Phú Nam (TP HCM) bắt đầu làm video trên YouTube từ năm 2022 về ẩm thực và đời sống. Sau một video “viral” với hơn 200.000 lượt xem và một số video khác đạt vài chục nghìn lượt xem, anh được một MCN chủ động liên hệ qua email, đề nghị hỗ trợ sản xuất nội dung, tối ưu doanh thu và kết nối nhãn hàng.
“Lúc đó, tôi nghĩ đây là cơ hội để đi nhanh hơn vì một mình khó làm hết mọi thứ và lượng view cũng không như mong đợi”, anh kể.
Mọi thứ diễn ra thuận lợi khi lượt theo dõi tăng nhanh, video có quảng cáo đều đặn hơn và Nam cũng giảm nhiều công việc hậu trường nhờ đội ngũ hỗ trợ của MCN. Tuy nhiên, từ năm hợp tác thứ hai, anh nhận thấy vấn đề phát sinh, cho rằng tỷ lệ chia doanh thu không còn minh bạch như ban đầu, trong khi một số quyết định liên quan đến nội dung và quảng cáo phải thông qua MCN.
Phú Nam cho biết, có những hợp đồng nhãn hàng anh không muốn nhận nhưng vẫn bị “ép” vì KPI doanh thu. Khi kênh bị đánh bản quyền do tranh chấp nội dung, MCN “hỗ trợ hời hợt”, khiến quá trình xử lý kéo dài, doanh thu sụt giảm. Khi muốn chấm dứt hợp tác, anh tiếp tục gặp khó vì điều khoản hợp đồng ràng buộc thời hạn và quyền quản lý tài khoản.
Trong hệ sinh thái YouTube, đằng sau những nhà sáng tạo nội dung nổi tiếng với hàng triệu lượt theo dõi tồn tại một nhóm doanh nghiệp ít xuất hiện trước công chúng nhưng nắm quyền lực lớn ở hậu trường, đó là mạng đa kênh. Thuật ngữ “mạng đa kênh” do Jed Simmons, cựu nhân viên YouTube và đồng sáng lập Next New Networks (sau được Google thâu tóm), đặt ra, ban đầu được xem là từ thông dụng trong hệ sinh thái YouTube. Theo thời gian, cách gọi này cũng áp dụng trên các nền tảng khác như TikTok hay Shopee.
Sức mạnh MCN
Về cơ bản, MCN là đơn vị trung gian quản lý nhiều kênh YouTube cùng lúc. Họ ký hợp đồng với YouTuber hoặc chủ sở hữu nội dung để hỗ trợ phát triển kênh, xử lý bản quyền, tìm kiếm quảng cáo, kết nối thương hiệu và tối ưu doanh thu. Đổi lại, MCN nhận một phần doanh thu từ các kênh tham gia mạng lưới.
Cụ thể, YouTube cho phép một doanh nghiệp đăng ký thiết lập tài khoản MCN với Hệ thống quản lý nội dung (CMS), sử dụng Content ID để quản lý. Triển khai từ năm 2007, Content ID là hệ thống nhận dạng dấu vân tay kỹ thuật số do Google phát triển, giúp dễ dàng xác định và quản lý nội dung có bản quyền trên YouTube. Video tải lên YouTube được so sánh với các tệp âm thanh và video đã được chủ sở hữu đăng ký qua Content ID nhằm tìm kiếm sự trùng khớp. Chủ sở hữu có thể lựa chọn chặn nội dung trùng khớp hoặc kiếm tiền từ nó.
“Có thể xem Content ID sở hữu lá chắn’ bảo vệ bản quyền tối tân, giúp phát hiện bất cứ nội dung trùng khớp nào một cách tự động và thu hồi chúng”, một chuyên gia với hơn 7 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực MCN tại TP HCM cho biết.
Sau khi Google chấp thuận, công ty MCN sẽ thêm bất kỳ ai ký hợp đồng (kênh của nhà sáng tạo) vào CMS của mình, cho phép họ sử dụng các chính sách kiếm tiền, chặn và theo dõi. Tính năng kiếm tiền giúp video tạo ra doanh thu; còn tính năng chặn giúp ngăn truy cập vào video; và tính năng theo dõi cho phép chủ sở hữu nội dung xem phân tích về các video tải lên lại (re-up) và nội dung vi phạm bản quyền. Một số MCN có thể chặn video theo quốc gia, chẳng hạn video tải lên với logo bị cấm hoặc không có giấy phép ở thị trường đó.
Mô tả trên trang hỗ trợ Google, MCN giúp “loại bỏ rắc rối liên quan đến việc tìm kiếm cơ hội quảng cáo trên website”. Khi tham gia, mọi video của kênh thành viên sẽ tự động đưa vào hệ thống Content ID. Bất kỳ ai đăng lại nội dung mà không phép đều bị phát hiện, doanh thu được chuyển từ những video vi phạm về cho chủ sở hữu thực sự. Nhà quảng cáo cũng có thể làm việc qua MCN nhằm triển khai dịch vụ, đặt liên kết sản phẩm hay tài trợ trong chương trình để tăng cơ hội tiếp cận khán giả, khách hàng mục tiêu, lan tỏa danh tiếng.
Theo MediaCube, trong giai đoạn YouTube bùng nổ toàn cầu khoảng 2012-2018, MCN là “cánh tay phải” của nhà sáng tạo, thậm chí được xem là con đường duy nhất để chuyên nghiệp hóa công việc sáng tạo nội dung. Nhiều YouTuber nhỏ gần như không thể tiếp cận nhãn hàng hoặc hiểu rõ cơ chế vận hành của nền tảng nếu không thông qua MCN. Ở chiều ngược lại, một số MCN lớn trên thế giới phát triển thành “đế chế” truyền thông số với hàng nghìn kênh thành viên, quản lý lượng nội dung khổng lồ, sở hữu hàng tỷ lượt xem mỗi tháng và có tiếng nói đáng kể với nhãn hàng.
Sau năm 2020, vai trò MCN giảm dần khi YouTube triển khai hệ thống Creator Program YouTube (YPP), cho phép nhà sáng tạo tự kiếm tiền từ quảng cáo, nhận thanh toán trực tiếp, tự kết nối thương hiệu, phân tích dữ liệu bằng AI, tiếp cận tính năng hỗ trợ đặc biệt và nhận tài nguyên từ nền tảng. Điều này khiến một số MCN thu hẹp, tái cấu trúc hoặc bán mình, nhưng vẫn còn nhiều cái tên duy trì hoạt động.
Quyền lực “gậy” bản quyền
Nguồn thu chính của MCN đến từ chia sẻ doanh thu với nhà sáng tạo. Tùy theo thỏa thuận hợp đồng, MCN có thể nhận 10-50% doanh thu quảng cáo YouTube, kèm theo nhiều khoản phí khác như quản lý kênh, xây dựng thương hiệu hoặc phân phối nội dung. Ngoài tiền quảng cáo, MCN kiếm doanh thu qua hoạt động như hợp đồng tài trợ, quảng bá thương hiệu, đặt sản phẩm trong video, livestream thương mại, bán bản quyền, phân phối video đa nền tảng cũng như quản lý nghệ sĩ và người có tầm ảnh hưởng trên mạng.
Khi nắm trong tay mạng lưới hàng trăm kênh, MCN có lợi thế lớn trong việc làm việc với nhãn hàng. Thay vì ký kết với từng nhà sáng tạo riêng lẻ, thương hiệu chỉ cần hợp tác với MCN để triển khai chiến dịch diện rộng. Từ đó, nhiều MCN dần vận hành như công ty truyền thông và quảng cáo tổng hợp, thay vì chỉ đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật cho YouTube như trước.
Khi tham gia mạng lưới, nhà sáng tạo thường trao cho công ty một phần quyền quản lý kênh. Theo một chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông ở Đà Nẵng, trong giai đoạn hợp tác thuận lợi, cơ chế có thể giúp nhà sáng tạo và kênh của họ tiết kiệm thời gian, được hỗ trợ chuyên nghiệp. Tuy vậy, khi phát sinh mâu thuẫn, nhiều người gặp khó trong việc rời mạng lưới hoặc lấy lại quyền kiểm soát kênh.
“Tùy điều khoản hợp đồng, họ có thể can thiệp doanh thu, quản lý bản quyền, thay đổi trạng thái kiếm tiền, theo dõi dữ liệu vận hành, xử lý tranh chấp và kiểm soát nội dung nằm trong hệ thống của mình”, người này cho biết.
Thực tế, trên thế giới và ở Việt Nam từng xuất hiện những tranh cãi liên quan tới MCN. Trong đó, vấn đề chủ yếu xoay quanh việc giữ doanh thu kéo dài, hợp đồng thiếu minh bạch, chậm thanh toán, khóa quyền truy cập kênh, tranh chấp quyền sở hữu hoặc đánh bản quyền sai.
Tuy nhiên, điều khiến MCN trở thành mô hình gây tranh cãi không nằm ở việc chia doanh thu hay bán quảng cáo, mà ở quyền kiểm soát hệ thống CMS và Content ID. Công cụ này có thể tác động trực tiếp tới “sự sống còn” của một kênh YouTube thông qua hành động “claim”, hay trong lĩnh vực gọi là “đánh gậy” bản quyền, nhằm vào hàng loạt video để kiếm doanh thu quảng cáo, kể cả trong trường hợp quyền sở hữu nội dung chưa thực sự rõ ràng, thậm chí không có quyền khai thác.
Vấn đề này khiến Content ID, vốn được tạo ra để bảo vệ sở hữu trí tuệ, đôi lúc trở thành công cụ tạo áp lực trong các tranh chấp giữa công ty quản lý và nhà sáng tạo nội dung. Những năm qua, một số đơn vị sở hữu quyền truy cập CMS bị cáo buộc tận dụng Content ID “đánh gậy” bản quyền nhạc nền, âm thanh môi trường hoặc những đoạn video rất ngắn nhằm nhận doanh thu quảng cáo từ video của người khác.
YouTube cũng có cơ chế kháng cáo với kênh bị đánh bản quyền. Nếu chủ kênh không đồng ý với quyết định của Content ID, họ có thể điền vào đơn khiếu nại. Đơn được gửi đến bên sở hữu bản quyền – vốn có quyết định lớn nhất trừ khi tiến hành các hành động pháp lý. Nếu bên nhận báo cáo phủ nhận, kênh sẽ bị “đánh” một “gậy” đầu tiên. Nếu nhận ba cảnh cáo, kênh đó sẽ bị xóa khỏi nền tảng.
“Trên YouTube, chỉ một vài claim cũng có thể khiến doanh thu video bị chuyển sang bên khác gần như lập tức”, Đức Thắng, một nhà sáng tạo trên YouTube và TikTok, cho biết. “Trong khi đó, việc chứng minh, kháng cáo mất vài tuần đến vài tháng, và cũng chưa chắc thắng được MCN vốn có đội ngũ chuyên môn đứng sau”.
Các nhà sáng tạo nhỏ được đánh giá là nhóm dễ bị ảnh hưởng nhất. Nhiều người gặp tình trạng video bị “đánh gậy” dù tự sản xuất nội dung, doanh thu bị giữ trong thời gian dài, quy trình khiếu nại phức tạp hoặc không đủ hiểu biết pháp lý để theo đuổi tranh chấp. Trong nhiều trường hợp, họ bỏ qua thay vì khiếu nại, do lo ngại ảnh hưởng tới kênh hoặc không muốn mất thêm thời gian xử lý thủ tục với YouTube và bên claim bản quyền.
Luật sư Phan Vũ Tuấn, Trưởng văn phòng luật sư Phan Law Vietnam, cho biết trong nhiều năm làm việc về vấn đề bản quyền, ông chứng kiến “đủ chiêu trò của những người biến bản quyền số từ lá chắn thành dao” trên YouTube. Trong đó, bên cạnh việc “nhận vơ” những thứ không phải của mình, họ còn dùng MCN làm vũ khí.
“Họ dùng MCN để ‘đánh gậy’ lên hàng trăm, hàng nghìn video. Không cần tòa án. Không cần phán quyết. Chỉ một cú click, toàn bộ doanh thu của người khác chảy vào tài khoản họ”, ông Tuấn nói. Thậm chí, sau khi “đánh gậy”, chính các công ty này sẽ liên hệ phía nạn nhân để “thỏa thuận”, nếu không đồng ý sẽ tiếp tục claim cho đến khi kênh bị xóa, đồng nghĩa công sức của nhà sáng tạo biến mất. “Đây không phải bảo vệ bản quyền, mà là cưỡng đoạt có hệ thống”, ông nhấn mạnh.
YouTube từng nhiều lần điều chỉnh chính sách Content ID nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng. Tuy nhiên, với quy mô hàng triệu video tải lên mỗi ngày cùng hệ thống bản quyền vận hành toàn cầu, việc kiểm soát không dễ thực hiện.
Trong một số trường hợp, Content ID cũng hoạt động không hiệu quả. Năm 2015, trong hồ sơ gửi lên Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Mỹ, Universal Music Publishing Group (UMPG) ước tính công cụ này “không xác định được hơn 40% việc sử dụng tác phẩm của UMPG trên YouTube”. Google phản bác, nói Content ID phát hiện hơn 98% hành vi vi phạm bản quyền đã biết trên YouTube. Tháng 4/2019, kênh WatchMojo với hơn 20 triệu người đăng ký khi đó trích dẫn dữ liệu nghiên cứu 10 năm quản lý khiếu nại qua Content ID và nhận thấy, nhiều chủ sở hữu MCN thu lợi bất hợp pháp hơn hai tỷ USD giai đoạn 2014-2019. YouTube không bình luận về thông tin này.
Theo các chuyên gia, về bản chất, Content ID và MCN được tạo ra để bảo vệ bản quyền và giúp hệ sinh thái nội dung vận hành chuyên nghiệp hơn. Tuy nhiên, khi quyền quản lý nội dung, doanh thu tập trung vào một số đơn vị lớn, ranh giới giữa bảo vệ và lạm dụng công cụ trở nên mong manh, đặt ra vấn đề quản lý của cơ quan chức năng trong bối cảnh kinh tế sáng tạo phát triển mạnh.
Khi công bố trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Hà Nội năm ngoái, Qualcomm chủ yếu nhắc đến AI. Nhưng sau một năm, kế hoạch hiện mở rộng sang bán dẫn, IoT và điện toán biên. Chia sẻ với VnExpress, ông Thiều Phương Nam, Tổng giám đốc Qualcomm Việt Nam, Lào và Campuchia, cho rằng Việt Nam không còn chỉ là thị trường tiêu thụ công nghệ hay nơi gia công phần mềm, mà dần tham gia sâu hơn vào cuộc chơi công nghệ.
- Qualcomm từng nói trung tâm R&D tại Việt Nam sẽ tập trung vào AI, điều gì thúc đẩy hãng mở rộng kế hoạch sang nhiều lĩnh vực khác?
- Từ lần công bố gần nhất năm ngoái, chúng tôi nhanh chóng nhận ra cơ hội phát triển tại Việt Nam không chỉ nằm ở AI. Việt Nam còn có tiềm năng lớn trong các lĩnh vực như bán dẫn, phần mềm, kết nối và kỹ thuật hệ thống - những lĩnh vực ngày càng gắn chặt với AI.
Tốc độ phát triển của hệ sinh thái công nghệ Việt Nam cũng vượt xa kỳ vọng ban đầu. Chúng tôi nhìn thấy nhiều yếu tố tích cực ở Việt Nam như chất lượng nguồn nhân lực, sự trưởng thành của hệ sinh thái công nghệ cũng như mong muốn của Việt Nam trong việc tham gia sâu vào phát triển các công nghệ tiên tiến.
Một điểm khác là khả năng thích ứng của kỹ sư Việt Nam. Vì vậy, trung tâm R&D của Qualcomm tại Hà Nội không chỉ tập trung vào AI, mà còn mở rộng sang bán dẫn, công nghệ ôtô, Internet vạn vật (IoT) và điện toán biên.
- Kỹ sư Việt Nam có những phẩn chất gì khiến Qualcomm tự tin giao thêm mảng nghiên cứu?
- Điều khiến chúng tôi ấn tượng nhất là khả năng thích ứng và tinh thần học hỏi của kỹ sư Việt. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh, khả năng cập nhật kiến thức liên tục và làm việc linh hoạt giữa nhiều lĩnh vực quan trọng không kém nền tảng chuyên môn kỹ thuật.
Chúng tôi chứng kiến nhiều kỹ sư Việt Nam hòa nhập nhanh với môi trường R&D toàn cầu, tham gia vào các dự án ngày càng phức tạp liên quan đến AI, phần mềm, bán dẫn và kỹ thuật hệ thống. Một điểm mạnh của kỹ sư Việt là nền tảng toán học và kỹ thuật tốt, giúp họ nhanh chóng thích ứng và làm chủ các công nghệ phức tạp.
- Ông đánh giá khoảng cách và sự khác biệt giữa Việt Nam và các trung tâm công nghệ hàng đầu thế giới ra sao?
- Việt Nam đang dần khẳng định vị thế là một trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo ở khu vực Đông Nam Á. Điều chúng tôi nhìn thấy không chỉ là tiềm năng của hệ sinh thái, mà còn là chất lượng kỹ sư, năng lực phát triển phần mềm và khả năng tham gia sâu vào các hoạt động thiết kế kỹ thuật.
Việt Nam cũng có nhiều ưu tiên phát triển trùng với xu hướng công nghệ thế giới như AI, bán dẫn, kết nối tiên tiến và hạ tầng số. Tuy nhiên, để tiến xa hơn, Việt Nam cần nâng cao năng lực R&D, phát triển công nghệ lõi và tạo ra tài sản trí tuệ. Với tốc độ hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích chiến lược trong hệ sinh thái công nghệ.
- Đâu là mảng công nghệ Việt Nam có thể tạo ra sức ảnh hưởng tầm thế giới?
- Lĩnh vực chúng tôi đặc biệt tin tưởng ở Việt Nam là điện toán biên (edge computing), nơi AI được xử lý trực tiếp trên thiết bị và hệ thống, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điện toán đám mây. Đây là xu hướng thiết yếu với smartphone, ôtô, IoT công nghiệp, robot và hạ tầng số.
Bán dẫn và kết nối tiên tiến đang phát triển rất nhanh. Đây là những công nghệ nền tảng cho các hệ thống thông minh thế hệ mới. Khi AI ngày càng tích hợp sâu vào sản phẩm và hạ tầng, khả năng tối ưu đồng thời phần cứng, phần mềm và kết nối sẽ trở nên đặc biệt quan trọng.
Trong tương lai, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành mắt xích chiến lược trong hệ sinh thái điện toán thông minh, đặc biệt ở các lĩnh vực liên quan đến AI, bán dẫn và công nghệ kết nối.
- Việt Nam lâu nay được biết đến với vai trò gia công phần mềm, việc chuyển sang làm công nghệ lõi liệu có khả thi?
- Tôi tin mọi hệ sinh thái công nghệ đều trải qua quá trình phát triển như vậy. Trên thực tế, rất ít quốc gia có thể sáng tạo ra công nghệ lõi ngay từ đầu.
Điều khiến chúng tôi tin tưởng vào Việt Nam là chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật và tốc độ phát triển nhanh của hệ sinh thái công nghệ. Chúng tôi đã thấy các kỹ sư Việt Nam tham gia trực tiếp vào những dự án tiên tiến về AI, bán dẫn, thiết kế vi mạch và kỹ thuật hệ thống.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện có nhiều doanh nghiệp công nghệ đủ tiềm lực và tham vọng để phát triển các công nghệ có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Quan hệ hợp tác của chúng tôi với Viettel, VNPT và VinFast cho thấy doanh nghiệp Việt ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ.
Tuy nhiên, để phát triển công nghệ lõi cần sự kết nối chặt chẽ giữa trường học, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và hệ sinh thái công nghệ thực tế. Đó là lý do chúng tôi đang hợp tác với các trường đại học Việt Nam, tham gia vào việc kết nối các kỹ sư với đội ngũ R&D.
- Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ 10 công nghệ chiến lược. Theo ông cần làm gì để hiện thực hóa mục tiêu này?
- Đây là định hướng phù hợp với xu hướng công nghệ cũng như thế mạnh hiện nay của Việt Nam, trong bối cảnh các lĩnh vực như AI, 6G, bán dẫn và Open RAN đang ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Việt Nam hiện có nhiều doanh nghiệp công nghệ và đội ngũ kỹ sư giỏi. Minh chứng là trong dự án hợp tác giữa Qualcomm và Viettel về 5G Open RAN, họ là một trong những đối tác đầu tiên trên thế giới thương mại hóa và triển khai giải pháp ở quy mô lớn. Tương tự, VNPT cũng là một trong những đối tác đầu tiên đưa các sản phẩm tích hợp Wi-Fi 7 ra thị trường. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt có năng lực làm chủ và vận hành các công nghệ tiên tiến ở cấp độ cao.
Công nghệ là cuộc chơi toàn cầu. Vì vậy chỉ thành công trong nước chưa đủ. Các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam cần xây dựng tư duy mở và kết nối sâu hơn với các hệ sinh thái công nghệ quốc tế.
- Trong 5-10 năm tới, ông hình dung trung tâm R&D của Qualcomm tại Việt Nam đóng vai trò thế nào trong mạng lưới của tập đoàn?
- Chúng tôi kỳ vọng trung tâm R&D tại Việt Nam sẽ kết nối sâu hơn vào mạng lưới của Qualcomm. Mục tiêu không chỉ mở rộng quy mô nhân sự, mà còn xây dựng năng lực kỹ thuật đạt chuẩn thế giới ngay tại đây, đóng góp trực tiếp vào các thế hệ công nghệ tiếp theo.
Mỗi trung tâm kỹ thuật đều đóng góp những góc nhìn và bài toán thực tế khác nhau để định hình cách công nghệ phát triển và triển khai. Chúng tôi tin Việt Nam có thể đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình đó, đặc biệt ở các lĩnh vực như điện toán biên, AI trên thiết bị (on-device AI) và hệ thống kết nối.
Tôi mong sẽ nhìn thấy Việt Nam không chỉ trở thành thị trường công nghệ tiềm năng, mà còn là nơi tạo ra công nghệ và sở hữu năng lực kỹ thuật có ảnh hưởng toàn cầu.
Theo Interesting Engineering, vật liệu cách nhiệt mà nhóm nghiên cứu tạo ra cho pin lithium phổ biến trong xe điện (EV) có khả năng chịu nhiệt lên đến 1.300°C. Dựa trên tấm cách nhiệt silica aerogel, vật liệu mới được thiết kế nhằm hạn chế sự truyền nhiệt giữa các tế bào lithium-ion trong các sự cố quá nhiệt, một dạng hỏng hóc nghiêm trọng có thể dẫn đến cháy nổ.
Trong các tình huống quá nhiệt, chỉ cần một tế bào bị lỗi cũng có thể đạt nhiệt độ cực cao trong vài giây, gây ra phản ứng dây chuyền sang các tế bào liền kề. Lớp aerogel hoạt động như "một tường lửa" chịu nhiệt cao giúp ngăn chặn và làm chậm sự lan truyền nhiệt, tạo thêm thời gian cho các hệ thống an toàn phản ứng.
Các nhà nghiên cứu cho biết phương pháp này có thể tăng cường độ bền của bộ pin mà không làm tăng đáng kể trọng lượng, điều quan trọng khi các nhà sản xuất xe điện đang nỗ lực hướng tới mật độ năng lượng cao hơn và phạm vi hoạt động xa hơn. Trong các thử nghiệm, vật liệu mới cho thấy khả năng cách nhiệt kéo dài nhiều giờ. Một tấm aerogel dày 2,29 mm tiếp xúc với nhiệt độ 1.000°C trong 5 phút đã giữ cho bề mặt đối diện ở mức dưới 100°C, chứng tỏ khả năng cách nhiệt mạnh mẽ trong điều kiện khắc nghiệt.
Vật liệu mới nâng mức chịu nhiệt tối đa từ khoảng 650°C lên 1.300°C, phù hợp hơn với điều kiện hỏng hóc thực tế và cải thiện khả năng làm chậm hoặc ngăn chặn hiện tượng quá nhiệt. Cấu trúc siêu nhẹ với khoảng 99% là không khí giúp hạn chế dẫn nhiệt. Nhóm nghiên cứu đã củng cố mạng lưới bên trong và tinh chỉnh các điều kiện xúc tác trong quá trình tổng hợp, tạo ra một loại aerogel bền vững và chịu nhiệt tốt hơn.
Hiện vật liệu mới đã tiến từ giai đoạn phát triển thử nghiệm sang giai đoạn sản xuất quy mô công nghiệp, trở thành ứng cử viên khả thi cho các hệ thống pin thương mại. CATL, BYD, Sungrow và Xiaomi là các công ty quan tâm đến vật liệu này. Ngoài ra, vật liệu mới cũng phù hợp cho các lĩnh vực hàng không vũ trụ và môi trường công nghiệp nhiệt độ cao.
Khoảng 21h35 ngày 10/4 (8h35 ngày 11/4 giờ Hà Nội), Reid Wiseman, chỉ huy nhiệm vụ Artemis II, là người cuối cùng rời khỏi tàu. Tại Trung tâm Điều khiển Nhiệm vụ của NASA ở Houston, các nhân viên tập trung đông đủ và vỗ tay reo hò trước cột mốc lịch sử.
Theo NASA, các cuộc kiểm tra sức khỏe ban đầu đã hoàn tất và cả bốn phi hành gia đều cảm thấy rất tốt.
Tổng thống Mỹ Donald Trump chúc mừng Artemis II trong bài đăng trên mạng xã hội Truth Social, đồng thời mời họ đến thăm Nhà Trắng trong thời gian sớm nhất.
"Chúc mừng phi hành đoàn Artemis II vô cùng tài năng và tuyệt vời. Toàn bộ chuyến đi thật ngoạn mục, cuộc hạ cánh hoàn hảo và với tư cách là Tổng thống Mỹ, tôi không thể tự hào hơn. Tôi mong sớm gặp các bạn tại Nhà Trắng. Chúng ta sẽ làm lại điều này và tiếp theo là Sao Hỏa", ông viết.
Trên X, Thủ tướng Canada Mark Carney cũng chào mừng Hansen và phi hành đoàn trở về với "một thành tích lịch sử". Trong khi đó, Cơ quan Vũ trụ Canada (CSA) viết: "Jeremy Hansen và Artemis II đã quay về Trái Đất sau khi trở thành những người đầu tiên tới Mặt Trăng trong hơn 50 năm. Chào mừng trở về nhà, Jeremy".
Đến 8h50 (giờ Hà Nội), các trực thăng bắt đầu đưa từng phi hành gia khỏi thuyền cứu hộ. Mỗi người đeo một bộ dây đai đặc biệt để được kéo lên trực thăng cùng một chuyên gia cứu hộ.
Lúc 8h58, NASA thông báo toàn bộ bốn phi hành gia của sứ mệnh Artemis II đã được đưa lên tàu USS John P. Murtha an toàn. Cả bốn sẽ trải qua các cuộc kiểm tra y tế trên tàu, sau đó trở về bờ để lên máy bay đến Trung tâm Vũ trụ Johnson của NASA ở Houston.
Jeremy Hansen là người đầu tiên bước từ trực thăng đến phòng y tế, vẫy tay với nụ cười rạng rỡ, tiếp theo là Christina Koch và Victor Glover. Chỉ huy Reid Wiseman giơ ngón cái khi đi vào khu vực này.
Giám đốc NASA Jared Isaacman đã gặp từng thành viên, ôm và chúc mừng họ. Cả bốn phi hành gia đều tự đi bộ, dấu hiệu cho thấy cơ thể thích nghi và phục hồi tốt sau thời gian sống trong môi trường không trọng lực. Các nhân viên trên tàu đã chuẩn bị xe lăn nhưng không cần dùng đến.
Phó giám đốc NASA Amit Kshatriya cho biết, thành công của Artemis II đang mở đường cho những cơ hội khám phá không gian trong tương lai. Ông nói: "Chúng ta đã tiến một bước lớn để tới gần bề mặt Mặt Trăng hơn. Tôi nghĩ đường đến giờ đã rộng mở rồi".
Sứ mệnh 10 ngày của Artemis II
Tàu Orion chở phi hành đoàn Artemis II - gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA) - đáp thành công xuống vùng biển ngoài khơi San Diego sáng nay.
Nicky Fox, phó quản lý Ban chỉ đạo Nhiệm vụ Khoa học của NASA, cho biết quá trình tàu Orion tái nhập khí quyển diễn ra "hoàn hảo". "Cảnh tượng những chiếc dù bung ra, bầu trời xanh tuyệt đẹp và đại dương bao la bên dưới thực sự trông như thể bạn vừa nhẹ nhàng đặt một tách trà lên bàn vậy", bà nói với CNN.
Tàu Orion rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội) thực hiện nhiệm vụ có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn được ví "đại diện cho thế giới", khi lần đầu có phụ nữ, người da màu và thành viên không phải người Mỹ bay tới Mặt Trăng.
Artemis II cũng là chuyến bay có người lái đầu tiên của tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS) và tàu Orion. Rất nhiều công nghệ thử nghiệm trên tàu cũng lần đầu được sử dụng ngoài không gian như Hệ thống Liên lạc Quang học Orion Artemis II, sử dụng tia laser để gửi và nhận dữ liệu từ Trái Đất. Ngoài ra, tàu cũng trang bị nhà vệ sinh hoạt động đầy đủ đầu tiên trong chuyến bay tới Mặt Trăng.
Phi hành đoàn Artemis II ước tính đã di chuyển quãng đường 1.117.659 km trong toàn bộ hành trình vòng quanh Trái Đất và Mặt Trăng. Tổng thời gian bay ước tính là 9 ngày 1 giờ và 31 phút.
Điểm nhấn của nhiệm vụ là chuyến bay vòng qua phía sau Mặt Trăng ngày 6/4 (ngày 7/4 theo giờ Hà Nội), tới cách thiên thể này gần nhất 6.545 km. Trong chuyến bay, phi hành đoàn quan sát cảnh tượng Trái Đất lặn, Trái Đất mọc, nhật thực và nhiều cấu trúc trên bề mặt Mặt Trăng. Bên cạnh đó, họ cũng phá vỡ kỷ lục của Apollo 13 về khoảng cách xa Trái Đất nhất mà con người từng bay, thiết lập năm 1970. Cụ thể, Artemis II đã bay cách Trái Đất khoảng 406.771 km, xa hơn 6.616 km so với Apollo 13.
Nhiệm vụ được thiết kế như một bước đệm cho chương trình Artemis của NASA, hướng tới thiết lập sự hiện diện lâu dài của con người trên Mặt Trăng. Nhiệm vụ không người lái Artemis I diễn ra hồi tháng 11/2022, sau nhiều đợt hoãn và hủy phóng. Nếu không có vấn đề lớn nào phát sinh trong Artemis II, NASA sẽ thử nghiệm tàu Orion và các trạm đổ bộ Mặt Trăng trên quỹ đạo Trái Đất trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027. Cơ quan này đặt mục tiêu thực hiện chuyến đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên vào năm 2028 với nhiệm vụ Artemis IV. Đến thập niên 2030, NASA kỳ vọng bắt đầu phát triển các khu định cư, robot tự hành và trạm đổ bộ chở hàng, hướng đến thiết lập sự hiện diện bền vững trên bề mặt Mặt Trăng.