tự ấy, phần nội tâm càng cần tạo ra một thời gian khác: Thời gian của ám ảnh, của ký ức luôn quay lại đúng một điểm đau không thoát ra nổi.
Trong Thuyền, cảm giác ấy khá mờ nhạt. Nguyễn Đức Tùng có cố tạo những kết nối giữa hiện tại và hồi ức: Cú ngã khi nghe điện thoại gợi lại cú ngã cũ trên tàu; cơn đau ở xương sườn kéo về những chiếc xương gãy năm nào. Nhưng những kết nối ấy nhiều khi dừng ở mức kỹ thuật hơn là trở thành áp lực nội tâm thật sự. Người đọc nhìn thấy quá khứ được gọi về, nhưng chưa thật sự cảm thấy nó đang xâm chiếm và làm lệch hiện tại của nhân vật.
Có lẽ vì văn học thuyền nhân đặc biệt cần một thứ thời gian nội tâm mạnh hơn thời gian sự kiện. Vượt biển không chỉ là một chuyến đi. Nó là một trải nghiệm kinh hoàng mà người ta vừa không thể quên vừa không muốn nhớ. Những người sống sót không mang ký ức như mang một câu chuyện đã kết thúc. Họ mang nó như một phần thân thể chưa lành.
Nhà tâm lý học Carl Rogers có câu nói nổi tiếng: "Cái gì càng cá nhân thì càng phổ quát" (what is most personal is most universal). Sau này, Martin Scorsese tiếp nối ý ấy bằng một biến thể khác: "Điều cá nhân nhất cũng là điều sáng tạo nhất" (what is the most personal is the most creative). Đó cũng là một nguyên lý đặc biệt của văn chương: Càng đi sâu vào cái riêng, tác phẩm càng có khả năng chạm tới nhiều người. Nhiều tiểu thuyết lớn hiếm khi bắt đầu từ những ý niệm lớn. Chúng thường bắt đầu bằng một chi tiết rất nhỏ nhưng không thể quên: Một người đàn bà lấy nước tiểu để dỗ con đỡ khát trên thuyền vượt biên, tiếng trực thăng bay ngang khiến một người đàn ông lưu vong nằm úp xuống sàn nhà giữa đêm. Hay cảm giác một thân thể không còn chịu nổi mùi nước biển nhiều năm sau khi đã đặt chân lên đất liền. Người đọc không xúc động vì nhà văn nói "đây là đau khổ". Họ xúc động khi nhìn thấy một con người cụ thể đang chịu đựng nỗi đau ấy. "Personal" vì thế không phải sự bộc bạch về cái tôi. Nó là độ sâu của kinh nghiệm. Một kinh nghiệm càng cụ thể, càng không thể thay thế, càng có khả năng chạm đến cái chung của nhân loại.
Văn học thuyền nhân đặc biệt cần điều đó. Đây là một bi kịch tập thể rất lớn, nhưng văn chương không thể chạm tới lịch sử chỉ bằng những khái niệm như "đau thương", "bạo lực", "mất mát". Nó phải đi qua một thân thể cụ thể, một nỗi đau cụ thể, một ký ức cụ thể. Hầu như tác phẩm nào viết về thuyền nhân cũng có một người đàn bà mất con trên biển. Một đứa trẻ sốt mê man dưới khoang tàu. Một người phụ nữ bị hãm hiếp. Nhiều người đàn ông bị giết. Một đứa trẻ nhiều năm sau vẫn không ngủ được vì tiếng sóng. Nhưng nếu như những bi kịch đã trở thành tập thể ấy không có cái cá nhân, lịch sử rất dễ biến thành phông nền cho suy tưởng.
Đọc Ru của Kim Thúy, The Boat của Nam Lê hay Biển San Hô, Puerto Princesa City của Trần Vũ, người ta thấy ký ức không đứng ngoài để được chiêm ngưỡng. Nó nhập vào thân thể. Nó thành cơn khát, thành đói, thành mặc cảm sống sót, thành những thương tích kéo dài sang cả đời sống lưu vong. Trong Ru, ký ức thuyền nhân được giữ lại qua những chi tiết rất nhỏ: Trẻ nhỏ, mùi dầu, bánh khô, không gian thuyền chật hẹp và một bé gái bị biển nuốt mất. Trong The Boat của Nam Lê người đọc nhớ một đứa trẻ chết đúng lúc nhìn thấy đất liền. Nhớ cơn khát. Nhớ cơn sốt. Nhớ những thân thể bị ép đến giới hạn cuối cùng của sống sót. Ở Pháo thuyền trên dòng Yang-Tse của Trần Vũ, người đọc nhớ khuôn mặt bị chém nát của Toàn, nhớ những vết sẹo, mắt hỏng, mũi biến dạng, một rãnh sẹo kéo qua môi xuống cằm. Chính độ cụ thể ấy làm truyện mở ra một cảm giác rất rộng về bi kịch, mất mát và lịch sử. Những chi tiết ấy không cố trở thành biểu tượng. Chính độ cụ thể và vật chất của chúng mở ra chiều kích phổ quát của bi kịch.
Vì thế, Thuyền tạo ra một nghịch lý khá buồn. Nó viết rất nhiều về cái tôi, nhưng chưa thật sự đủ "personal". Bởi vì ở những cảnh đáng lẽ phải cho người đọc cảm thấy sức nặng của đói khát, cướp biển, chết chóc, mất người yêu hay mất quê hương, cái tôi ấy luôn tự ý thức về chiều sâu của mình để diễn giải cảm xúc của mình bằng những liên tưởng đẹp và những suy tư lớn. Nhưng càng cố vươn tới cái chung của nhân loại, tiểu thuyết lại càng rời xa cái riêng không thể thay thế của kinh nghiệm thuyền nhân. Và khi cái riêng chưa đủ sâu, cái phổ quát thường chỉ còn là một tiếng vọng của ngôn từ. Như khi đang chạy trốn trong hoảng loạn, nhân vật nghĩ: "tình yêu của tôi là tình yêu đối với các chi tiết của sáng tạo và sự trở lại và gìn giữ cuộc đời, một cuộc đời thường xuyên làm bạn tan vỡ. Tôi lắng nghe đất thở... Có một dàn nhạc chơi đâu đó trong trời đất".
Vấn đề không nằm ở chỗ những câu ấy không "văn". Vấn đề nằm ở mối quan hệ giữa cái "văn" và nỗi đau. Trước bi kịch, Thuyền nhiều lần nghiêng về một mỹ cảm buồn đẹp, nơi ký ức vượt biển được làm dịu bằng những hình ảnh như người chết "lướt xuống biển như một con chim én", nước biển trở thành "những giọt lệ của mẹ tôi, tích tụ qua hàng nghìn năm", cho nhân vật nhìn người đánh cá cứu thuyền nhân rồi liên tưởng tới Ông già và biển cả, làm cho kinh nghiệm vượt biển dần rời khỏi cá nhân bi thảm của nó. Tình huống sinh tồn cụ thể liên tục bị kéo sang bình diện khái quát. Chính sự chuyển động quá nhanh từ kinh nghiệm cảm giác sang diễn giải tư tưởng làm cho hiện tại mất đi sức nặng nỗi đau của nó. Người đọc hiểu nhân vật đang nghĩ gì nhiều hơn cảm thấy nhân vật đang sợ hãi ra sao.
Có một khác biệt rất lớn giữa văn chương của ký ức và văn chương của tâm trạng. Ký ức chấn thương thường có tính độc đoán. Nó bắt con người quay đi quay lại cùng một vết thương cho đến khi mọi thứ khác mờ đi. Trong những tác phẩm dòng ý thức lớn, các chi tiết nhỏ luôn bị hút về cùng một vùng tối. Một tiếng nước. Một mùi tóc. Một bài hát. Một ánh đèn. Tất cả cuối cùng đều trở thành dấu vết của cùng một ám ảnh. Ý thức chấn thương hiếm khi hùng biện. Nó đứt đoạn. Nó quay vòng. Nó bị ám mãi bởi một chi tiết rất nhỏ không sao thoát ra được. Ở Trần Vũ, người đọc nhớ những khuôn mặt sẹo, những cơn mê sảng, những thân thể bị lịch sử làm biến dạng. Ở Nam Lê, người đọc nhớ cơn khát và cái chết sát đất liền.
So với kiểu dòng ý thức ấy, Thuyền có rất nhiều liên tưởng, nhưng các liên tưởng ấy chưa được tổ chức bởi một vết thương trung tâm đủ mạnh để tạo áp lực lên toàn bộ ý thức nhân vật. Vì vậy, dòng ý thức ở đây nhiều lúc không còn hiện ra như nhu cầu giải tỏa chấn thương, mà trở thành một hình thức tự trình diễn của ý thức. Ý thức trong Thuyền hiếm khi bị đời sống đánh bật khỏi khả năng diễn giải. Nó luôn còn đủ khoảng cách để ngắm nhìn chính mình, để tự bình luận về chiều sâu của mình. Những liên tưởng về âm nhạc, tôn giáo, Hemingway, Dostoevsky, mái trường Vạn Hạnh, tiếng hát Thái Thanh, nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Phạm Đình Chương, hay những suy tưởng về tự do, tình yêu, cái chết liên tục xuất hiện như những lớp trữ tình phủ lên ký ức vượt biển. Văn bản nhiều lần tạo cảm giác như đang muốn khẳng định chiều sâu tinh thần của cái tôi tự sự hơn là để kinh nghiệm tự phát lộ. Và khi điều đó xảy ra, dòng ý thức không còn hiện ra như hậu quả của chấn thương nữa. Nó trở thành phong cách.
Nhân vật Liên Hương là ví dụ rõ nhất cho giới hạn ấy. Nàng được đặt ở trung tâm ký ức của cuốn sách, nhưng càng về sau càng hiện ra như một hình bóng trữ tình hơn là một vết thương có khả năng tổ chức toàn bộ đời sống nội tâm nhân vật. Những câu hỏi lặp đi lặp lại như "anh sẽ nhớ em chứ", "anh có đến dự tang lễ của em không", "anh có giận em không" tạo dư vị buồn đẹp nhiều hơn cảm giác bị ám ảnh. Người đọc nhìn thấy nỗ lực giữ lại sự dịu dàng của một mối tình đã mất, nhưng cũng chính sự dịu dàng ấy làm cho ký ức mất đi phần dữ dội và độc đoán vốn có của chấn thương. Các người phụ nữ xuất hiện sau này - như Kyra "thật đẹp, thật dữ dội, thật hoang dại", hay Jen "cứ như vừa bước ra từ một cuốn tiểu thuyết của Virginia Woolf hay từ vườn Lục Xâm trong bài thơ của Cung Trầm Tưởng". Không hề có kết nối với vết thương từ cái chết của nàng, cho dù tác giả đã cố kết nối như trong giấc mơ của Kyra "thấy những người đàn bà bị rượt đuổi. Họ bị bắt. Bị tra tấn. Bị hãm hiếp". Bởi vậy, họ lần lượt đi qua đời nhân vật như những kinh nghiệm tình cảm riêng biệt (mà thực ra như Kyra nói "anh chỉ yêu thân xác của em thôi"), chứ không tạo cảm giác mọi mối quan hệ đều đang bị hút trở lại cùng một mất mát trung tâm trong quá khứ. Vì thế, Liên Hương cuối cùng hiện ra như một biểu tượng của nỗi buồn đẹp, hơn là một vết thương không thể thoát ra.
Một ví dụ đối lập có thể thấy trong Pháo thuyền trên dòng Yang-Tsé của Trần Vũ. Ở đó, dòng ý thức không vận hành như một chuỗi suy tưởng làm đẹp cái tôi, mà như sự trở lại cưỡng bức của chấn thương. Màn vải đen, tiếng đại vĩ cầm, khuôn mặt sẹo của Toàn, tia chớp, bộ phim Pháo thuyền, hình ảnh bào thai, máu, lưỡi lam, phòng tắm - tất cả không phải những hình ảnh được xâu lại vì chúng "đẹp". Chúng bị kéo vào cùng một trường ám ảnh: Hải tặc, thân thể bị hủy hoại, cưỡng bức. Đặc biệt, câu cuối "Chúng tôi còn ở Vũng Tàu hôm qua kia mà!" làm sập toàn bộ trật tự thời gian: Quá khứ trước vượt biên, biến cố trên biển và bạo lực trong hiện tại cùng hiện về như một khoảnh khắc duy nhất. Đó là dòng ý thức có kỷ luật: Rối ở bề mặt, nhưng bị tổ chức bởi một vết thương trung tâm.
Tuy vậy, nếu chỉ đọc Thuyền bằng mỹ học của chấn thương thân thể thì có lẽ cũng chưa hoàn toàn công bằng. Nguyễn Đức Tùng dường như không muốn giữ ký ức vượt biển ở trạng thái sắc lạnh như Trần Vũ. Ông muốn làm dịu nó bằng suy tưởng, bằng âm nhạc, bằng văn hóa, bằng những liên tưởng mang màu sắc cứu rỗi tinh thần. Và có lẽ, đó chính là giá trị riêng của Thuyền: Nỗ lực giữ ký ức vượt biển như một vấn đề tinh thần của người Việt sau 1975, không phải bằng tiếng kêu dữ dội mà bằng một giọng kể chậm, nhiều thương cảm. Nhưng nếu bỏ đi toàn bộ lớp mỹ cảm ấy, phần kinh nghiệm còn lại của cuốn sách lại khá mỏng, gần với một hải trình quen thuộc của văn học thuyền nhân. Vì thế, sự dịu dàng trong Thuyền nhiều khi không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ. Có lúc nó trở thành thứ "dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi", một lớp ánh sáng mềm phủ lên những phần đáng lẽ phải sắc, phải đau và thô ráp hơn của ký ức.
Tin Gốc: Vnexpress

